Work Text:
Dưới chân thung lũng cách làng Akuma nửa ngày đường có một ngôi làng nhỏ, người dân thung lũng sống bằng nghề đốn củi và trồng khoai sắn để mang xuống chợ phiên đổi lấy gạo thịt. Bọn trẻ của thung lũng tay chân thoăn thoắt như con hoẵng, thường đeo gùi trên lưng theo cha mẹ xuống chợ. Trong lúc cha mẹ chúng tất bật lo buôn bán, cập nhật tin tức, lo nài nỉ ông chủ tiệm xay cho họ tháng này mua chịu thêm vài cân gạo, thì những chiếc gùi nhỏ cũng túm tụm vào nhau bàn chuyện. Một ngày chợ phiên thành công là khi đống củi trên lưng bọn trẻ được thay bằng trứng và thịt tươi, và những viên bi ve tròn xoe trong túi áo chúng đổi thành những câu chuyện kể cho đám nhóc nhỏ tuổi phải ở lại trông làng. Chúng bảo nhau rằng, chủ nhân của tòa lâu đài Akuma sừng sững tựa lưng vào mép biển là một con quỷ sống đã ngàn năm. Kẻ ấy dáng dấp to lớn đồ sộ, cặp sừng dài nhọn hoắt đâm ra từ trán, răng nanh trắng ởn và bàn tay với những móng vuốt đen ngòm chỉ chực vồ lấy trẻ con mà ngấu nghiến. Trẻ con thung lũng vừa nghe nhắc đến tên lâu đài Akuma đã rợn tóc gáy, đứa nào đứa nấy rúm rít bấu chặt vạt áo nhau, đột nhiên hạ giọng thì thào thật khẽ như thể sợ con quỷ kia nghe được sẽ tìm đến tận nhà chúng.
“Chính mắt tao nhìn thấy, gã đó mặc một chiếc haori đỏ như máu, chắc chắn là máu những người đã bỏ mạng dưới vuốt gã.”
Vòng hội nghị trẻ con bịt miệng không dám kêu to. Chúng nhìn thằng bé vừa thốt ra câu đó bằng cặp mắt trợn tròn, nửa kinh hãi nửa thán phục. Trong mắt chúng, đứa dám cãi lời cha mẹ và đặt chân lên con đường mòn qua núi là đứa đầu óc có vấn đề. Nhưng đứa lần được theo con đường chằng chịt rễ cổ thụ ấy đến tận gần địa phận làng Akuma, tận mắt nhìn thấy con quỷ cai quản làng mà vẫn trở về nguyên vẹn thì xứng đáng được xướng tên trong một bản hùng ca đời đời.
Tori đang lục túi tìm tờ giấy dặn dò của cha nó để đến nhà đồ tể mua thịt, thấy một tụm trẻ con chúi đầu vào nhau ở giữa ngã tư đường liền tò mò ghé lại nghe ngóng.
“Người làng Akuma bị quỷ ám hết cả rồi, ở đó để đợi làm mồi cho ác ma hay gì không biết.”
Tori ném luôn cái túi vải trên lưng xuống đất và bổ nhào vào đứa vừa nói. Nó nhỏ người hơn nhưng nhanh hơn, vật luôn thằng bé kia xuống đất mà đánh túi bụi, vừa giật tóc thằng bé vừa quát “Mày thì biết cái gì, chủ làng của tao mà là quỷ à?! Mày mới là thằng quỷ đấy, đồ mất dạy!”
Gia đình Tori được chủ lâu đài Akuma cưu mang sau khi ngôi làng cũ của họ bị nạn châu chấu phá tan hoang, không còn sinh sống được nữa. Cha nó kể hồi ấy mẹ còn đang mang bầu nó, bụng to vượt mặt, tay chân phù nề lại đau đớn khắp toàn thân không thể đi xa được. Mọi người đã di tản hết rồi, cha mẹ nó vẫn ở lại ngôi lán rách rưới và đào sắn ăn qua ngày. Nếu hôm ấy không có một nam nhân cao ráo, tóc đen dài chấm gót bắt gặp bọn họ và đưa về làng Akuma, có khi Tori còn chẳng được sinh ra đời.
