Actions

Work Header

Hội làng

Summary:

"Tôi đoán là có một mảnh kí ức nào đó mà tôi đã quên mất, một trong muôn vàn những mảnh vỡ không thành hình, trôi lập lờ trong óc tôi, có cạnh rất sắc. Chính nó đã cắt thật đau vào tâm trí tôi hiện tại."

Chào mừng các bạn đến với Hội Làng, nơi có những quy tắc không thể bị phá bỏ.

Notes:

Lấy cảm hứng từ post này đã có sự cho phép của tác giả Ngọc Bảo Đinh. Mọi tính cách, thiết lập, bối cảnh và nhân vật đều thuộc về quyền sở hữu và sáng tạo của tác giả Ngọc Bảo Đinh. Shout out cho bạn vì ý tưởng tuyệt vời.

Disclaimer: một lần nữa, mong mọi người hiểu rõ, mọi sự kiện được nhắc đến ở đây đều là hư cấu. Các nhân vật hoàn toàn chỉ mượn hình dáng của những người được nhắc tới, được liên hệ với những nhân vật trong sân khấu Đào Liễu được dựng bởi team Nhà Trẻ của ATVNCG, KHÔNG PHẢI và không có bất cứ sự ám chỉ nào đối với cá nhân được nhắc đến ngoài đời.

(See the end of the work for more notes.)

Work Text:

Mở đầu

Người phụ nữ ngồi trên võng, một tay uể oải cầm cây quạt che nửa dưới khuôn mặt, tay còn lại hững hờ đặt trên đùi. 

“Ngươi chắc chứ?” Nàng hỏi, giọng ngọt ngào, đôi mắt trong vắt như nước hồ mùa thu chợt gợn lên một thoáng thích thú. 

“Tôi chắc.” 

“Ôi chao,” nàng che miệng, thoáng chốc lời nói như hóa thành một câu ca. “Ấy dà, ấy dà. Đôi lúc ta cũng không hiểu nổi các ngươi nghĩ gì.”

“Không nghĩ nhiều, thưa Lệnh bà.” Người thanh niên kiên quyết nói. “Trong những chuyện như thế này, tôi không nghĩ nhiều.”

“Nói được,” nàng nâng cây quạt lên, ý nhị che đi nụ cười nửa miệng, “nhưng làm thì cũng không biết được đâu. Tâm trí, suy nghĩ,” nàng hạ quạt, thoáng chốc trầm tư, rồi lại mỉm cười, “là thứ khó nắm bắt nhất trên đời.”

“Lệnh bà là người đủ quyền lực, tôi tin là như vậy.” 

Nàng khúc khích cười. “Không hề. Không ai có quyền năng đó cả. Tâm trí những kẻ như ngươi, như chúng, sẽ luôn nghĩ ra một điều gì đó ngoài tầm kiểm soát. Và khi đó,” nàng ngả lưng xuống võng, “thế là xong. Ngươi có thể quên, có thể nhớ, có thể bị vướng vào vô vàn rắc rối không mong muốn.”

“Đó là đất của Lệnh bà cơ mà, hay tôi sai?”

“Ta kiểm soát nơi đó. Ta không kiểm soát được cư dân ở đó. Tâm trí những kẻ đó đều biến hóa khôn lường. Thông thường, chúng nghe lời ta, nhưng nếu chúng tự quyết được,” nàng ngừng lại, để cho câu chữ thấm dần, “thì có những chuyện ta không thể nhúng tay vào được nữa.”

“Đó là rủi ro mà tôi chấp nhận.”

“A,” nàng thích thú vỗ tay, “ta có một kẻ liều mạng ở đây sao?” 

“Có lẽ vậy,” người thanh niên ngước mắt lên, gật đầu cương quyết.

“Vì hắn?” 

“Lệnh bà sáng suốt.” 

“Vậy thì ta chỉ có thể chuẩn y,” nàng cúi xuống, nâng cằm người thanh niên lên và nhìn thẳng vào mắt anh. “Nhớ những quy tắc này cho kĩ. Còn hành động như thế nào, là tùy ở ngươi.”  

 

Phần 1: Đôi lân xanh

Tôi mở mắt ra và lại thấy mình đứng ở cây đa đầu làng. 

Đã bao lâu trôi qua rồi, tôi không nhớ nữa. Cứ mỗi khi mặt trời mọc thay thế bóng đêm, tôi lại nhặt một viên sỏi có cạnh sắc dưới đất, mắm môi mắm lợi vạch một nét dọc lên thân cây trước mặt. Bốn nét dọc rồi sẽ tới một nét ngang cắt qua, ngụ ý đã năm lần đếm. Bây giờ trước mặt tôi đã có ba cái cụm nét xiên xẹo như thế, kèm theo hai nét nằm chơ vơ. 

Nhưng tôi không biết điều đó có nghĩa là đã mười bảy ngày trôi qua, hay là mười bảy lần tôi nhìn thấy mặt trời, rồi còn nhớ được để mà về đây vạch. Tôi không nhớ nhiều lắm. Tôi không chắc mình đã biết những gì. Tôi cũng không biết cái làng này tính ngày như thế nào, hoặc tại sao tôi lại có mặt ở đây. Ký ức, hoài niệm, mọi thứ trong đầu tôi là một miền hỗn tạp, xa vời và chập choạng. Những mảng đen hút thì cứ sâu hoắm vào và biến mất mỗi khi tôi cố nhìn lại, những mảng còn sáng thì– 

À, thì cũng chẳng có nhiều cho lắm. 

Một cơn gió nhẹ nổi lên, khiến tôi rùng mình, suy nghĩ chạy từ nơi u minh trong đầu ra ngoài thực tại. Lúc tôi vạch một nét lên thân cây, trời vẫn còn sáng. Giờ thì đã ngả chiều nhôm nhoam, ánh hoàng hôn đỏ vừa điêu tàn vừa ma quái. Hoặc là tôi đã lạc lối trong sự vô định quá lâu, hoặc là thời gian ở đây trôi một cách không thể nào hiểu được. 

Một con lân màu đọt chuối chạy qua bên trái tôi, hai mắt nó hấp háy, đóng mở không đều. Theo ngay sau đó là một con lân khác, giống y hệt từ kích thước đến màu sắc, lon ton uốn lượn thân hình mà lách qua tôi. Con lân thứ hai có dừng lại nhìn tôi một chớp, rồi cũng cúp đầu chạy mất.

Ban đầu tôi khá e dè lũ lân, vì tôi thực sự nghĩ rằng chúng là quỷ dữ. Làm sao nghĩ khác đi được, với cái màu sắc quái dị đó, những cái con mắt trợn trừng, chớp nháy như bị hỏng đó, và hai cái mồm ngoác ra như hai miệng giếng vô tận đó. Nhưng dần dần, tôi không còn sợ nữa. Chúng dường như chẳng có động tĩnh gì cả, chỉ cứ chạy qua, rồi chạy lại. Như mặt trời mọc lên đều đều mỗi ngày, không thay đổi là mấy, cũng chẳng đụng vào ai

Hai con lân biến mất sau bụi tre cuối đường, tôi nhìn theo, lòng lăn tăn sóng. Chẳng rõ vì thế, hay là có một thứ gì khác thúc đẩy, tôi để ý thấy một cái hộp nằm ở nơi chúng vừa chạy mất. Có một cái hộp ở đó. Hộp đựng gì? Của ai? Tại sao tôi lại ngạc nhiên đến vậy? Không, không phải là ngạc nhiên. Tôi nhíu mày, nhìn cái hộp, tim đập hẫng vài nhịp. Có một cái hộp ở đó, bên cạnh cây đa mà tôi đang đứng. Cái hộp. Cái hộp đựng gì? Cái hộp thì có ý nghĩa gì? 

