Chapter Text
Kỷ niệm 50 năm ngày đất nước thống nhất.
Sài Gòn sáng nay trời trong vắt, nắng phủ đầy mái ngói cũ như mật ong chảy chậm trên từng vạt tường. Gió tháng Tư lùa qua khe cửa sổ, thổi tung sắc đỏ cờ hoa đang phủ kín thành phố. Tiếng loa phường vang vọng từ đầu ngõ: "Kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước..."
Trong căn nhà nhỏ cuối con hẻm cũ, ông cụ vừa rót nước trà, vừa dọn lại bàn thờ tổ tiên. Không khí ngày lễ vẫn luôn khiến lòng ông xao động - có điều gì đó thổn thức trong lồng ngực mỗi khi tháng Tư về. Những ký ức cũ lại cựa mình trở dậy như tro tàn còn âm ỉ cháy.
Căn nhà nhỏ hôm nay có khách.
Đám cháu họ của ông đến chơi. Mấy đứa trẻ con lon ton chạy quanh nhà, mang đến bầu không khí tươi mới, rộn ràng cho không gian vẫn thường tịch mịch. Ăn cơm trưa xong, ba đứa lén lút lục tủ sách của ông. Không phải vì nghịch ngợm, mà vì tò mò. Trong ngăn kéo dưới cùng của chiếc tủ gỗ đã phai màu thời gian, Nam, thằng cháu thứ hai của ông, tình cờ phát hiện một hộp thiếc nhỏ, bên trong là một tấm ảnh cũ, được ép nhựa kỹ lưỡng, nằm lặng lẽ trên lớp vải điều đỏ đã bạc màu.
- A, kho báu nè! - Khánh thốt lên.
Ba đứa trẻ chụm đầu vào nhìn bức ảnh Nam vừa lấy ra trong hộp.
Tấm ảnh đen trắng với màu ảnh đã ngả vàng nhuốm màu thời gian. Trong ảnh có hai người trẻ tuổi đứng cạnh nhau: một người cao lớn, mặc chiếc áo sơ mi xắn đến khuỷu tay, trên cổ là chiếc khăn rằn vắt ngang, ánh mắt hiền lành, đôi môi mỉm cười rất nhẹ; người còn lại thấp bé hơn, mặc quân phục, trên đầu đội mũ tai bèo, nét mặt trẻ trung nhưng rắn rỏi, đặc biệt là nụ cười tươi tắn lộ rõ chiếc răng khểnh và lúm đồng tiền, trông vô cùng ấm áp.
Ông cụ từ trong nhà bước ra, hỏi mấy đứa có đang quậy phá gì không đó, thằng Phúc, anh cả trong ba đứa chạy đến, mang theo tấm ảnh, ngẩng đầu chỉ vào người cao lớn bên trái hỏi:
- Ông ơi, đây là ông ạ?
Ông cụ đang lau tay, quay sang nhìn thoáng qua rồi mỉm cười trả lời:
- Ừ đúng rồi. Ảnh chụp lâu vậy rồi mà Phúc vẫn nhận ra ông, giỏi quá.
Thằng Phúc được khen thì ngượng nghịu gãi đầu cười hì hì. Thằng Nam cũng tò mò ngóc đầu sang nhìn, sau đó chỉ vào người bên cạnh, hỏi:
- Vậy đây là ai thế ạ? Đẹp trai quá!
Ông ngẩng lên, đôi mắt đã có phần mờ đục vì tuổi tác vẫn dừng lại rất lâu trên bức ảnh. Ông mỉm cười, bàn tay gầy guộc chạm nhẹ vào tấm ảnh như sợ nó tan biến đi trong khoảnh khắc.
Một lúc lâu sau, ông mới trả lời, giọng trầm và nhẹ như gió:
- Là người ông nể phục nhất, cũng là người ông yêu thương nhất trong cuộc đời này.
- Là... bạn thân của ông cậu hả? - Khánh hỏi.
- Ông kể về người ấy đi ông! - Cả ba đứa trẻ nhao nhao lên, hứng thú với câu chuyện về chàng trai trong tấm ảnh của ông mình.
Ông Trung mỉm cười, không vội trả lời. Ông đưa tay cầm lại bức ảnh, ngón tay chai sạn run nhẹ khi lướt qua gương mặt của người lính trẻ trong bộ quân phục thân quen. Một lúc sau, ông ngẩng lên, ánh mắt xa xăm, trên môi vẫn là nụ cười dịu dàng, ông hỏi:
- Mấy đứa muốn nghe à?
- Dạ, muốn, muốn! - Ba tiếng nói con trẻ reo lên, phấn khích kéo ghế cho ông ngồi trước hiên rồi quây lại xung quanh, ngồi ngay ngắn chờ ông kể chuyện.