Người khác nói làng Akuma bị quỷ ám, trẻ con làng Akuma chỉ thấy chủ lâu đài có giọng kể chuyện rất hay. Những ngày nắng đẹp Người thường ngồi trên phản gụ, tay cầm một bông hoa trà đỏ, một đám trẻ con lố nhố ngồi dưới sân nghếch mũi nghe kể chuyện. Người kể chuyện núi chuyện rừng, chuyện trời chuyện bể, kể về nàng tiên ống tre, về đám cưới của nhà cáo, về những chú thỏ ngọc thay phiên nhau giã bột nặn bánh trên cung trăng. Người khoát ống tay áo một cái, đám trẻ như thấy được tất cả những nhân vật thần tiên trong truyện hiện ra trước mắt. Người ghé xuống thì thầm, đám trẻ như được nghe chính rừng núi hiện về trò chuyện cùng chúng. Trời ươm nắng cho mây hồng, tưới màu bình minh chớm rạng vào đôi mắt nam nhân ấy dạt dào trong vắt. Cũng có lúc Người sẽ ngồi lim dim trên tấm phản và để mặc hai ba đứa trẻ con xúm vào tết tóc cho mình. Tóc Người rất dài và mượt, bọn trẻ chạy vào tận rừng để hái cả một giỏ hoa về cài lên suối tóc đen tuyền ấy. Cặp sừng của Người chưa từng khiến chúng sợ, bàn tay Người mỗi khi chìa ra trước mặt chúng đều chứa hoa trái thơm lừng, bóng dáng cao lớn đồ sộ của Người nếu xuất hiện trước cửa nhà chúng đều mang theo hạt giống, hoặc một ít ván gỗ để dựng giàn trồng hoa màu, hoặc thuốc thang và vải vóc trong những ngày túng thiếu. Người đeo một cây kiếm dài bên hông, lưỡi kiếm đen kịt như được rèn từ mã não. Hàng đêm khi những cơn sóng cuồn cuộn đổ ập về phía làng, Người đều đứng một mình ở mép biển, lưỡi kiếm đen cắt cả đại dương hung dữ thành những gợn sóng nhỏ hiền hòa lăn tăn, giữ cho giấc ngủ của dân làng được bình yên.
Dân làng Akuma đều là những vận đời xui xẻo được cưu mang về đây, thế nên Tori không chịu nổi việc người ngoài nói xấu chủ làng của nó như vậy. Đối với nó, chủ lâu đài không khác nào một vị phước thần.
Tori cũng yêu cả lâu đài Akuma, tòa kiến trúc xinh đẹp và ngạo nghễ với ba tầng lầu đứng sừng sững như một biểu tượng vô song của sự tái sinh. Hai mươi lăm bậc thang đẽo từ gỗ lim dẫn lên căn ngự đường rộng lớn với hai hàng cột chống lừng lững chạy dọc chính điện. Những lớp mái của tòa lâu đài được đẽo gọt tỉ mỉ và tinh xảo, ngọn mái vòm cong vút như những lưỡi liềm được ốp bằng ngói đỏ, xén cả màn đêm thành tấm áo bào nguy nga khoác lên mình lâu đài. Trên đỉnh tòa tháp ấy ngự một bức tượng chim phượng hoàng dang cánh. Từ ngày Tori còn bé, cha nó đã luôn so sánh cái đẹp trên đời với lâu đài Akuma, tâm tưởng non nớt của nó tin rằng tòa lâu đài ấy chính là hiện thân duy nhất của cái đẹp vĩnh cửu. Trong mắt nó, tòa kiến trúc ấy tắm trong những cơn mưa như một con tàu sừng sững giữa mặt biển thời gian, khi phơi mình dưới ánh sáng buổi bình minh lại diệu kì và đẹp đẽ như một áng mây, khi vầng trăng bạc rọi xuống lại hiện ra vẻ bí ẩn đến gần như đáng sợ.