Tôi dợm bước tới, nhưng cơ thể tôi cứ đực ra đó, không muốn nghe lời. Tôi càng tò mò muốn tiến lên, thì thân hình tôi càng cứ như một bức tượng đá ngàn cân, đẩy, kéo thế nào cũng không suy suyển. Tôi không muốn đi nữa, thì người lại nhẹ như trước. Cứ như thể có một tiếng nói tiềm thức nào đó trong tôi bảo rằng tôi không nên đến gần cái hộp này.

Vậy thì tại sao tâm trí tôi lại khát khao muốn tới bên cạnh nó đến vậy? 

 

Phần 2: Nhà thơ

Tôi mở mắt ra và lại thấy mình đứng ở cây đa đầu làng. 

Có một cơn đau nhoi nhói chạy trong đầu tôi. Có ánh mặt trời buổi sáng bao quanh tôi, bớt đỏ quạch hơn, êm ái và cẩn trọng, như thể tôi là một tạo vật mỏng manh dễ vỡ. Có gió nhẹ hây hẩy thổi, mang mùi hương lúa chín rất dịu dàng. Có tiếng nhạc vẳng lại từ xa. Có một người đàn ông cầm quạt đỏ đang nhìn tôi, ánh mắt lặng như tờ.

Tôi bước lùi lại khi nhận ra sự hiện diện của hắn, nhưng người đàn ông chẳng có vẻ gì là muốn tấn công tôi cả. Hắn cũng không giải thích hay thanh minh, chỉ phe phẩy nhè nhẹ cây quạt trong tay. Tiếng nhạc đằng xa chẳng hiểu sao tự dưng cứ ngày một gần lại. Dường như người đàn ông có thể gọi nó tới chỉ bằng cây quạt đó? 

Điên. Tôi tự bảo mình như thế, rồi lại lom lom nhìn người đàn ông. Có lẽ ánh mắt của tôi dò xét quá nhiều, nên hắn không còn im lặng nữa. Hắn quay ngược cây quạt lại, cho tôi thấy hai chữ đối thơ bằng mực đen ghi trên nền đỏ, sau đó cất tiếng. Giọng hắn rất trầm và tối, đối lập hoàn toàn với khung cảnh xung quanh chúng tôi. 

“Người đi, đi hoài xa xa, 

Để ai ôm bóng trăng tà năm canh.”

Một câu thơ, không đầu, không cuối, vừa si tình, nỉ non, qua miệng hắn lại có chút oán trách, hờn giận. Ý tứ thì rõ ràng là về nỗi nhớ, nhưng tôi không hiểu những lời ấy nhắm vào ai, gợi tới cái gì, hay tại sao hắn lại muốn đối với tôi. Ánh mắt tôi dao động, lại chợt liếc về phía cái hộp vẫn còn ở đó, nằm lờ mờ, bị che khuất bởi một phần vai người đàn ông. Cái hộp vẫn ở đấy. Tại sao chưa có ai lấy nó đi?

Như thể nhận ra động thái của tôi, hắn cũng liếc lại, môi hơi chùng xuống khi thấy tôi đang nhìn cái gì. Nhưng rồi hắn bỏ qua, lại tiếp tục phe phẩy cây quạt. Hắn muốn tôi đối thơ, chắc là thế. Nhưng tại sao lại là tôi? Và đối lại cái gì mới được? 

Và tại sao cái hộp kia lại ở đó?

“Nước non một gánh chung tình…” Người đàn ông bắt đầu lên tiếng, dường như đã sốt ruột sau một khoảng dài lặng thinh. Những chữ cuối cùng trong câu thơ hơi ngân ra, chẳng hiểu sao tôi lại nghĩ tới việc hắn muốn mớm lời cho tôi. Nhưng tôi không nói được gì cả. Đầu tôi trống rỗng, mắt tôi chỉ có cái hộp, và lòng tôi nặng trĩu một nỗi buồn thăm thẳm. 

Tôi đã quên cái gì rồi phải không?

“Nước non một gánh chung tình…” Tôi lặp lại lời hắn, cảm thấy khóe mắt mình nong nóng. Thế rồi những con chữ cứ thế mà tới với tôi. Tôi biết phần còn lại của những lời này, tôi là biết câu ca dao này. Chẳng hiểu sao tôi lại quên, nhưng không quan trọng. 

Tôi thì thào, cảm giác đầu nhẹ hẫng. “Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng?” Tôi mong trái tim cũng nhẹ theo, mà chẳng ngờ được, cõi lòng tôi vẫn cứ như đeo cả ngàn tấn đá. 

Thế rồi tiếng nhạc vừa nãy ở xa, bất chợt ùa vào, ghi đè lên cả những nghĩ suy lộn xộn mới nảy ra trong đầu mà tôi còn chưa kịp xếp thành hình. Người đàn ông tiếp tục nhìn tôi, cái nhìn vừa đau đáu, vừa phật lòng. Hắn nheo mắt, và đọc liền một tràng, những lời của hắn bị cuốn theo tiếng ồn xung quanh và chao đảo.  

“Ai nhớ người, người sao chẳng nhớ? 

Lòng người nguội hay tình đã tan?

Mượn lời xuân nhắn gửi chàng

Nếu còn quyến luyến, Hội làng gặp nhau.”

Vì một lí do nào đó, tôi vẫn nghe đủ cả bốn câu này. Và tôi còn nghe tim mình đập lỡ một nhịp thật là nhanh nữa. Hội làng. Có một thứ gì đó bật ra rất lẹ trong tiềm thức tôi, tựa hồ một lẫy chốt vừa được tháo, mở bung một cánh cửa mà tâm trí tôi chưa bao giờ nhận ra. Tôi nhìn, và tim tôi thổn thức. 

Tiếng nhạc thình lình vang tới thật gần, muốn dọa cho hồn vía của tôi nhảy ra ngoài mà bay đi mất. Tôi hoang mang, đưa hai tay tới trước, cố bấu víu vào người đàn ông, nhưng hắn lùi lại, rồi cứ thế tan biến, như một đụn rơm khổng lồ bị bão tố cuốn bay tan tác. 

“Cứu tôi.” Tôi hét lên như một nỗ lực cuối cùng, nhưng phần còn lại của khuôn mặt hắn chỉ ném cho tôi một ánh nhìn gườm gườm đầy tức giận. Tôi mặc xác, tiếp tục gào thét, lặp đi lặp lại hai từ cầu cứu. Chúng vô nghĩa và cộc lốc, chúng không có tứ thơ và còn chẳng nối vào nổi những gì hắn vừa nói, chẳng liên quan gì tới không khí đối thơ vừa rồi, nhưng tôi không quan tâm nữa. 

Dù sao cũng chẳng còn chút nào của khoảnh khắc đó nữa rồi. Xung quanh tôi bây giờ là một lễ hội đông đúc. Người ta chơi nhạc, cười nói, người ta vui đùa. Tôi ghét tiếng nhạc này, tiếng sáo này, tiếng đàn này. Tôi ghét cái sự vui tươi mà nó đem lại. 

Tôi ghét cái sự thật nghiệt ngã là lòng tôi, bất chấp những náo nhiệt xung quanh, vẫn quặn đắng trong một khoảng câm cô quạnh, buồn đến lạnh thấu xương. 

 

Phần 3: Hội làng

Tôi ngã sấp, rồi đứng dậy, thấy mình đã rời khỏi vị trí bên cạnh cây đa và đứng giữa một đám hội làng.

Bài thơ vừa rồi đã đánh thức một phần trí nhớ mà tôi tưởng đã ngủ quên mãi mãi. Trong suốt mười chín cái vạch tôi đã khắc lên cây đa, từng có một lần như vậy. Ba cái, liền nhau, được bôi thêm một thứ màu đỏ sẫm hơn bình thường, như để nhắc cho tôi nhớ tầm quan trọng của Hội làng. 