Ngoài sân, hoa giấy rụng lả tả, trời xanh biếc chẳng gợn một bóng mây, cơn gió hẹ ghé quá khẽ lay động tàng cây như thể cũng đang háo hức muốn nghe cùng tụi nhỏ. Trong không khí thơm mùi trà và tiếng ve kêu râm ran đầu hạ, một câu chuyện cũ đang dần được mở ra — bằng giọng kể của người đàn ông đã trải qua nửa thế kỷ gìn giữ một bức ảnh và một cái tên khắc sâu trong tim. Dường như trong khoảnh khắc đó, ông không còn ngồi giữa gian nhà nhỏ nơi Sài Gòn hoa lệ nữa, mà đang trở về một vùng rừng núi mịt mù khói lửa, nơi có tiếng bom rền, tiếng pháo gầm và những đôi mắt rực sáng đầy sức sống…
- Khi đó là mùa hè năm 1972…
Thanh Duy vào làng như thường lệ, vừa là thăm hỏi bà con dân làng, vừa để xem tình hình mấy đồng đội hôm qua bị thương sau trận bom của địch, may mà không có thương vong quá nặng. Những người dân ở cái đất Quảng Bình này chân chất, thân thiện, yêu thương bộ đội bọn anh như con cái trong nhà, có chuyện gì cũng giúp đỡ, có nắm cơm, con cá cũng để phần bọn anh, lo bọn anh chiến đấu trong cảnh màn trời chiếu đất thiếu ăn thiếu mặc, gian khó đủ đường. Chính vì vậy anh cũng rất yêu mến ngôi làng nhỏ này, từ lâu đã coi những con người nơi đây như gia đình thứ hai của mình vậy. Anh chào tạm biệt dân làng, từ chối khéo mấy món đồ bà con dúi đến tận tay, bởi anh biết người dân ở đây họ cũng đói, cũng khổ chứ có hơn gì bọn anh đâu. Ít ra bọn anh còn có quân lương.
Xốc lại khẩu súng trường trên vai, Thanh Duy thong thả rời làng, vừa đi vừa khẽ ngân nga mấy câu hát vu vơ chẳng biết tên. Ngôi làng được bao quanh bởi rừng rậm, đường từ làng đến trận địa của Đại đội không xa. Nói là trận địa nghe có vẻ oai lắm, nhưng thật ra cũng chỉ là mấy khẩu pháo 37 ly được bà con cho mượn mấy mẫu ruộng khô cằn để bố trí. Bà con nói ngày Mỹ nó thả bom mấy bận, đất ruộng hỏng hết cả rồi còn gì đâu mà giữ. Những lời xót xa ấy lại được những người nông dân chân chất cả đời sống với ruộng đồng thốt ra một cách thản nhiên, không khỏi khiến người ta cay xè khóe mắt. Chiến tranh quá khốc liệt.
Đang đi trên con đường làng, bỗng bên phía bìa rừng có tiếng động, không lớn nhưng với tính cảnh giác được trui rèn qua năm tháng cùng thính giác nhạy bén, Thanh Duy ngay lập tức nắm lấy khẩu súng của mình, chĩa về nguồn cơn phát ra tiếng động:
- Ai?
Không một câu trả lời. Nhưng cũng không thể lơ là được, đây là khu vực nhạy cảm. Nghĩ vậy, anh chậm rãi tiến về phía rừng, cẩn thận dùng mũi súng vạch ra từng đám lá rừng, ngón trỏ đặt sẵn nơi cò súng, sẵn sàng nổ súng nếu có nguy hiểm. Đi vào sâu một đoạn, vẫn không có kẻ khả nghi nào, cũng chẳng có thêm động tĩnh, Thanh Duy mới để bản thân được thả lỏng một chút, có lẽ là con thú rừng nào đó mà thôi. Vừa toan quay trở lại, một thứ gì đó lướt qua nơi khóe mắt khiến sự cảnh giác trong anh lần nữa trỗi dậy mạnh mẽ. Anh quay phắt đầu lại, chĩa súng về thứ kia, da đầu hơi tê tê khi nhìn thấy một thân người nằm ngay gốc cây dương cạnh đó, là một người đàn ông với chiếc áo sơ mi trắng ố vàng nhuốm máu đã đen sậm lại do ô xi hóa đang nằm úp sấp trên mặt đất. Anh lại gần, đã thôi không cảnh giác khi thấy rõ tình trạng của người đang nằm trên đất. Người này còn sống, nhưng có khi cũng sắp chết rồi. Người đàn ông thương tích đầy mình, chân dường như cũng bị gãy rồi. Thanh Duy ngồi xổm xuống bên cạnh, lấy tay ấn đầu người đàn ông để nhìn mặt, gương mặt có chút hốc hác lộ rõ góc cạnh, tóc và râu mọc lỉa chỉa bờm xờm nhưng chắc chắn là đồng bào mình rồi.
- C…cứ..u t..ôi… - người đàn ông với đôi mắt nhắm nghiền khẽ rên lên.
- Chậc, không hiểu sao ra nông nỗi này. Cái gì đây?
Lúc này anh mới để ý bên cạnh người đàn ông còn có một cái túi vải, lục lọi một hồi, ngoài bộ quần áo với một đống máy móc mà anh chẳng biết là cái gì cùng chiếc máy ảnh và một chiếc ví thì chẳng còn gì nữa. Phóng viên à? Sau một hồi băn khoăn, Thanh Duy vẫn quyết định dìu người đàn ông này về trận địa, cứ đưa về rồi tính tiếp.
Bảo Trung tỉnh lại ở một nơi xa lạ, đầu anh đau nhức như búa bổ, tầm nhìn cũng nhòe nhoẹt, phải mất một lúc mới định hình được bản thân đang ở trong một ngôi nhà tranh. À không, nói đúng hơn là một cái lán được dựng lên một cách tạm bợ, vách bằng lá, phía trước được phủ lên bởi một tấm phên, cũng miễn cưỡng che được nắng gió. Anh ngồi dậy một cách chật vật, khắp người đau như bị xe cán qua. Có tiếng động phía ngoài lán, anh ngước đầu lên, chạm vào đôi mắt tò mò của một cái đầu be bé. Đứa trẻ hoảng hốt rụt đầu lại, sau đó anh nghe tiếng hô vọng về:
- Ba ơi, người rừng tỉnh dậy rồi!