Tori không dám để cha bắt gặp mình te tua thảm hại sau khi đánh nhau với bọn trẻ con thung lũng, lẻn vào nhà bỏ túi đồ mua từ chợ phiên ở góc bếp rồi chạy theo con đường rải sỏi dẫn ra sau lưng lâu đài, chui qua một mối nối lỏng ở hàng rào rồi lủi ra bãi cát ven biển. Nó hét trả cho đại dương tất cả những lời xấu xa nó phải nghe, quẳng uất ức lên mặt nước nhăn nhó cho sóng cuốn trôi, nhổ cái dùi đang găm trong ngực mình ra mà vùi xuống đáy biển. Để nó đừng bao giờ phải chịu thua bọn trẻ thung lũng nữa, và để nó đừng một giây một khắc nào dám gợn lên lòng hoài nghi đối với nam nhân sống trong toà lâu đài ấy.
Nó yêu lâu đài Akuma cùng vị phước thần cai quản làng này bằng tất cả tình yêu và lòng kính nể trong sạch nhất của một đứa trẻ.
“Ta biết.”
Người đã đứng cạnh Tori từ khi nào. Hai tay khoanh trước ngực, thanh thần kiếm đeo gọn gàng bên hông, gió biển thổi những lọn tóc nhỏ bám vào khuôn mặt hiền từ. Thuỷ triều còn chưa lên, Tori đã thấy mình bị cuốn ra khơi rồi hoá nhỏ bé và chìm nghỉm trong đôi mắt của Người. Chủ lâu đài từ tốn chải lại tóc mái cho đứa trẻ, lau sạch muối mặn và trầy xước trên mặt nó ném trả cho trời đất, phủi những ấm ức dồn nén trong trái tim thơ dại hóa thành hàng ngàn mảnh bụi li ti rồi tan biến.
“Ngươi đã chiến đấu vì ta. Thật là một đứa bé dũng cảm.”
Tori không dám trả lời. Nó phải đổ dồn tâm trí để ngăn mình khỏi lén lút áp má vào bàn tay rộng lớn của Người. Da Người man mát như một ngọn gió lành, như thể Người nắm gọn những gì tinh tươm nhất trên đời. Có lẽ lần cuối cùng nó được cha ôm ấp vỗ về là từ hồi lũn chũn tập đi thì phải, Tori thèm một chút cử chỉ dịu dàng ấy biết bao nhiêu.
Đầu tóc đứa trẻ cắt bằng con dao cùn, cọng ngắn cọng dài không theo hàng lối, đã vậy lại ngấm gió mặn mưa rào của miền biển suốt bao nhiêu năm nên bây giờ khô cong và dựng lỉa chỉa. Chủ lâu đài gạt lại tóc cho đứa trẻ, nhìn nó rồi cười.
“Ta nhớ ngày ấy có một người đàn ông ẵm đứa bé sơ sinh đến chính điện lâu đài và thỉnh ta ban phước lành cho nó. Ông ấy nói vợ mình đã mất trong lúc hạ sinh con của họ, ông nhờ ta đặt cho đứa bé một cái tên.”
“Ta đã từ chối và bảo ông ấy về đi. Nhưng liên tục mấy ngày sau ông ấy lại đến, vẫn ôm trong tay đứa trẻ được quấn trong tấm chăn dày cộp. Không biết có phải do người đàn ông vụng về đã lỡ quấn quá nhiều lớp, hay là đứa bé đó thật sự nhỏ xíu so với những đứa trẻ khác. Nhưng giọng nó thì không nhỏ chút nào. Nó khóc toáng lên từ trước khi cha nó bước tới bậc thang dẫn lên chính điện, và nhất quyết chỉ chịu nín khi ta cúi xuống nhìn vào khuôn mặt sơ sinh cau có của nó.”
“Lại gần nhìn vẫn thấy nó bé tẻo teo. Hay là tất cả trẻ sơ sinh đều như vậy nhỉ, ta cũng không rõ. Nhưng cặp mắt nó rất lớn, con ngươi đen và sáng, khiến cả khuôn mặt nó trông tinh anh như một chú chim. Và đó là cái tên mà ta ban cho đứa trẻ ấy, Tori. Một cánh chim nhỏ nhắn, nhưng không có bầu trời nào là quá xa đối với sải cánh của nó hết.”