Hội làng rộn rã, không to lắm, cũng chẳng quá rình rang, nhưng đủ đầy mọi thứ mà một lễ hội phải có. Tôi bước vào, đi qua một cái cổng cao bằng tre đan. Tôi lắng tai, nghe tiếng nhạc réo rắt. Tôi đưa mắt, nhìn kỹ những lá cờ, cánh lụa tưng bừng bay. 

Tôi đưa chân về nơi tiếng nhạc phát ra, trong đầu cơ man là suy nghĩ. Nếu người đàn ông kì quái kia không bịp tôi, thì Hội làng là nơi tôi có thể lấy lại những mảnh kí ức đã rơi mất, những thứ tôi thậm chí còn chẳng nhớ là mình có để mà quên. Giờ thì Hội làng đã ở đây rồi, có lẽ cũng là lúc tôi phải tự tìm lại tất cả. Dẫu sao thì, Hội làng cũng đã tự đến với tôi, tôi làm sao lảng tránh được? 

Khi bước chân qua một ông thầy bói ngồi ven đường, tôi định ngồi xuống, hỏi xin gieo quẻ vu vơ, họa may lại tìm ra được tí manh mối về tình hình hiện tại. Thế nhưng tôi lại dợm thấy thấp thoáng dáng hình uốn lượn của hai con lân giữa đám đông ồn ào. Tò mò, tôi bỏ qua sạp bói, lại gần chúng. 

Trong thoáng chốc, tôi nghĩ là mình đã nhìn vào mắt của một con. Con vật không ngoảnh đầu, nhưng mắt nó xoáy tròn, ánh nhìn lờ đờ xộc thẳng vào linh hồn tôi như thể đó là chốn không nhà không cửa. 

Khi tôi định thần, thì cả hai con đều đã mất dạng. Tôi nuốt nước miếng, cảm nhận gai ốc nổi lên khắp cùng mình. Xung quanh tôi là hàng lớp lớp người, tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng trống, tiếng nói chuyện ồn ào, nhưng cơn ớn lạnh vẫn cứ chạy dọc sống lưng, như thể tôi đang đứng ở một khu nghĩa trang đã lâu lắm rồi không có sự sống lai vãng. Tôi lắc lắc đầu, gạt bỏ suy nghĩ ghê người ấy, rồi quả quyết đi vào sâu hơn vào dòng người tưng bừng. 

Trông họ không khác nhau là mấy. Tôi tự hỏi tại sao mình tới đây cũng đã nửa tháng rồi, nhưng lại chẳng quen biết ai. Tất cả những gì tôi nhớ, đó là họ đều mang hình dạng con người. Chấm hết. Chẳng có khuôn mặt nào đọng lại trong tâm trí tôi cả. 

Đó chẳng phải chuyện gì hệ trọng, bởi đám đông có lẽ cũng không quan tâm tới tôi. Có người nhìn tôi, có người lảng tránh, có người hối hả chạy qua đụng vào tôi, có người lướt đi và né để không va chạm, nhưng chẳng ai buồn để ý tới tôi lâu hơn một cái chớp mắt. Tôi nhận thấy mỗi người trong số họ đều có chữ ghi sau lưng áo. Một vài người lại gần, và tôi đọc được từ dân làng

Điều này khiến tôi buồn cười, suýt chút nữa thì bật ra tiếng. Tôi phải nín lại, đảo mắt nhìn đi nơi khác. Thật bất lịch sự khi cười cợt người khác vì một dòng chữ vô thưởng vô phạt–nhất là khi tất cả đều có một từ y hệt nhau như vậy và đó còn chẳng phải từ buồn cười. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, thật khôi hài, có phần kệch cỡm, dở hơi, khi mà người ta lại được ghi chú là dân làng như vậy. Người ở làng thì đương nhiên là dân làng, có gì cần làm rõ hơn hay sao? 

Một người đàn ông cao lớn, đầu trọc, đi lướt nhanh qua tôi. Tôi chợt khựng lại, một lần nữa cảm nhận nỗi sợ vô hình khi nãy quay về. Tôi hoảng hốt đưa mắt tìm trong đám đông mấy con lân, đồ rằng là do chúng nhìn mình, vì tôi có thể cảm nhận được một ánh mắt chòng chọc sau gáy. Nhưng khi tôi quay đầu lại, chẳng có con lân nào ở đó cả. Chỉ có người đàn ông vừa rồi, bóng lưng vẫn còn in hằn rõ giữa biển người huyên náo.  

Trưởng Làng là từ ghi đằng sau áo ông ta. Ông ta bước đi, tưởng chừng như đã bỏ qua tôi, và bất chợt quay đầu lại. Ánh mắt tôi chạm vào ánh mắt của ông ta, và tôi cảm thấy quen thuộc đến lạ. Đúng là cái nhìn đó. Nỗi sợ, ớn lạnh, rùng mình, khó hiểu, tất cả nối tiếp nhau bủa vây lấy đầu tôi. 

Thế rồi, trước khi tôi kịp định thần lại, mọi thứ xung quanh tôi biến thành một màu đỏ. 

 

Phần 4: Trưởng Làng

Tôi mở mắt ra và lại thấy mình đứng ở cây đa đầu làng. 

Tôi đứng bật dậy, vội vàng tìm một viên đá có cạnh sắc, khắc lên thân cây một đường run rẩy, cảm nhận từng giọt mồ hôi lạnh vã ra đầy trên trán. Tiếng đàn sáo trong Hội làng vẫn văng vẳng ở xa, nhưng tôi không còn cảm thấy rộn ràng như lúc trước nữa. 

Tại sao tôi lại có thể quên được Trưởng Làng? Tại sao tôi lại có thể quên ngay được những quy tắc ở làng này? Tôi nhìn lại ba gạch cũ màu đỏ. Tôi đã khắc chúng, đã tô đậm bằng máu của chính mình. Tôi đã làm như vậy để tự nhắc nhở bản thân về những điều cần ghi nhớ khi ở làng này, đặc biệt là ba ngày hội, và, như một kẻ đần độn bậc nhất trong số những kẻ đần độn, tôi đã quên hết sạch. 

Tôi cũng không rõ kí ức ấy trở về như thế nào. Tôi chỉ biết, chỉ chợt nhớ, chợt nhận ra. Ngày hội làng đầu tiên đã kết thúc và tôi đã ngu tới mức bỏ lỡ nó. 

Quy tắc đầu tiên, tôi run rẩy nhẩm. Dân làng không có hơi thở. 

Quy tắc thứ hai, tôi nhắm mắt lại, cảm nhận nỗi sợ ùa về như thác đổ. Không được để họ phát hiện mình không phải người làng. 

Quy tắc thứ ba, tôi mở mắt ra, nhìn chòng chọc về phía trước. Phải tham gia đủ ba ngày hội làng mới có cơ hội thoát khỏi làng này. 

Ánh nhìn của tôi đứng thẳng, không chút dao động, mặc cho cơ thể tôi chỉ muốn đổ rạp xuống đất và không bao giờ đứng dậy nữa. Quy tắc thứ tư, tôi mở miệng, lần này nói thật to. “Trưởng Làng có thể nhận biết hơi thở loài người. Không được để ông ta tìm ra mình.”

Vào đúng khoảnh khắc con chữ cuối cùng rơi khỏi miệng tôi, đằng sau lưng tôi chợt cảm thấy nóng bừng như có lửa đốt. Tiếng đàn, sáo, tiếng trống, chiêng, mới nãy còn ở xa, giờ đã tiến tới ngày một gần hơn. Những quy tắc theo nhịp nhạc cuồn cuộn trở về trong tôi. Trưởng làng có thể nhận ra hơi thở của tôi, nên tôi phải nín thở khi ông ấy lại gần. 

Tôi quay đầu, suýt chút nữa thì đứng tim, khi nhận ra mình đã lại một lần nữa đứng trong biển người tấp nập. Như lần trước, tôi không di chuyển lấy nửa bước khỏi cây đa, nhưng giờ tôi lại ở giữa làng, trong lễ hội. 