Người rừng? Là đang nói mình hả? Bảo Trung vẫn không hiểu chuyện gì đang diễn ra. Chẳng bao lâu sau, anh thấy trước lán tập trung một đám người, nhìn ai nấy có vẻ là nông dân bình thường, điểm chung là đều hiếu kỳ, bàn tán xì xào về anh. Một lúc sau, mọi người chợt tản sang hai bên, một người thanh niên trẻ mặc áo bộ đội, trên đầu đội mũ sắt bước vào trong lán. Bên ngoài có hai người khác cũng mặc trang phục tương tự có vẻ đang trấn an bà con. Cậu thanh niên kia vừa vào đã hỏi anh, giọng nói mang theo vẻ nghiêm nghị thường thấy trong quân ngũ:
- Anh là ai? Anh không phải người ở đây, tại sao lại bị thương rồi ngất trong rừng vậy?
Bảo Trung khẽ nhắm mắt, ký ức của anh lúc này có chút mơ hồ, hình ảnh con sông Thạch Hãn lại hiện rõ mồn một trong tâm trí, tựa như thước phim quay chậm. Tiếng sóng vỗ, tiếng đạn bom vang vọng không gian cùng tiếng rên xiết của những thương binh… tất cả hòa vào nhau thành một bản giao hưởng chết chóc mà anh không bao giờ quên.
Anh là một phóng viên của báo Thanh Niên đang làm nhiệm vụ tác nghiệp ở chiến trường Quảng Trị, nơi chiến sự đang diễn ra căng thẳng và khốc liệt nhất. Lúc đó, anh nhận được lệnh phải gấp rút mang tư liệu ảnh và bản thảo ra Hà Nội. Nhưng anh đâu thể bỏ mặc những người lính bị thương đang vật lộn với dòng nước xiết. Nước sông đỏ ngầu, không phải phù sa, mà là máu…
Giọng kể của anh có chút chùng xuống, nặng chĩu.
- Chúng tôi cố gắng đưa từng người qua sông. Mỗi lần vớt được một đồng chí lên chiếc bè nan là một lần trái tim tôi thắt lại. Họ kiệt sức, nhiều người đã không còn tỉnh táo.
Khi chiếc bè nan đến gần bờ bên phía quân giải phóng đóng quân, một tiếng nổ kinh hoàng xé toạc không trung. Là bom B52. Đất trời như rung chuyển, hất tung mọi thứ. Anh bị hất văng xuống nước, đầu óc quay cuồng không rõ phương hướng. Khi cố gắng bò lên bờ, một cảm giác đau nhói lan ra từ chân khiến anh ngã quỵ. Mảnh bom găm sâu vào đầu gối, máu tuôn xối xả.
Vết thương không rõ có nặng hay không nhưng lúc đó chỉ biết đi tiếp thôi. Anh phải ra Hà Nội càng nhanh càng tốt. Anh nhớ lại cảnh chiếc xe tải chở đầy những thương binh và đạn dược lướt qua. Anh cố gắng bám theo, lên được xe. Suốt chặng đường, cơn sốt hành hạ, vết thương bắt đầu mưng mủ, sưng tấy và đau nhức. Anh biết bản thân không thể đi tiếp.
- Tôi không thể làm chậm trễ chuyến xe. Những tài liệu ấy còn quan trọng hơn cả mạng sống của tôi lúc đó.
Anh cắn răng, đề nghị xuống xe, tay run rẩy đưa tập tài liệu và cuốn phim được gói kỹ càng cho người tài xế.
- Anh ấy tốt bụng lắm, chỉ đường cho tôi đến Đại đội pháo binh bảo vệ phà Xuân Sơn cách đó không xa, nói với tôi ở đó có thể dưỡng thương.
Nhưng cơn sốt đã làm đầu óc anh mê man. Chân đau nhức, tê dại, những bước đi của anh loạng choạng, không vững, mất phương hướng. Cảnh vật xung quanh dần mờ ảo, nhập nhoạng. Anh cứ thế bước đi, cho đến khi không còn nhận ra đâu là lối đi nữa…
Bảo Trung tường thuật lại cho cậu lính trước mặt, cậu ta liền nhíu mày hỏi lại:
- Anh là phóng viên hả, giấy tờ của anh đâu rồi?
Lúc này anh mới nhớ ra, cái túi của mình chẳng biết mất đâu rồi, cứ loay hoay tìm kiếm xung quanh. Cậu thanh niên bấy giờ mới lấy ra cái túi vải bẩn thỉu không còn nhận ra hình dáng ban đầu.
- Túi đồ của anh tôi có kiểm tra qua, không thấy thẻ nhà báo. Anh còn giữ không?
- Tôi để trong ngăn phụ của túi. Để tôi lấy.
Cậu thanh niên trả lại cái túi cho Bảo Trung, anh lục lọi một hồi rồi lấy ra giấy tờ giới thiệu cùng thẻ nhà báo của mình, đưa cho anh lính. Cậu lính cầm lấy thẻ, đăm chiêu một hồi rồi hỏi:
- Anh là Bảo Trung? Quê Kiên Giang?
- Vâng. - Cảm thấy đồng chí trước mặt có vẻ vẫn đang thăm dò, anh nói thêm - Các cậu có thể giúp tôi đánh điện về tòa soạn được không?.