Gió từ đâu nổi lên phần phật, thổi vạt áo thêu hoa trà của chủ lâu đài căng lên như một lá quốc kỳ. Tori đưa tay che mặt khỏi cát bụi tấp rào rạt vào người nó. Người vẫn đứng khoanh tay bất động, thân hình vững vàng vươn lên thẳng tắp tựa một gốc cổ thụ chống đỡ cả gầm trời.
“Tori, gió nổi lên rồi. Liệu ngươi có bay được không?”
Dù Tori có thể say sưa huyên thuyên về vị chủ làng của nó đến tận khi mặt trăng ngừng thở, nhưng thật tình tên Người là gì, Người từ đâu tới, là phước thần hay là yêu quỷ thì nó không hề biết. Cả những đứa trẻ khác trong làng cũng vậy, đám trẻ nhìn nam tú ấy bằng lăng kính không vẩn một chút hồ nghi và răm rắp nghe theo những lời người cưu mang chúng dạy bảo.
Hắn biết mình có được lòng tin yêu của bọn trẻ, nhưng cha mẹ chúng thì khác. Những gia đình ở đây đều đã từng một lần mất tất cả, bị bánh xe số mệnh giày xéo đến vụn nát và thẳng thừng loại bỏ khỏi dòng vận hành của nó. Họ không còn cố hương, không còn ai thân thích, không có lấy một mảnh đất xanh cỏ để khi ngày tàn có thể yên dạ mà ngả lưng. Đối với những bậc cha mẹ quanh năm lam lũ ấy, những đứa con của họ còn lớn lao hơn cả gia tài để đời của mình. Đám trẻ ấy là tương lai của họ, là dấu ấn duy nhất họ có thể để lại trên dòng đời vùn vụt trôi. Vì con vì cái, họ chẳng nề hà bất kì điều gì. Vào những buổi chiều thư thả ngồi hóng gió trên phản với một đám trẻ con lố nhố vây quanh, hắn thấy những ánh nhìn kín đáo mà các vị phụ huynh đang loay hoay nhổ cỏ cuốc đất ở cuối vườn ném về phía mình. Chỉ cần một động tác có vẻ như chuẩn bị làm hại bọn trẻ, cuốc thuổng trong tay những con người yếu ớt ấy sẽ không ngần ngại bổ vào đầu hắn, dù họ biết rõ rằng mình sẽ thua.
Nam nhân khoác haori đỏ ấy nghe được tất cả âm thanh thẳm sâu nhất của lòng người.
Hắn ta nghĩ sự tồn tại của mình không hơn gì một trò đùa của bề cao, như thể kết quả của một ván cá cược mà các vị ấy bày ra trong lúc nhàn rỗi vậy. Loài ác ma sinh ra từ núi đá mà lại mang lòng trắc ẩn và thương yêu con người, hắn nghe được những lời cầu khẩn van xin giúp đỡ nhưng khi xuất hiện người ta lại ném đậu để đuổi hắn đi. Yêu quỷ như hắn đâu có sợ những hạt đậu nhỏ xíu ấy, chẳng qua đậu là thứ lương thực mà gia đình nào cũng có, họ vớ đại bất cứ cái gì trong tầm tay để ném vào người hắn mà thôi. Cứ thế trăm năm nghìn năm, loài người truyền tai nhau rằng đậu có thể trừ tà đuổi yêu, mỗi lần xuất hiện đều hứng một cơn mưa đậu xanh đậu đỏ hắn cũng chỉ đành thở dài và lánh đi nơi khác mà thôi.