Tôi nhìn quanh, những khuôn mặt cứ trôi tuột đi trong tâm trí. Tôi muốn ngồi xuống, muốt hét lên, muốn kìm lại nhịp tim đang đập điên dại của mình. Tôi không làm gì cả, chỉ đứng chết trân, khi Trưởng làng một lần nữa rẽ đám đông, bước tới gần bên tôi. 

Ánh mắt ông ta đảo qua tôi. Môi ông ta mấp máy điều gì đó. 

Tôi đã nín thở rồi, đúng không? 

 

Phần 5: Người Mị hoặc 

Tôi nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, thất vọng vì mình không hề đứng cạnh cây đa đầu làng. 

Trưởng Làng vẫn yên lặng nhìn tôi, cặp mắt sắc lạnh như thể nói rằng ông ta đã biết tất cả. Nhưng trước khi tôi kịp để lộ mình, có một bàn tay nắm lấy tay tôi, kéo tôi thật mạnh về bên trái. Tôi lảo đảo, chúi người ngã theo đó.

“Đi theo tôi.”

Một giọng nói vang lên giữa đám đông, ngân nga tựa tiếng đàn nguyệt, ngọt ngào nhưng thâm trầm, êm ả nhưng thánh thót, cao tới độ đủ chèn lên hết những kèn sáo lễ hội. Người đó kéo tôi đi thật nhanh, rời xa khỏi Trưởng làng. Tôi không dám ngoái lại, cung cúc chạy theo sau họ. 

Tôi thoáng trông thấy dòng chữ Người Mị Hoặc ghi đằng sau lưng áo người đó. Tôi vừa chạy, vừa lo. Quy tắc tiếp theo đã nảy ra trong đầu tôi, và nó có liên quan tới Người Mị Hoặc. Nụ cười và tiếng hát của Người Mị Hoặc sẽ khiến đầu óc mình mê mẩn. 

Người Mị Hoặc dắt tôi tới một khoảng rộng, thưa người hơn, bên cạnh một vườn cây ăn quả xanh um, tán cây đổ bóng dày, có phần heo hút. Trong phút chốc, cảm giác ngộp thở của tôi không còn nữa. Tôi đưa mắt nhìn cậu, cậu đáp lại tôi bằng một nụ cười, và thế là tôi chẳng kìm được cơn rùng mình. Người Mị Hoặc đúng là có nụ cười rất đẹp. 

Muốn đối phó với Người Mị Hoặc, chỉ có hai cách. Một là tìm và nấp sau lưng một kẻ tên gọi là Người Niềm Nở. Tôi chẳng thấy ai có dòng chữ đó, hay thậm chí là trông có một tí niềm nở nào ở quanh đây cả, nên cách này coi như vô dụng. Hai là gieo duyên cho Người Mị Hoặc đến với một kẻ khác mang tên Người Chơi Đàn Nguyệt ở làng Chín Muồi kế bên. Tôi còn chưa ra nổi khỏi làng này, đừng nói tìm nổi người làng bên. Cách này cũng hoàn toàn bất khả. Tôi chỉ có thể tự lực cánh sinh. 

“Cảm ơn,” tôi thì thầm, cố gắng không nhìn cậu. Tôi không muốn bị mê mẩn. Tôi cần tỉnh táo, tĩnh trí. Tôi phải giữ vững tinh thần. 

Ấy vậy mà, trái với tiên liệu của tôi, Người Mị Hoặc chẳng có vẻ gì là sẽ khiến tôi điên đảo. Cậu im lặng rất lâu, lâu đến mức khiến tôi tự dưng phải ngước lên tò mò. 

Cậu không hát, cũng chẳng cười. Cậu không mê hoặc như cái tên viết đằng sau lưng cậu. Một dải cảm xúc hỗn độn hiện lên trong mắt cậu, nhưng tôi chẳng thể đọc được là gì. Thất vọng? Buồn? Mênh mang? Nhớ nhung? Tiếc nuối? Có cả chút gì đó như là…đau lòng? 

Hay là tức giận, như thể cậu vừa bị ai đó giật đi thứ mình yêu quý nhất? 

Như thể tôi vừa giật đi của cậu thứ cậu yêu quý nhất? 

“Tôi làm gì sai à?” Tôi hỏi, chỉ vì không thể chịu được sự im lặng nặng nề đó nữa. Người Mị Hoặc không đáp lời, nhưng ánh mắt chẳng hề rời đi đâu, và những dòng cảm xúc kỳ quặc cũng vậy. Tôi để ý thấy đuôi mắt Người Mị Hoặc có một nốt ruồi nhỏ, từa tựa dáng hình một giọt lệ đọng lại.  

Giống như thoáng dấu tích một nỗi buồn nào đó không thể nói ra thành câu từ, lại cũng chẳng thể tẩy xóa, dù cho vật đổi sao dời, dù cho thăng trầm năm tháng. Cậu cứ như thế mà nhìn tôi chằm chằm, khiến tôi tự dưng cảm thấy, phải chăng mình đã gây ra thảm họa gì rồi?

Nhưng đâu thể nào được? Bởi vì tôi chỉ mới gặp cậu lần đầu tiên mà? 

“Đi ra theo con đường này,” cậu nói, khoát tay về phía khu vườn nhỏ được rào lại bằng mấy thanh gỗ lưa thưa. “Cứ bám theo dấu những cây đã đậu trái chín, sẽ ra được đầu làng.”

Tôi định phản bác, nhưng Người Mị Hoặc đã nhìn tôi một lần nữa. Ánh mắt cậu vẫn còn nhiều đớn đau, nhưng kiên quyết, như ngầm nói rằng lời cậu là lời cuối cùng. Nhìn qua vai cậu, tôi thấy Trưởng Làng giữa đám đông, xa xa còn có hai con lân xanh lè. Tôi hiểu ý của Người Mị Hoặc. Tôi sẽ không thể sống sót nếu cứ lăn tăn ở đây. 

Thế nên tôi bước qua rào, đắm mình vào màu xanh cây lá, ngước mắt lên tìm những trái chín đậu. Không quá nhiều, nhưng đủ tạo ra một con đường. 

Người Mị Hoặc sẽ không lừa tôi chứ? 

 

Phần 6: Người Niềm Nở

Bước ra khỏi con đường cây, tôi nhắm mắt, rồi thở phào nhẹ nhõm. Tôi lại thấy mình đứng ở cây đa đầu làng. 

Nhưng lần này tôi không có một mình. Có một người đàn ông đã chực sẵn ở đó, thân quen như thể cây đa này thuộc về anh ta. Anh ta đứng xoay nghiêng về phía tôi, ánh mắt váng vất ở nơi nào đó xa xăm, như một kẻ lạc lõng giữa mộng ảo và thực tại. Tôi không nhìn được lưng áo anh ta, nên cũng chịu, không thể nói được anh ta có vai trò gì. 

Khi tôi bước lại gần hơn, người đàn ông chợt quay lại nhìn tôi chằm chằm, nét mặt không có tí chút nào là bất ngờ. Có một nụ cười rộng ngoác, thiếu tự nhiên, gần như đóng băng lại trên gương mặt anh ta, chẳng hợp chút nào với ánh mắt nửa săm soi, nửa nghi ngại cứ chiếu vào tôi chòng chọc.

“A,” người đàn ông nheo mắt lại, miệng vẫn cười cứng đờ như vậy, âm thanh như một tiếng ré phát ra vang dội. “A. Sao lại ra đây?” 

Tôi sững người, cảm nhận một kí ức tiếp theo trở lại. Quy tắc về Người Niềm Nở, hay là cái tên của người đàn ông với nụ cười hóa đá đang đứng trước mặt tôi. Người Niềm Nở sẽ bảo vệ mình khỏi Người Mị Hoặc.

Tôi rùng mình. Nhưng chẳng phải mình vừa mới gặp Người Mị Hoặc hay sao? 