- Được rồi. Tạm vậy đã. Vết thương của anh không đáng ngại, chủ yếu là mảnh bom găm vào xương bánh chè, bị gãy xương, với lâu rồi không ăn uống đầy đủ, bị kiệt sức thôi. Chân của anh quân y chỗ chúng tôi đã nắn xương và nẹp cố định, tạm thời anh cứ ở đây, tôi sẽ giúp anh liên hệ với tòa soạn. Đồ của anh, anh cứ giữ lấy. Quân y của chúng tôi gần đây khá bận rộn, chúng tôi có nhiều thương binh đang cần chăm sóc. Ở đây có đồng chí Huy, cậu ấy sẽ ở với anh mấy hôm, anh cần gì cứ nói với cậu ấy. - Cậu lính trả lại giấy tờ cho Bảo Trung rồi nói, vẫn giọng điệu đều đều không có mấy cảm xúc.
- Vâng, cảm ơn đồng chí.
Sau đó, cậu lính trẻ rời đi, bà con xung quanh thì vẫn nán lại một lúc, nhìn anh bằng ánh mắt tò mò khiến Bảo Trung chỉ biết cười khổ.
Bảo Trung đã ở đây được một tuần. Các đồng chí bộ đội đã giúp anh đánh điện về tòa soạn, anh cũng đã có thể đi lại xung quanh. Người dân ở đây cũng dần quen với sự hiện diện của anh, họ thân thiện, hòa đồng, coi anh như khách đến chơi nhà. Cái chân của anh cũng khá khẩm hơn đôi chút, nhưng vẫn cần dùng nạng để di chuyển đây đó, cái này cũng phải nhờ bà con trong làng cho mượn cái nạng gỗ tự làm có phần sứt sẹo, nhưng được vậy cũng đã quý lắm rồi. Qua hỏi han, Bảo Trung cũng dần hiểu ra được, đây là làng Bàu, gần sông Gianh, ở đây có một Đại đội pháo phòng không của quân giải phóng đóng quân, nghe nói là để bảo vệ bến phà Xuân Sơn cách đó tầm năm cây số. Bà con ở đây cũng thương các anh bộ đội vất vả, cho mượn mấy mẫu ruộng cũ để làm trận địa, thỉnh thoảng cũng giúp các anh cấp cứu cho thương bệnh binh. Tình quân dân thắm thiết.
Bảo Trung lúc này đang ngồi trong lán, kiểm đếm số phim còn lại và tình hình của chiếc Leica yêu quý. Vẫn còn may người bị thương nhưng máy ảnh và phim thì vẫn còn nguyên vẹn, bằng không anh sẽ tiếc đến chết mất. Phim vẫn còn tầm năm cuộn, may mà trước đó anh đã mang theo đồ sơ cua.
- Duy lại đến đấy hả con?
Tiếng nói của cụ Năm vang lên bên ngoài khiến anh chú ý. Anh cẩn thận cất đồ vào trong túi, vớ lấy cái nạng ở đầu giường, khập khiễng đi ra cửa. Anh thấy cụ Năm, ông cụ già nhất làng, đang lọm khọm chống gậy đứng nói chuyện với một anh lính, là người hôm nọ đã nói chuyện với anh. Đã một tuần trời anh không gặp cậu ta, chân chưa khỏi hẳn, phạm vi hoạt động của anh cũng quanh quẩn trong làng, từ sau khi anh tỉnh táo lại, cậu binh nhì tên Huy kia cũng không cần trông nom anh nữa, từ đó cũng chẳng thấy xuất hiện, anh cũng chưa hồi phục, lúc tỉnh lúc mê chẳng nói với cậu ta được mấy câu. Lúc này Bảo Trung mới nhìn rõ được mặt của cậu lính hôm trước, cậu Duy. Duy có vóc người nhỏ nhắn, thấp hơn anh hơn nửa cái đầu, làn da hơi sạm đi vì phải phơi nắng phơi sương cả ngày, gương mặt điển trai trẻ măng trông mới chỉ mười tám đôi mươi với mái tóc được cắt ngắn ba phân hơi lởm chởm. Trẻ như vậy chắc cũng tầm binh nhất hay hạ sĩ quan là cùng. Khổ thân , mới còn trẻ như vậy đã phải lăn lộn nơi chiến trường khói lửa thế này. Cậu lính trẻ lúc này đang vừa dìu cụ Năm, vừa tươi cười nói chuyện với cụ, lộ ra chiếc lúm đồng tiền duyên dáng cùng chiếc răng khểnh đáng yêu, chẳng giống cái người hôm trước còn hoạnh họe anh gì cả. Cậu lính tên Duy vừa lúc ngước đầu lên liền chạm mắt với Bảo Trung, cậu ngẩn ra một chút, sau đó khẽ nhíu mày, nói tạm biệt với cụ Năm rồi tiến về phía anh.
- Anh Trung, anh đã khỏe hơn chưa? - Duy lên tiếng hỏi thăm.
- Tôi khỏe hơn nhiều rồi, cảm ơn đồng chí. Đồng chí đến thăm bà con à?
- Ừm, tiện đến thăm mấy anh em bị thương hôm rồi. Anh khỏe lên là tốt. Không người ta lại bảo bộ đội chúng tôi ngược đãi nhà báo - Duy trêu chọc khiến Bảo Trung có chút ngơ ngẩn, không ngờ người này cũng biết đùa như vậy - Chân cẳng sao rồi?
- Vẫn còn phế lắm, không có nạng thì không đi đâu được. Chắc có khi què rồi cũng nên.
- Không què được đâu, trước tôi còn bị nặng hơn nhiều, vẫn nhảy nhót chán. Thôi anh giữ sức khỏe nhé, tôi về đơn vị đây.
- Vâng, cảm ơn đồng chí quan tâm.
Duy gật đầu chào anh, rồi quay đi, được một đoạn, cậu quay lại, lưỡng lự một chút rồi nói:
- Ờm, khi nào rảnh anh cạo tỉa râu tóc đi, trẻ con nó thấy nó sợ.