Năm đó khắp đồng bằng lẫn thung lũng rơi vào hạn hán trầm trọng. Chưa bao giờ có một trận đại hạn hán kinh động như vậy. Hàng nửa năm liền không có lấy một giọt mưa, sông ngòi cạn khô thấy cả đáy. Ngô sắn thi nhau héo quắt cả lại trước khi kịp đơm trái, nước trong giếng thì bị ngấm đất sình không thể sử dụng được. Bất kể dân làng dùng cách nào để cúng bái và cầu xin thần linh ban mưa, cỗ hoả xa trên cao vẫn lừng lững một màu đỏ lòm, thẳng thừng thiêu đốt đồng ruộng và đất đai nứt toác như một vết thương hở.
Làng Akuma cũng không khá khẩm hơn là bao. Chủ lâu đài cau mày nhìn dân làng ngày ngày ăn cơm với cá khô mặn chát mà lòng đầy âu lo và xót xa. Nắng gắt đến rát da bỏng thịt, đã rất lâu rồi không còn những ngày vị chủ làng thư thả chơi đùa cùng đám trẻ nữa. Có những ngày Tori vén liếp cửa sổ ngó về phía lâu đài thấy Người đứng trên đỉnh mái ngói và lặng thinh nhìn ra biển. Nó biết Người lo lắng, và nó cũng tin nhất định Người sẽ có cách cứu cả làng khỏi mùa hạn này.
Sớm hôm sau, Người dắt một con lạch nhỏ chảy về chiếc giếng được xây kín sau lưng lâu đài. Trước con mắt hồ nghi của toàn bộ dân làng, chủ lâu đài cắm thanh thần kiếm xuống lòng đất, lưỡi kiếm đen liền róc rách dẫn từ đâu về một nguồn nước nhỏ nhưng trong vắt. Tori vốc một vốc nước từ giếng và ngửa cổ uống, nó thề rằng chưa bao giờ nó được uống thứ nước mát rười rượt và thanh ngọt đến thế. Nước chảy xuống giếng làm nguồn dự trữ cho cả làng, dù chẳng lấy gì làm dư giả nhưng cũng đủ để dân làng Akuma không một ai vì đói khát mà đổ trọng bệnh. Nếp phiền não trên đôi mày vị chủ lâu đài cuối cùng cũng dần nhạt bớt.
Tin tức cũng như lạch nước thần kì của Người, chẳng biết từ đường nào mà lan ra khắp thung lũng. Người dân thung lũng lại càng khẳng định chắc nịch rằng lâu đài ấy là nơi cư ngụ của ác ma, họ khăng khăng chính ác ma mang hạn hán tới để giày vò người dân. Cứ thế, họ rèn những e sợ mù quáng thành vũ khí, nuôi lớn bóng đêm của thù hằn và ghét bỏ thành một con quái vật khổng lồ, đạp đổ cổng làng mà xông thẳng tới chính điện lâu đài, tuyên bố hôm nay chính là ngày tàn của thứ yêu quỷ đã đẩy họ vào cảnh lầm than. Lửa từ đuốc châm vào mái nhà rơm, liếm lên giàn giậu, đuổi dân làng nháo nhào chạy tứ tán. Cha con Tori từ trong nhà chạy ra đã thấy khắp làng toàn một màu lửa bỏng rát. Một người đàn ông xông tới định đốt cả nhà của cha con nó. Tori vội hét toáng lên xông vào vịn tay người đó lại.
“Chú làm cái gì thế? Tại sao lại đốt nhà của cháu, tại sao dám đốt cả làng của chúng cháu? Dân làng này có tội tình gì với các người??”
“Nít ranh biết cái gì!” Người đó đẩy đứa trẻ ngã lộn nhào xuống đất. Những người vẫn luôn một hai nói chủ làng nó là ma quỷ, lúc này bọn họ mới là người mặt mày cau có dữ tợn hệt như loài quỷ trong những bức tranh Tori từng thấy “Phải đốt làng này thì mới có mưa được!”