“Sao lại ra đậy?” Người Niềm nở tiếp tục nhìn tôi, lặp lại câu hỏi. Chẳng biết có phải tôi đang tưởng tượng hay không, nhưng tôi nhìn thấy khóe miệng anh ta thu hẹp lại. Nụ cười của Người Niềm Nở có lẽ không thường trực như tôi nghĩ, và có lẽ là tôi không muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu nó biến mất hoàn toàn. 

“Sao lại ra đây?” Câu hỏi bắt đầu dồn dập hơn. Tôi có thể nhìn thấy hai hàm răng trắng sứ đầy quỷ dị cử động, như muốn ngoạm lấy đầu tôi mà nhai nuốt. 

Tôi ngoảnh đi, lắp bắp, buột ra lời nói dối đầu tiên xuất hiện trong óc mình. “Tôi tìm anh.” 

“Tìm ta?” Người Niềm Nở bật cười vang dội, tiếng cười đang trầm đục, đột nhiên lại cao vút, như tiếng một ngàn chiếc chuông bạc bạc đinh tai, mỗi chiếc một cao độ, khoan thẳng vào tâm trí tôi lanh lảnh. “Tìm ta? Cũng biết tìm ta? Muộn mất rồi. Muộn mất rồi.”

“Cái gì muộn?” Tôi nghi hoặc. 

“Muộn rồi,” anh ta không trả lời, chỉ lặp đi lặp lại, câu từ đã biến thành tiếng hát điên cuồng, và nụ cười cứ thế dần thu hẹp lại. Người Niềm Nở quay đầu, hất cằm về nơi mà lúc trước tôi từng nhìn thấy cái hộp. “Biết trong đó là gì không?” Anh ta hỏi.

Tôi bất ngờ, nhìn anh ta, rồi nhìn lại cái hộp. Nó vẫn ở nguyên đó, có lẽ còn chẳng xê xích tí ti nào. Chân tay tôi bứt rứt, dậm dựt muốn chạy lại, nhưng toàn bộ từng tế bào còn lại trong cơ thể tôi lại cứng đờ, kiên quyết không tiến thêm bước nào. Lồng ngực tôi như có lửa đốt. 

Và tôi nhìn lại Người Niềm Nở, khuôn miệng cười đã hóa thành một sợi chỉ mỏng tang. Anh ra nhìn cái hộp, rồi nhìn tôi, lặp lại. “Trong đó là gì?” 

“Tôi không biết.”

“Sai!” Anh ta ré lên, rồi lại đổi giọng ồm ồm. “Sai.” 

“Tôi thực sự không biết.”

“Sai rồi!” Người Niềm Nở quắc mắt nhìn tôi, đuôi mắt cong xuống. “Sai rồi. Ngươi trả lời sai. Đúng là ngươi đã quên thật rồi. Ta đã thất bại rồi.” 

Anh ta đổ rạp xuống đất như một cây tre bị gió quật, hoàn toàn bất thình lình. Khi tôi lại gần, vai anh ta chợt rung lên, rồi toàn thân bắt đầu run rẩy. Người Niềm Nở ngẩng mặt lên nhìn tôi, mắt và miệng đều cong xuống. Một giọt nước dài rời khóe mi, lăn trên má anh ta, rơi xuống đất, thấm thành một vòng tròn nhỏ. Nước mắt sau đó cứ thế tuôn trào, sắc màu đậm dần như chiều hoàng hôn thắm đỏ. 

Người Niềm Nở khóc. Tôi thoảng nghe tiếng sấm bên tai đì đùng. Mưa? Hay bão tố, cuồng phong? Hay bất cứ cái thời tiết quỷ tha ma bắt gì miền đất điên rồ này có thể tạo ra nữa? Ngực tôi thắt lại, và sắc đỏ bên ngoài lại một lần nữa đổ đầy tròng mắt. 

 

Phần 7: Thầy Bói 

Tôi mở mắt ra và thấy mình nằm ở cạnh cây đa đầu làng. 

Ánh chiều đỏ y nguyên như trước khi tôi ngất, cho thấy rằng ngày hôm nay vẫn chưa kết thúc. Trời không mưa như tôi nghĩ, còn Người Niềm Nở cũng đã mất dạng, để lại một vệt dài đỏ lòm, ngoằn ngoèo chạy từ chỗ tôi tới cái hộp. 

Tôi lật đật ngồi dậy, kiểm tra người xem mình có bị thương tích gì không, rồi đưa tay chạm vào khoảng đỏ trên nền đất. Có một chút màu dính vào tay tôi, nhớp nhúa, tanh khẳn. Là máu. Máu chưa khô, có nghĩa là Người Niềm Nở chỉ vừa mới rời đi mà thôi. 

Vệt máu dẫn tới cái hộp mà tôi vẫn luôn luôn tò mò ấy. Nhưng tinh thần tôi đã quá rệu rã để mà phân vân, cơ thể tôi cũng chẳng còn sức giằng co qua lại xem có nên ra đó nhìn không nữa. Thế nên tôi ngồi lại, ì ra như thể dưới thân mình đã mọc rễ nối vào cây đa, ánh mắt đảo lên màu chiều đỏ như giấy tiền đốt cho người âm, và tự hỏi mình đã làm gì nên nông nỗi. 

“Vạn vật đều có nhân quả,” một giọng nói đột ngột vang lên đằng sau lưng tôi, gây giật mình tới mức suýt chút nữa thì tôi đã bắn vọt lên trời. “Hôm nay là hệ quả của hôm qua, cũng như ngày mai là hệ quả của hôm nay.” 

Tôi ngoái nhìn, thầm cầu nguyện sẽ không phải đối mặt với tên đọc thơ, hay cái Người Niềm Nở gàn dở đó nữa. Phước đức bảy mươi đời tôi, đó không phải là bất kì ai trong số họ. Xui xẻo, có lẽ vậy, của tất cả những đời khác cộng lại, đó là một gã để râu cằm, người nhỏ nhắn, đôi mắt khuất hoàn toàn sau cặp kính đen kịt. 

Thầy Bói là từ mà tôi nhớ ra, đi kèm theo đó là quy tắc chẳng mấy dễ chịu về gã. Thầy Bói sẽ nhúng tay vào vận mệnh của mình nếu gã biết rõ về mình, vì vậy phải luôn nói dối khi gặp Thầy Bói. 

Tôi quay đi, cố gắng không gây ra tiếng động, thầm mong gã Thầy Bói này bị mù thật và không nhìn thấy mình. Hão huyền. Gã tiến lại gần tôi và ngồi xuống, chình ình một đống trước mặt, chẳng buồn phép tắc, lễ nghĩa gì, cứ thế ngoảnh đầu theo hướng con đường máu mà Người Niềm Nở bỏ lại, cho tới khi “nhìn thấy” cái hộp. 

“Cái hộp đó,” Thầy Bói trầm ngâm, “là của mi à?”

Tôi không biết. “Không,” tôi nói dối. 

“Thế sao mi chú ý đến nó thế?” Gã điềm nhiên nói. Chẳng để tôi phản bác, gã nhào tới, chộp lấy cổ tay tôi, chạm hai ngón tay vào vùng mạch. Tôi cố giật lại, nhưng tay Thầy Bói mạnh như một cái kìm bằng sắt. 

Tôi không biết. “Tôi không hề chú ý.”

“Mi có chú ý,” gã cười he hé, rồi lại nghiêng đầu. “Muốn biết có gì trong đó không?” 

Có. “Không.”

“Sao mi nói dối nhiều thế?” Thầy Bói chặc chặc lưỡi. “Không nên chút nào.”

Tôi không biết. “Tôi không nói dối.” 

“Thôi nào,” Thầy Bói “nhìn” tôi. “Thành thật đi. Mạch mi đang lồng lên như con chó mừng chủ đây này.”

Nghĩa là sao cơ? “Tôi vẫn đang nói thật.”