- Không có dao cạo, với không có gì soi, tôi sợ cắt vào mặt lắm, hỏng hết cái mặt tiền thì tôi thành Chí Phèo mất. - Bảo Trung trả lời, giọng điệu mang theo chút hài hước.
-...Ừm.
Duy không nói thêm gì, gật đầu chào rồi bỏ đi.
Ngày hôm sau, Duy lại đến lán. Lần này, cậu lính trẻ mang theo chiếc dao cạo. Bảo Trung không ngờ tới cậu lại để ý lời trêu chọc của anh như vậy. Duy đỡ anh ngồi lên ghế, sau đó chuyên chú cắt tóc cho anh. Những ngón tay mảnh dài với những vết chai sần luồn vào tóc, chạm vào da đầu khiến anh thấy nhồn nhột. Bảo Trung lại giở giọng hài hước:
- Tôi không cạo đầu ba phân như các đồng chí đâu nhé.
- Biết rồi, tôi cắt tỉa chút cho đỡ bờm xờm thôi còn thấy đường.
- Đừng cạo hết râu, để cho tôi chút ria mép với.
- Anh lắm chuyện thế? Để làm gì? Trông già chết.
- Già một chút trông nó mới có uy.
- Rách việc! Đấy xong rồi đấy. Anh ngắm xem được chưa.
Nói rồi, Duy bỏ dao cạo xuống, từ đâu lấy ra cái gương đồng có khung bằng kim loại, Bảo Trung đoán được gò từ xác máy bay. Anh hơi ngạc nhiên vì một cậu lính lại có thứ đồ này, liền hỏi:
- Quân nhu của các đồng chí cũng được cấp gương à?
- Vớ vẩn. Cái này của mấy cô thanh niên xung phong cho đó. - Duy nói, có vẻ hơi ngượng.
Á à, ra là tín vật cô nào tặng. Trông thế mà đáo để gớm.
- Anh Duy ơi, anh Kiên gọi anh về đội, gấp lắm!
Tiếng cái Hương hô vang ở bên ngoài, cậu lính trẻ vội vàng vớ lấy cái dao cạo, chào Bảo Trung rồi chạy như bay ra ngoài, anh còn chưa hiểu mô tê gì, bật dậy khỏi ghế, nhảy lò cò theo ra đến ngoài thì cậu lính trẻ lúc này chỉ còn là một chấm nhỏ đằng xa. Chú Sáu đang phơi mấy con cá ở nhà bên chép miệng lắc đầu:
- Thằng Mỹ nó lại tới nữa rồi đó. Chỉ khổ mấy cậu lính, chẳng yên được một ngày.
Bảo Trung nghe vậy, lòng dấy lên chút bồn chồn, nhìn về hướng bầu trời nơi xa, dường như trong không gian còn nghe được tiếng ù ù của động cơ máy bay đang tới.
Một ngày chẳng yên.
Đã được gần một tháng từ lúc Bảo Trung ở đây. Cũng hai tuần rồi anh chưa gặp lại Duy. Cái chân của anh chỉ khá hơn một chút nhưng cũng đã quen dùng nạng, bây giờ có đi xa hơn khỏi làng thì ngoài mất thời gian cũng chẳng khó khăn gì. Ngồi yên một chỗ thì cũng ngứa ngáy chân tay, thế là anh quyết định ghé thăm trận địa của mấy anh bộ đội xem sao, mang theo máy ảnh biết đâu lại có mấy bức ảnh đẹp. Trận địa cách làng không xa, chỉ mấy bước chân là tới. Cái Hương dẫn anh đi, vừa đi vừa líu lo kể chuyện các anh bộ đội bắn Mỹ giỏi lắm, mấy con Thần Sấm, Con Ma* các anh cũng bắn được hết, lần trước nó còn được theo bố ra sông vớt xác máy bay, các anh còn làm cho nó cái lược đẹp ơi là đẹp. Chẳng mấy chốc, đã đến bờ ruộng Đại đội lập trận địa. Bốn khẩu pháo cao xạ 37 ly được đặt bốn góc, phủ bên trên nào cành nào lá để núp mình. Lúc này chưa có máy bay tới rải bom, các đồng chí được nghỉ ngơi, chỉ có một kíp pháo đang trực. Bảo Trung nhác thấy bóng dáng quen thuộc, là cậu binh nhì tên Huy dạo trước.
- Anh Huyyy!!
Cái Hương bưng miệng gọi rồi giơ tay lên vẫy vẫy chào người quen, nhận lại được cái vẫy tay của cậu Huy. Hương dắt Bảo Trung xuống ruộng, đến gần chỗ mấy anh em.
- Anh Huy đang trực ạ? Anh ăn cơm chưa?
- Anh chưa, xíu nữa thay ca mới được ăn. Anh Trung đấy à? Trông anh khỏe hơn nhiều ha? Tóc tai gọn gàng quá làm tôi suýt không nhận ra.
- Vâng, nhờ các đồng chí quan tâm, tôi khỏe nhiều rồi. - Bảo Trung trả lời, sau đó dáo dác nhìn quanh.
- Anh Trung đang tìm ai ạ?
- À, tôi tìm cậu Duy ấy mà. Cậu ấy đâu rồi?
- Đại đội trưởng ấy ạ? Anh ấy đang ở trong hầm đánh điện cho thủ trưởng rồi.
- Không, không phải Đại đội trưởng, cậu Duy cơ mà, cái cậu hôm trước hỏi chuyện tôi ấy.