Đứa bé bật dậy định nhào vào người đàn ông đó thêm lần nữa. Cha nó dường như đã hiểu, không nhiều lời mà bế thốc Tori lên vai mà tháo chạy ngược hướng dòng người lũ lượt tràn vào làng. Khói bốc lên ngày càng dày, ngọn lửa từ bốn phía lừng lững như những bức tường vây chặt lấy hai cha con. Tori giãy giụa trên vai cha, rướn người về phía tòa kiến trúc hẵng còn hiên ngang đứng thẳng giữa biển lửa. Nó biết chủ lâu đài còn ở trong đó, nó thật lòng không quan tâm gốc gác thân phận của Người, nó chỉ cần biết lâu đài Akuma không được phép sụp đổ. Nguyện ước duy nhất của đứa trẻ chỉ là nam nhân ấy được sống.
Ngày làng Akuma cháy, Tori mới lần đầu tiên nghe thấy tên gọi của người ấy giữa tiếng giáo gươm chan chát và tiếng ngọn lửa nhồm nhoàm nhai nuốt từng mái nhà tranh trong làng.
Họ gọi người ấy là Ác Ma Chi Thanh.
Tori chắc chắn nó không thể nghe thấy người ấy nói gì, bởi cha đã ôm nó chạy như bay như biến cả một quãng, giẫm cả lên những luống hoa màu và băng qua khỏi cổng làng rồi. Khói lửa và tro bụi kéo tràn vào màng phổi đứa trẻ, nó gần như lịm đi trên vai cha. Dưới mi mắt nhắm nghiền, Tori thấy bóng lưng nam tú quay lại nhìn mình. Một giọt nước mắt người ấy sáng lên nơi khoé mắt như hòn ngọc. Bình minh hồng hào trong mắt Người hôm nay nhuốm màu tang thương, u buồn của Người lăn một hàng xuống má, mặn hơn cả sóng trào ngoài khơi, kéo một trời mây giông vần vũ phủ kín nóc lâu đài.
Và nó nghe giọng người ấy thì thầm với mình, trầm thấp như tiếng núi rừng thở than, mơ hồ như tiếng vọng của vũ trụ dội về, ngấm vào trong tim nó như cách thực vật đâm rễ xuống đất để hút lấy dòng nước sâu. Tori muốn gom sức để nhoài tay về phía người ấy thêm lần nữa, muốn túm lấy hoa trà đỏ bên vai áo Người mà bảo Người hãy mau chạy đi. Giọng nói bên tai nó vẫn hiền từ và bình thản như ngàn vạn chiều thu Người đón nắng bên hiên nhà cùng đám trẻ.
“Cánh chim nhỏ của ta, bay thật xa nhé.”
Một tiếng nổ đùng đoàng rung chuyển cả mặt đất, tòa lâu đài hóa thành giàn thiêu, nung nóng sắt thép rồi phát nổ. Một ngọn lửa lớn cuộn lên nuốt chửng cả ba tầng lầu. Những đám bụi tro tạt qua tạt lại giữa những tán cây và bầu trời trên đỉnh lâu đài như chất nặng cát vàng.
Bàn tay Tori buông thõng trên vai cha, đứa trẻ cứ thế lịm đi.
Nó tỉnh lại khi cha đặt nó nằm trên lưng gò đất ướt sũng. Mưa đã kéo tới dập tắt vũ đài khổng lồ của lâu đài Akuma thành một cột khói đen ngòm, đặc quánh lừ đừ bốc lên trời. Từ gò đất này nhìn lại, tòa kiến trúc nguy nga và kiêu hãnh mà Tori hằng yêu đã đổ sụp xuống như một đế chế lụn bại. Những cột gỗ lừng lững từng chống đỡ sảnh đường nguy nga của lâu đài giờ đây gãy đôi, ngói đỏ sụp xuống thành đống như máu đào.
Người dân thung lũng giơ cao gươm giáo thô sơ của họ mà hò reo, ngửa mặt đón cơn mưa ngọt lành, thi nhau mang chum ra hứng nước. Họ tấp nước mưa lên mặt, ôm ghì lấy nhau dưới làn nước ấy. “Sống rồi!” Họ nói với nhau như vậy. Các bà mẹ bụm miệng nén dòng lệ xúc động và cúi đầu cảm tạ thần linh đã rủ lòng thương xót bọn họ, ông già bà cả lật đật chống cái lưng còng dậy thắp một nén nhang trên bàn thờ gia tiên. Đám trẻ con vừa hò hét vừa kéo nhau ra tắm mưa thoả thích, gội sạch bao nhiêu đất cát cáu bẩn trên tóc chúng bấy nay.