“Chó, tức tuất,” Thầy Bói nghênh đầu, ra chiều suy nghĩ. “Tuất là con giáp thứ 11. Mi nóng tính vậy là mệnh hỏa. Hỏa là thứ 4, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. 11 cộng với 4 là 25. Mi đã ở đây 25 ngày rồi sao?”

Tôi lườm gã, kèm theo một cái liếc mắt chán nản về thân cây đầy vạch bên cạnh mình. Chẳng biết Thầy Bói giả mù nên mới cố tỏ vẻ phán sai như thế, hay là gã dốt tính dốt toán thật. Có lẽ gã nên đổi thành Thầy Bịp thì đúng hơn là Thầy Bói. 

Thầy Bói thả tay tôi ra, rồi bất chợt nghiêm giọng. 

“Vạn vật đều có nhân quả. Hôm nay là hệ quả của hôm qua, ngày mai là hệ quả của hôm nay.” Gã đọc lại, chầm chậm, giọng vang lên đầy nhạc tính, tựa hồ đang ngâm một lời chú nguyền. “Ngày sau nữa là hệ quả của ngày sau, và cứ như vậy mãi. Ngươi hiểu không?” 

“Vâng,” tôi dài giọng, mai mỉa. “Thầy đã nói–”

“Nhưng mi có hiểu không?” Gã cắt ngang lời tôi, rồi lại cười hé hé. “Cá mười ăn hai mươi là mi không hiểu.”

Không. “Không.”

“Dốt lắm,” tiếng cười của gã ngừng bặt, và âm sắc ngân nga như một khúc nhạc ban nãy quay lại. “Ta bảo cho mà nghe, muốn biết chuyện gì đang diễn ra, mi phải nhìn lại phía sau.”

Tôi giật tay mình khỏi tay gã. 

Tôi không hiểu gì hết. “Cảm ơn, tôi nghĩ là tôi đã hiểu rồi.”

“Không,” Thầy Bói đứng lên, quay người, dợm bước đi. Dòng Thầy Bói ghi sau lưng gã chao đảo trong mắt tôi. “Mi chưa hiểu.”

Đúng vậy. “Tôi hiểu rồi.”

“Chưa hiểu thì cứ nói ra, sao phải giấu như thế?”

“Tôi hiểu rồi nên mới không nói gì.” Tôi quắc mắt. “Sao thầy nói nhiều thế?”  

Gã nghiêng đầu, như đang nhìn tôi qua vai, miệng mở ra định nói gì đó, nhưng khựng lại. Và, chẳng một lời, gã chép miệng rồi bỏ đi thẳng một mạch. Men theo dòng máu chưa khô dưới đất, ngang qua cái hộp nằm chơ vơ, về nơi ánh chiều đỏ thẫm dần, ngả đen, cho tới khi dáng hình của gã hòa tan vào bóng đêm đang dần loang ra ấy. 

Tôi không nhìn theo gã Thầy Bói đang lững thững rời đi nữa, chủ yếu là vì tôi không muốn phải nghĩ về cái hộp. Tôi quay đi và nhắm mắt lại. 

 

Phần 8: Người Thổi Sáo

Tôi mở mắt ra và lại thấy cây đa quen thuộc. Trời đã sáng, những nét vạch trên thân cây đập vào tầm nhìn của tôi rõ mồn một. Tôi biết rằng nếu mình nhìn về chếch chếch phía bên trái một chút, tôi sẽ thấy một cái hộp yên lặng như tờ ở đó. Tôi không muốn bận lòng vì nó, vậy nên tôi chọn đánh mắt sang bên phải. 

Tiếng nhạc Hội làng ùa về, khiến tôi chợt nhận ra đây là ngày thứ ba, có lẽ cũng là ngày cuối cùng tôi còn cơ hội để thoát khỏi câu chuyện quái gở này. Tôi tất bật đứng lên, nhằm theo hướng đó mà thẳng tiến. Tôi hiểu, dù tôi có đi tới hay không, Hội làng cũng sẽ tự tìm tới tôi. Nhưng tôi thích sự chủ động. Nếu có làm sai, ít nhất đó cũng phải là hệ quả của những lựa chọn mà tự tay tôi chuốc về. 

Vậy là tôi rảo bước đi, theo hướng tiếng nhạc và ngược đường với những lời gào thét của nỗi sợ đến từ tận đáy tâm can. 

Có một người thình lình bước ra phía trước tôi. Tôi biết hắn. Tôi đã gặp hắn rồi, chỉ là khi ấy tôi chưa nhớ ra tên hắn mà thôi. Nhà Thơ không phải một kẻ dễ bị lãng quên–tôi đã từng quên hắn một lần, nhưng tôi dám chắc là mình sẽ không bỏ hắn ra khỏi tâm trí thêm lần nào nữa. Hắn không trông thấy tôi, hoặc là có thấy mà không thèm để ý. 

Theo sau Nhà Thơ, tôi im lặng, bước chân qua cổng Hội làng. Nhà Thơ sau đó vụt biến mất, để tôi đứng chơ vơ một mình giữa biển người náo động. Tôi cảm thấy nhẹ lòng. Mặc dù lần gần đây nhất có thể coi là hắn đã giúp tôi nhớ lại kí ức, nhưng đó là theo một cách chẳng vui vẻ gì. Tôi sợ phải đối đáp với Nhà Thơ, sợ hắn sẽ tung cái quạt đỏ Đối thơ vào mặt tôi một lần nữa. Tôi sợ cảm giác bí từ, thấp kém hoàn toàn khi đứng cạnh hắn. 

Tôi lại thấy Trưởng Làng, nhưng có vẻ như ông ta không thèm bận tâm tới tôi nữa. Xa xa có gã Thầy Bói dựng sạp ven đường, và thi thoảng tôi nghĩ là tôi đã thấy Người Niềm Nở ẩn hiện trong đám đông. Điều này khiến tôi hơi bần thần, nhận ra mình có thể điểm mặt gọi mấy người bọn họ. Có lẽ ý nghĩa của việc ghi tên ở đằng sau lưng là như vậy. Những người mang tên khác, không phải dân làng , đều là những gương mặt đáng lưu tâm. 

Thế rồi ánh mắt tôi dừng lại ở đôi lân xanh, nổi bật giữa vô vàn lụa đỏ trang trí trong hội làng, đang cuộn người múa theo một giai điệu ngọt ngào rất quen thuộc. Chẳng hiểu sao cảnh tượng đó khiến tôi rùng mình nhè nhẹ. Tiềm thức tôi nói nó đã nghe thấy khúc nhạc này ở đâu rồi, nhưng lí trí tôi lại gạt đi, cho rằng điều đó thật là vô lý. 

Một người đàn ông bước ra giữa hai con lân, nhảy múa cùng với chúng. Ông ta dừng lại khi tiếng đàn ngừng, khoát tay, rồi rút ra từ dưới vạt áo một cây sáo gỗ. Tim tôi như ngừng nhịp người đàn ông làm một động tác quay người, nhanh và nhẹ, nhưng đủ chậm để tôi đọc được những chữ ghi sau lưng ông ta. Người Thổi Sáo. 

Tôi nhắm mắt lại, tự nguyền rủa bản thân không biết là lần thứ bao nhiêu, khi những quy tắc tôi tưởng như đã quên sạch nay lại thấm dần vào trí óc. Người Thổi Sáo là một kẻ nguy hiểm, có thể nói là vào hàng nhất nhì trong số tất cả những thứ-hình-người của ngôi làng này. 

Tiếng sáo của Người Thổi Sáo sẽ điều khiển cơ thể, khiến mình không thể phản kháng. Tôi lùi lại, theo quán tính đưa hai tay lên bịt tai. Những người xung quanh không ai chú ý đến tôi, tất cả đều đang hướng mắt về màn biểu diễn. Cũng tốt, tôi vừa nghĩ, vừa bước ra xa khỏi họ. Lúc trước còn có đàn, bây giờ chỉ còn sáo. 