- Vâng, cả Đại đội bọn tôi có mỗi anh Duy Đại đội trưởng thôi, làm gì còn ai tên Duy nữa đâu anh.
Bảo Trung nghe mà sững sờ. Cái người nhỏ con mặt non choẹt mà anh vẫn ngỡ chỉ cỡ binh nhất hay hạ sĩ quan ấy, người ta thế mà lại là Đại đội trưởng. Có nhầm không vậy?
- Cậu ấy trẻ thế mà đã lên Đại đội trưởng rồi à? - Bảo Trung ngây ngô hỏi khiến Huy ngớ ra mấy giây, quay sang nhìn mấy anh em bên cạnh rồi cả đám phá lên cười khiến Bảo Trung cảm thấy có chút sượng sùng.
- Tôi biết ngay mà. - Huy vừa cười vừa nói.
- Đại đội trưởng nhìn thế thôi chứ anh ấy 30 tuổi rồi đó. - Cậu trai bên cạnh toét miệng cười giải thích.
Bảo Trung nghe mà như sét đánh ngang tai. Cậu lính trẻ mà anh vẫn cho rằng mới mười tám đôi mươi không những là Đại đội trưởng, còn là một người đàn ông 30 tuổi. Cái chính là, người ta hơn anh những bốn tuổi cơ. Anh mới vào nghề, mới ra chiến trường được hai năm có lẻ, còn người ta có khi đã chinh chiến hết mặt trận này đến mặt trận kia đâu đó mười năm rồi. Ôi trời ơi, nhầm lẫn tai hại vậy có chết nhục không cơ chứ.
- Thế anh Trung nghĩ Đại đội trưởng của bọn tôi bao nhiêu tuổi thế? - Một cậu trai khác lên tiếng trêu chọc.
Bảo Trung gãi đầu gãi tai, lúng túng nói:
- Tôi tưởng anh ấy mới đâu hai mươi.
Câu trả lời của Bảo Trung khiến cả đám lại phá lên cười như nắc nẻ khiến anh ngượng càng thêm ngượng.
- Đang trực mà cười đùa cái gì thế?
Đúng lúc này, chủ nhân câu chuyện xuất hiện, anh nghiêm giọng hỏi khiến cả đám im bặt, nén cười, rủ nhau quay lại nhiệm vụ. Thanh Duy bước đến bên cạnh, quay sang hỏi Bảo Trung:
- Còn cái anh này, chân cẳng như thế còn mò ra đây làm gì?
- À… - Bảo Trung vẫn còn đang bối rối vì câu chuyện vừa rồi, bây giờ lại bị hỏi đến, nên anh nghĩ bừa ra một lý do - Tôi đến trả cái gương hôm trước đồng chí để quên.
Đúng là hôm trước đi vội quá, Thanh Duy chưa kịp lấy lại cái gương thật. Mấy anh em đồng đội nghe nhắc đến cái gương của Đại đội trưởng, ai nấy đều che miệng cười, thì thầm to nhỏ với nhau. Thanh Duy hắng giọng nhắc nhở, sau đó quay qua hỏi:
- Thế cái gương đâu?
- À…tôi để ở lán…
Ban nãy đi cũng đâu nhớ ra phải mang gương trả người ta đâu. Tự dưng lại bảo đến trả gương nó có dở hơi không cơ chứ. Nếu có thể, Bảo Trung muốn đào ngay một cái hố rồi tự chôn mình ngay tại đây luôn cho rồi. Nhưng chẳng có cái hố nào cả, vậy nên anh chỉ biết ngượng nghịu gãi đầu len lén nhìn sắc mặt anh Đại đội trưởng trước mặt. Thanh Duy chặc lưỡi, lườm anh chàng phóng viên trước mặt một cái rồi bảo cái Hương đưa anh về.
Chưa đi được mấy bước chân, thì tiếng còi hụ vang lên, một đồng chí từ trong hào, có vẻ như là trắc thủ, chạy lên, làm động tác điều lệnh rồi dõng dạc nói:
- Báo cáo, phát hiện máy bay địch đang hướng về bến phà Xuân Sơn, bao gồm hai chiếc F-4, hai chiếc F-105 báo cáo hết!
- Các đồng chí vào vị trí chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu! - Giọng Thanh Duy vang lên nghiêm nghị và đanh thép, đúng với hình tượng của một Đại đội trưởng không thể lẫn đi đâu được.
- Rõ!
Các anh em trong Đại đội nhận lệnh liền lập tức lao lên khỏi hầm, trèo lên mâm pháo, vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Cái Hương kéo tay Bảo Trung giục anh mau về nhưng anh cứ mãi chần chừ. Anh bảo nó về trước đi, còn anh ở đây, anh muốn ở lại. Cái Hương thuyết phục, lôi kéo mãi không được nhưng cũng không dám nán lại lâu, rủi mà máy bay không ném bom phà mà ném bom trận địa thì chết ốm, thế là nó đành lủi thủi đi về, thỉnh thoảng lại ngoái lại, lo lắng cho Bảo Trung. Bảo Trung loay hoay tìm một góc có vẻ an toàn mà vẫn không quá xa, đủ để anh có thể lưu lại những khoảnh khắc, tay anh nắm chặt chiếc Leica bảo bối. Anh cũng sợ lắm chứ, vừa thoát chết chưa được bao lâu, chân còn đang bó như bó giò đây này, nhưng mà cái đam mê nghề nghiệp cứ thôi thúc anh ở lại. Anh là phóng viên chiến trường, nếu anh sợ chết như thế, thì từ đầu đã chẳng làm cái nghề này.