Chỉ có Tori vật ra đất mà khóc toáng lên ngằn ngặt. Nó khóc thảm thương như thể có ai túm lấy trái tim nó và xé toạc thành trăm mảnh, rồi từng mảnh vụn ấy lại hoá thành những lưỡi lam lóc vào da thịt xương cốt đứa bé. Nó khóc hệt như cái hồi nó mới sinh, khóc gào thổn thức và dữ dội đến độ không ai dỗ cho nín được. Bàn tay đứa bé cấu chặt xuống đất, vùi mặt xuống cỏ mà hét toáng lên. Không ai hiểu được một đứa bé vừa mới chớm tuổi thiếu niên liệu có bao nhiêu đau buồn mà có thể khóc như đang chịu tang gia luyến như vậy. Mưa đổ xuống ngày càng nặng hạt nó cũng mặc. Ban đầu cha tưởng nó tiếc ngôi làng nơi nó lớn lên, nhưng an ủi cách mấy đứa bé cũng không nín, cuối cùng ông cũng chỉ biết lặng im đứng bên cạnh và quàng tấm áo khoác lên đôi vai nhỏ bé run bần bật.
Họ không biết cơn mưa ấy là nước mắt của Người, cũng là sự dịu dàng cuối cùng Người dành cho nhân gian này.
Dân làng Akuma tan tác mỗi người một ngả, vài năm sau người ta cũng hoàn tất tháo dỡ và dọn sạch tàn tích của lâu đài, chỉ còn lại nền đá phẳng phiu nằm giữa đống củi mục. Đám trẻ thung lũng không còn bị cấm vào rừng nữa, lâu lâu chúng lại kéo nhau ra bờ cát dạo chơi và thả diều. Nghe bảo miền biển này trước đây sóng rất lớn, quật xoàn xoạt vào đất liền rồi cuốn ngược về khơi như một con quái thú nổi giận. Từ sau trận mưa năm ấy bỗng dưng cả một bờ vịnh dài chỉ có những gợn bọt lăn tăn, người dân tha hồ đưa thuyền ra khơi đánh bắt, dần dần dựng xây miền đất ven biển thành một kinh đô trù phú dồi dào.
Rất rất lâu về sau, sử sách của loài người còn ghi chép về một trận đại hạn hán kéo dài đằng đẵng khiến kinh tế và nông nghiệp của đất nước chìm sâu trong khủng hoảng, kéo bệnh dịch bùng lên tới đâu là những mạng người đổ xuống vì đói khát và ốm o tới đó. Các nhà địa lý học giải thích do quy hoạch thiếu khoa học, trồng nhiều các loài cây ưa nước ở vùng ít mưa, cộng với biến đổi bất chợt của dòng biển nóng lạnh khiến mây không thể tích tụ để tạo thành mưa. Các nhà phong thủy học bảo rằng do xây dựng công trình lớn gần vùng nước biển khiến mạch thủy trong đất không thể lưu thông. Các nhà chiêm tinh sau khi soi chiếu quỹ đạo các hành tinh thì lắc đầu bảo rằng hiện tượng này quá đỗi kì lạ, lẽ ra vùng đất này nằm ngay điểm đắc địa nhất trong quỹ đạo sao suốt quanh năm, lẽ ra không thể có hạn hán như vậy được. Dù giải thích bằng cách nào đi nữa, các vị ấy đều đồng tình rằng cơn mưa năm đó chính là một điều kì diệu. Nếu ngày ấy trời không đổ mưa, có khi cả vùng này sẽ biến thành hoang mạc rồi bị đại dương xâm lấn và nuốt trọn không biết chừng.
Còn thi hào và văn ca gọi cơn mưa ấy là sự dịu dàng của một vị phước thần không tên.