Âm thanh lớn, chẳng hiểu sao vang rất xa, khiến tôi phải dùng hết sức bình sinh áp chặt hai bàn tay. Vô hiệu. Tôi nhăn mặt, cố gắng bỏ tay thật nhanh, dùng hai ngón trỏ thọc sâu, nút chặt lỗ tai, phần bàn tay còn lại xòe ra, áp vào xung quanh, ngăn tạp âm lọt vào.

Không được. 

Không có tác dụng. 

Tôi ở quá gần Người Thổi Sáo. 

Tôi lùi tiếp về phía xa, lọng cọng, vừa tránh người, vừa cố không vấp ngã. Vẫn không đủ. Tôi vẫn nghe được tiếng sáo lùng bùng, cứ như là nó đã tìm được một góc nào đó trong linh hồn tôi và đóng cọc ngồi im ở đó. Hai con lân, chẳng biết từ đâu xồ ra, đứng chặn đường lui của tôi. Tôi muốn rít lên, nhưng Trưởng Làng xuất hiện. 

Tôi cố nén một tiếng thở, nhận ra Trưởng Làng đang lù lù tiến về phía mình. Tiếng sáo vẫn nhỏ giọt qua những kẽ ngón tay tôi, và giờ thì tôi còn phải nín thở. Đầu tôi bắt đầu ong ong. Tôi nghĩ là mình sắp ngất. Nếu ngất đi rồi, liệu tôi có còn nghe phải tiếng sáo chết người đó không? Hay là tôi sẽ rơi vào trạng thái vô thức không thể kiểm soát, Trưởng Làng sẽ nhận ra được tiếng thở của tôi và bảo dân làng đánh tôi chết? Nếu bị phát hiện thì sao? 

Thì sao nhỉ? 

Tôi mở mắt, lồng ngực bỏng như nắng trời tháng tám, điên cuồng lục lạo trong kí ức mình một câu trả lời thỏa đáng. Nếu bị phát hiện thì sao? Tôi sẽ tan biến, vĩnh viễn không còn bao giờ vạch được nét nào lên trên cây đa, cũng chẳng còn tò mò ai oán về cái hộp điên rồ đó nữa? Hay là mọi thứ sẽ quay trở lại từ đầu, và lại kết thúc khi tôi bị giết ở lần tiếp đó? Hay là tôi có thể thoát khỏi đây–

Một giọng hát vang lên, gần như cùng lúc với tiếng sáo. Tôi nghe không rõ, vì hai tay vẫn đang bịt tai, nhưng tôi có thể cảm nhận được thanh âm trong trẻo giữa mớ nút tai ù ù ấy. Đó là giọng nói đã từng cứu tôi một bàn thua trông thấy, một khắc trước khi Trưởng Làng túm cổ tôi hôm qua. Đó là người đã chỉ cho tôi đường thoát khỏi cơn ác mộng. 

Người Mị Hoặc đứng chắn ngang giữa tôi và Người Thổi Sáo. Một tay cầm quạt hướng về Trưởng Làng, tay còn lại múa nhè nhẹ, cậu cất tiếng hát đè lên tiếng sáo réo rắt. Cùng một khúc nhạc, cùng một giai điệu, một bản hòa âm hoàn hảo. Tôi nghe được chút tiếng cười đầy ma mị chen vào giữa những câu hát, cùng lúc đó cũng thấy tiếng sáo bị hòa tan, nhỏ dần, thoát khỏi tâm trí mình.

Người Mị Hoặc xoay một vòng, tà áo the bay lả lướt theo cơ thể uyển chuyển, chiếc quạt trong tay vung vẩy điệu đà. Trong mắt những người còn lại, có lẽ Người Mị Hoặc chỉ đang góp vui. Trong mắt tôi, đó là một lần nữa cậu nắm lấy tay tôi từ lập lờ ngưỡng cửa địa ngục và dùng hết sức bình sinh kéo tôi trở lại trần thế. 

Vào khoảnh khắc nhận thức ấy đến với tôi, mọi nghĩ suy của tôi về những gì sẽ xảy ra sau khi chết đều biến mất sạch. Tôi bất biết cái chết là như thế nào, tôi không quan tâm mình sẽ đi đâu, về đâu. Tôi sẽ không chết–tôi không muốn chết. Có lẽ tôi đã bị mê muội quên mất lối về, có lẽ tôi đã rơi vào hàng hàng lớp lớp dụ hoặc của cậu, ngay từ cái khoảnh khắc cậu kéo tay tôi chạy đi rồi. Không quan trọng. 

Người Mị Hoặc đã cứu tôi hai lần, bằng chính cái thứ mà những quy tắc trong đầu tôi đinh ninh là vũ khí chết người của cậu. Tôi muốn sống, để không phụ lòng cậu. Tôi muốn sống, để hiểu hơn về cậu. Tôi muốn sống, sống ở lại đây, sống bên cạnh cậu, sống vì cậu. 

 

Phần 9: Là ai? 

Tôi đứng dậy, loạng choạng, giữa Hội làng. 

Người Mị Hoặc đưa tay đỡ tôi, nhưng tôi lắc đầu từ chối, tự mình đứng lên. Cậu đã giúp tôi quá nhiều, tôi không thể cứ dựa dẫm như một đứa ngố tàu vậy được. Qua khóe mắt, tôi thấy gương mặt cậu chùng xuống. Lòng tôi nhói đau, dù tôi cũng chẳng hiểu vì sao. Tôi đoán là có một mảnh kí ức nào đó mà tôi đã quên mất, một trong muôn vàn những mảnh vỡ không thành hình, trôi lập lờ trong óc tôi, có cạnh rất sắc. Chính nó đã cắt thật đau vào tâm trí tôi hiện tại. 

Chẳng rõ tại sao trước kia chuyện này chưa từng xảy ra. Tôi đã sớm tập cho mình thói quen ngừng đặt câu hỏi về những thứ dị thường trong ngôi làng Không-Hơi-Thở này rồi, nhưng lồng ngực vẫn không ngừng nhói buốt. Tôi đưa mắt trộm ngó Người Mị Hoặc. Cậu không đáp lại tôi, thất thần nhìn thẳng về phía trước. 

Bất chợt, có một bàn tay vồ lấy tôi từ đằng sau. Theo phản xạ, tôi gạt người này ra, quay lại nhìn. Đó là một gã trai lại mặt. Không phải Nhà Thơ, không phải Trưởng Làng, không phải Người Niềm Nở hay Thầy Bói, càng chẳng giống Người Thổi Sáo chút nào. Gã trông rất trẻ, có lẽ chỉ già hơn Người Mị Hoặc một ít tuổi. 

Tôi cảm nhận không khí nén lại khi đám đông xung quanh dần dần hướng về phía gã. Không phải kiểu tất cả cùng một lúc đổ dồn vào, mà là như một chuỗi phản ứng dây chuyền chậm rãi và căng thẳng, cứ người nọ nối tiếp người kia quay đầu nhìn. Ngay cả hai con lân cũng tà tà trở lại đám đông, bốn hốc mắt vô hồn xoay tròn cho tới khi dừng lại ở gã, đóng đinh tại đó, không rời đi nữa.

Gã trai trông có vẻ mừng rỡ khi trông thấy tôi, gã nắm lấy tay tôi lắc lắc. Gã thở hồng hộc, câu từ cứ tan tác trong hơi thở, lắp bắp, không rõ lời. Tôi nhíu mày, chợt cảm thấy có gì đó sai, sai lắm lắm. Gã tiếp tục nói, nhưng tôi chẳng để được lời nào vào tai. Mọi thứ cứ biến mất trong tiếng thở hổn hển. 

Gã có hơi thở. Tôi giật mình, cố tình chạy qua để nhìn lưng gã. Trên lưng gã không có chữ gì. 