Không bao lâu sau, từ trên không trung vang đến tiếng ù ù xé gió của động cơ phản lực. Nhìn lên trời, Bảo Trung có thể thấy, tuy ở rất xa, một tốp bốn chiếc máy bay đang bay theo hình mũi tên. Dưới mặt đất, ở trận địa pháo phòng không, cả bốn khẩu cao xạ 37 ly đã được lên nòng, mỗi khẩu đều có một người tiếp đạn, bốn người trên mâm pháo phân chia nhiệm vụ, hai người chỉnh tầm chỉnh hướng cho nòng pháo dõi theo đường bay của địch, hai người còn lại nghe thông tin từ trắc thủ để chỉnh cự ly. Trước mỗi khẩu pháo là một khẩu đội trưởng, tay cầm cờ lệnh đỏ, sẵn sàng chờ lệnh của Đại đội trưởng để phát hỏa. Đại đội trưởng Thanh Duy lúc này đang đứng ở trung tâm trận địa, tay cầm một chiếc ống nhòm quang học, tai lắng nghe thông tin từ trắc thủ, chỉ chờ thời cơ để phất cờ lệnh. Không gian bỗng nhiên im ắng một cách dị thường, chỉ còn tiếng ù ù của máy bay đang xé toạc không gian. Không ai nói với ai câu nào, bọn họ mỗi người đều tập trung vào công việc của mình, như một cỗ máy với những chiếc bánh răng khớp nhau đến từng ly không một chút sai sót. Bởi ai cũng biết rằng, chỉ một sai lầm nhỏ thôi, không cần biết là lỗi của ai, thì cái giá phải trả bằng tiền bạc, quân nhu đã là ít nhất rồi.
Bảo Trung cũng căng thẳng không kém, anh gần như nín thở, dường như có thể nghe được nhịp đập từ trái tim của chính mình, trên tay vẫn giữ khư khư chiếc máy ảnh đến túa mồ hôi nhưng không dám lơ là dù chỉ là một khoảnh khắc. Thế rồi, những chiếc máy bay dường như phút chốc giảm độ cao, cái đầu của nó chúc xuống. Bảo Trung biết điều đó nghĩa là gì. Chúng chuẩn bị ném bom mục tiêu.
Không một tiếng động, chiếc cờ hiệu trong tay Thanh Duy dương lên rồi phất xuống một cách dứt khoát, tiếp đến là chiếc cờ của các khẩu đội trưởng. Mấy tiếng nổ lớn đồng loạt vang lên, nhấn chìm tiếng màn chập lặng lẽ của chiếc máy ảnh trong tay Bảo Trung. Khói tung mù mịt tỏa ra từ các đầu nòng nhưng vẫn không thể che khuất sắc đỏ chói của những chiếc cờ lệnh, thứ mà Bảo Trung vừa thấy lại lần nữa phất lên. Liên tiếp là những tiếng nổ dậy trời, những băng đạn pháo liên tục được nạp vang lên xoành xoạch. Và thế rồi, ở phía xa xa trên bầu trời, một vệt lửa bùng lên.
Cháy rồi!
Họ đã bắn trúng!
Bảo Trung vui sướng đến run tay nhưng phải tự chấn tĩnh, giữ vững máy ảnh, hướng về phía vệt lửa trên trời, chụp liền ba bốn tấm không thèm xót phim.
- Đội 1 báo cáo, bắn hạ một máy bay F-4.
Ngày hôm đó, một chiếc F-4 và một chiếc F-105 khác bị bắn hạ, trong đó Đại đội phía Đông của bọn họ bắn hạ chiếc F-4, còn lại là chiến công thuộc về Đại đội phía Bắc.
Bảo Trung sau đó bị Thanh Duy sạc cho một trận can cái tội lỳ lợm ở lại trận địa. Nhưng anh không cảm thấy ấm ức chút nào, có lẽ vì cảm giác vui sướng đang tràn ngập trong trái tim này đã lấn át hết tất thảy, khiến anh chỉ có thể mỉm cười và lời của Thanh Duy thì trở nên đáng yêu vô cùng.
- Nói hoài cứ lỳ cái mặt ra là sao? Tôi nói anh nghe có hiểu không hả?
- Dạ hiểu.
- Hiểu mà vẫn còn cười được à?
- Nhưng tôi đâu phải thuộc cấp của đồng chí đâu. Tôi là phóng viên mà, phóng viên thì phải làm việc của phóng viên chứ.
Bất chấp Thanh Duy mắng cỡ nào, Bảo Trung vẫn tươi cười đáp lại khiến cho anh tức đến suýt nữa nghẹn thở. Nhưng Trung nói cũng đâu có sai, anh là Đại đội trưởng chứ có phải chủ biên đâu, mắng người ta làm sao được. Thanh Duy muốn điên cái đầu, chỉ tay về phía Bảo Trung, tức đến nói năng không thông:
- Anh…anh…Tôi mặc xác anh, sau có làm sao ra đấy tôi cũng không hốt xác đâu!
Anh tức tối quay lưng bỏ đi, mặc kệ Bảo Trung vẫn đang cười cười gọi với theo.
Bảo Trung đã quen với cuộc sống ở nơi này. Chân của anh cũng khá lên nhiều, có thể đi lại mà không cần nạng, mặc dù vẫn còn cà nhắc. Anh thường xuyên lui tới trận địa của các chiến sĩ phòng không đến nỗi cả Đại đội không ai không biết anh. Đến cả Đại đội trưởng Thanh Duy cũng không thèm quản anh có tới lui hay nói chuyện cười đùa với thuộc cấp của mình nữa. Sau một thời gian tiếp xúc, Bảo Trung cảm thấy người Đại đội trưởng này vô cùng thú vị, lúc thì nghiêm túc đến đáng sợ, quát một tiếng là cả Đại đội im phăng phắc, nhưng lúc bình thường thì dễ gần, nói chuyện lại dễ thương, hài hước. Hèn chi cả Đại đội lẫn bà con xóm làng đều yêu quý anh. Bảo Trung cũng cảm thấy nói chuyện với anh rất hợp, anh biết nhiều thứ, nhiều lĩnh vực, cũng là người sống rất tình cảm, quan tâm đến người khác, hễ anh em trong đội hay bà con trong làng có việc gì anh giúp được anh đều sẵn lòng giúp đỡ. Bảo Trung còn nhận ra, Thanh Duy rất đào hoa, cái miệng của anh đúng là không thể đùa được. Thỉnh thoảng vẫn có một tốp thanh niên xung phong ghé qua Đại đội, các cô gái lúc nào cũng bị Thanh Duy chọc đến cười vui vẻ. Nghe mấy anh em trong Đại đội nói, không ít các cô Thanh niên xung phong cảm mến anh, nhưng chẳng hiểu sao anh chẳng ưng cô nào, thế nên đến giờ 30 tuổi đầu rồi vẫn còn đơn chiếc.
Hôm nay trận thả bom của địch nguy hiểm hơn thường ngày. Chúng không nhắm vào mục tiêu là bến phà nữa mà là trận địa cao xạ của Đại đội. Nhưng thật may mắn, chỉ có một quả bom rơi ngay gần trận địa của họ, không có thương vong nào đáng kể, máy bay của địch tuy không bị bắn hạ nhưng đã bị lưới lửa phòng không đuổi rát, buộc phải lui về. Chỉ có Bảo Trung để ý, có một mảnh bom nhỏ lúc nổ đã sượt qua cánh tay của Thanh Duy. Anh không nói lời nào, vẫn chỉ huy anh em dọn tàn cuộc, san lấp hố bom, xem xem có thu lượm được gì hữu ích không. Bảo Trung lặng lẽ theo Thanh Duy về hầm chỉ huy.
- Vào đây làm gì đấy? - anh hỏi.
Bảo Trung không nói gì, lẳng lặng đến gần, ấn anh ngồi xuống ghế, sau đó lục túi lấy ra bông băng với lọ thuốc đỏ be bé.
- Quan tâm tôi à? - Thanh Duy khẽ cười, lên tiếng trêu chọc - Không sao đâu, dăm ba cái vết thương này rửa qua nước là xong ấy m…á á ĐAU! Làm cái gì đấy?!?
Bảo Trung âm thầm nắm mạnh vào bắp tay của anh khiến anh la lên oai oái.
- Đấy, cứ kêu không sao đi, chừng nào chặt tay thì tôi bảo. Cởi áo ra xem nào.
Nhìn vẻ mặt cương quyết của Bảo Trung, Thanh Duy bất đắc dĩ chậc lưỡi rồi chậm rãi cởi áo ngoài ra. Chiếc áo lính bên ngoài màu xanh sẫm đã cũ mèm, phần nào che đi vết máu, chỉ đến khi cánh tay lộ ra ngoài mới phơi ra vết thương còn đang ào ào đổ máu. Vết cứa không sâu nhưng lại rất dài, tạo thành một vệt dọc theo bắp tay anh.
Bảo Trung hít một hơi thật sâu, một phần vì vết thương máu thịt lẫn lộn, phần còn lại là bất ngờ. Vì anh không ngờ, Thanh Duy còn đô con hơn anh tưởng. Nhìn cái bắp tay rắn rỏi này, anh thấy may mắn vì mỗi lần cà chớn với Đại đội trưởng không lần nào bị ăn một cú đấm, nếu không chắc hàng tiền đạo cũng không còn rồi. Bảo Trung thầm thở dài, chắc từ mai phải đi tập luyện với các đồng chí thôi.
- Đại đội trưởng chẳng biết chăm sóc bản thân gì cả. Bình thường anh em bị thương chút xíu đồng chí đã sốt vó cả lên rồi, thế mà đến lúc mình bị thương thì lại chẳng mảy may để ý.
Bảo Trung vừa rửa vết thương, vừa làu bàu trách móc, anh còn cố tình làm mạnh tay khiến Thanh Duy phải hít sâu mấy lần. Biết anh phóng viên giận mình, Thanh Duy cố tình trêu chọc để xoa dịu bầu không khí.
- Đã có anh Trung quan tâm tôi rồi còn gì.
Bảo Trung đang quấn băng, nghe được lời này thì thoáng khựng lại, sau đó tiếp tục, cũng nương theo miếng hài của anh:
- Thế chắc Đại đội trưởng phải bỏ tôi vào túi áo rồi, để đi đâu cũng có người quan tâm.
- Túi áo nào vừa nổi. Cỡ anh tôi phải cho vào hòm tải đạn thì may ra.
- Chưa gì đã đòi đóng hòm người ta rồi. Đấy, xong rồi, có thế thôi mà cũng làm mình làm mẩy. Tôi đi về đây, mai mà tôi thấy cái băng chưa thay là tới công chuyện với tôi liền á.
Suốt dọc đường đi, Bảo Trung cứ nghĩ mãi. Tấm lưng ấy, khuôn ngực ấy, phía sau lớp áo lính là biết bao vết sẹo chằng chịt, rõ ràng vết cũ chưa lành đã lại thêm vết mới. Anh thở dài. Những vết thương này, đến bao giờ mới chấm dứt đây? Những đau thương này, bao giờ mới kết thúc đây?