“Nó là con người,” giọng Trưởng Làng đanh và mạnh vang lên dõng dạc ngay bên cạnh tôi, cặp mắt ông ta ghim lấy gã trai trẻ. Cái áo gã mặc lập tức biến đổi, một dòng con người hiện lên lù lù. Gã sợ tới mức quíu lại, bấu tay tôi chặt hơn, nhưng tôi hoảng hồn giật ra. Gã nhìn tôi van vỉ, rồi ánh mắt chợt chạy qua Người Mị Hoặc. 

“Xin–” gã líu ríu, một tay cầm tay tôi, tay còn lại níu tay Người Mị Hoặc. Gã áp tay chúng tôi vào nhau, cẩn thận giữ cho mấy ngón tay đan chặt, giọng run rẩy van lơn. “Xin cứu tôi. Tôi t-tìm ra anh ta rồi,” gã nhìn Người Mị Hoặc khẩn nài. “Anh ta là–”

Người Mị Hoặc giật tay ra, nỗi buồn mênh mang trong mắt cậu lúc trước chợt hóa thành một cơn giận khốc liệt. Cậu bước lên trước tôi, một lần nữa cất tiếng hát. Cùng lúc đó, Người Thổi Sáo kê cây sáo lên miệng, nhưng tôi không nghe được gì, bởi giọng của Người Mị Hoặc đã át đi hết cả. 

Gã trai có vẻ không may mắn như thế. Gã quỵ xuống, muốn bịt tai, nhưng không được nữa. Trông gã như một con rối đứt dây, hai cánh tay cứng đờ bên dưới thân hình thảm hại. Ánh nhìn hoảng loạn trong mắt là bằng chứng cuối cùng về sinh lực mà tôi còn cảm nhận được ở gã. 

Trưởng Làng rẽ đám đông, nói lớn. “Nó có hơi thở.”

Người Niềm Nở tới liền sau Trưởng Làng, nụ cười đóng băng trên môi, nhưng nước mắt cùng máu vẫn cứ chảy dài trên má, nhỏ tong tỏng dưới cằm. “Nhìn mà xem, nhìn mà xem. Khung cảnh này khiến cho tôi khóc. Lỗi tại ai, tại ai đây?”

Nhà Thơ hiện ra ngay sau đó, như một cái bóng lọt vào từ một khe hở của hư vô, giọng trầm lắng, u hoài. “Lỗi này biết đổ cho ai?” 

Người Thổi Sáo hạ cây sáo xuống khỏi môi, toét miệng cười, đáp lời nhà thơ. “Đổ về cho kẻ khác loài chúng ta.”

Người Mị Hoặc ngâm nga câu thơ này, giọng cậu vút cao lên, biến nó thành một câu hát trong trẻo đến điếng người. Người Thổi Sáo lại nâng sáo, tiếp tục đệm theo lời cậu. Tôi rùng mình. Đó là một bài hát hay, nhưng mà sao quỷ quyệt quá.  

Thầy Bói là người chậm rãi tiến tới sau cùng, trên môi nở một nụ cười nửa miệng bí hiểm. “Đoán xem, vận mệnh của ngươi là gì?”

“Là gì? Là gì?” Đám đông lên tiếng, phụ họa.

“Sinh thần bát tự nắm trong tay. Chạy đâu cho thoát nghiệt kiếp này. Nhân thế trần gian, xin giã biệt,” Thầy Bói cười to, âm thanh vang vọng khắp nơi như lời sấm. “Từ nay ngươi thuộc về làng này.” 

Tiếng sáo và giọng hát của Người Mị Hoặc chạm tới một ngưỡng cao chói lói, khiến tôi lại phải bịt tai thêm một lần nữa. Nhưng dường như họ đã tìm được mục tiêu mới. Gã trai quay lại nhìn tôi, mắt đầy nước, và bắt đầu đứng dậy, vừa lê lết ra giữa đám đông, vừa tự bẻ quặp thân mình. Ban đầu gã thét lên trong đau đớn quằn quại, nhưng mọi thứ dần dần hóa thành một lời ngâm nga thê lương, cùng một giai điệu với bản nhạc của Người Thổi Sáo.  

Rồi hai chân gã xoắn xuýt lấy nhau như hai miếng cao su không có xương, xoắn tới đâu nghe thấy tiếng vỡ vụn tới đó. Sau khi gã không đứng được nữa, thì tay phải bắt đầu nắm lấy tay trái, b.ẻ thật lực. Khi tay trái thõng xuống, bị vô hiệu hoàn toàn, gã lại quỳ thẳng dậy trên đống xương máu lổn nhổn bên dưới, lưng uốn một đường vặn vẹo, nghe rõ tiếng gãy răng rắc. 

Cú xoắn khiến gã quay lưng về phía tôi, và tôi lại thất kinh khi nhìn thấy chữ con người dần dần chảy xuống, những vết mực loằng ngoằng như màn đêm nhỏ giọt. Nhưng tôi không kịp hoảng sợ lâu, bởi vì gã lại quay đầu lại, nhìn tôi một lần nữa. Hàm răng giờ đã be bét máu, khuôn miệng rách toang, đôi mắt dại hoàn toàn, nhưng vẫn có thể nhìn tôi, cười toe toét. Thế rồi cái đầu ấy cứ tiếp tục quay cho tới khi xương cổ không còn chịu được nữa. Một tiếng rắc nữa vang lên. Gã trai oặt xuống như một con búp bê bỏ đi.

Đám Không-Phải-Người xung quanh lập tức rời mắt khỏi gã trai, quay lại với nhịp lễ hội sôi nổi. Trưởng Làng là người duy nhất vẫn còn đứng đó, nhìn gã chăm chú. Thế rồi, với một cú búng tay, Trưởng Làng khiến cái xác không còn lành lặn của gã đứng dậy. Gã loạng choạng đi vài bước, gương mặt dần dần trở nên vô hồn, và đằng sau lưng gã, hai chữ con người nhòe đi, thay bằng dân làng. 

Cứ thế, gã biến mất vào đám đông. 

Gã là một con người xấu số mắc kẹt lại đây, và sẽ vĩnh viễn trở thành một phần của nơi đây. Gã là một người giống tôi , có lẽ thế. Có lẽ gã đã thất bại trong màn đối đáp của Nhà Thơ, khiến cho Người Niềm Nở rơi lệ, quên không nói dối Thầy Bói nên bị nắm thóp, và cuối cùng đã kích động Trưởng Làng để rồi bị Người Thổi Sáo và Người Mị Hoặc xử tử. Có lẽ gã là một kẻ kém may mắn, và tôi nên tự hào về vận may của mình…

Phải không? 

Tôi chợt cảm thấy đất trời chao đảo. Tôi cũng đâu có đối được thơ, tôi cũng làm Người Niềm Nở khóc. Tôi đương nhiên là nói dối tệ tới mức bị Thầy Bói phát hiện từng câu, và cũng chính tôi suýt nữa đã bị Trưởng Làng tóm cổ, bị Người Thổi Sáo cho thân thể không hoạt động được nữa rồi. Nếu không có Người Mị Hoặc, có lẽ cái kẻ vừa mới thành dân làng, nhận cái kiếp ngặt nghèo đó, phải là tôi. 

Tôi liếc sang bên cạnh, thấy Người Mị Hoặc vẫn đứng yên ở đó. Phải rồi, còn như vậy nữa. Tôi chưa bao giờ tìm Người Niềm Nở để trốn khỏi Người Mị Hoặc cả. Có lẽ tôi đã bị mê mẩn đến điên thật mất rồi, bởi vì rõ ràng tôi đã làm sai bét tất cả mọi quy tắc, vậy mà bây giờ tôi vẫn đứng ở đây. 

Chuyện quái gì đang xảy ra vậy? 

Không, tôi bất giác giật mình, nhớ lại tiếng thở hổn hển của gã trai. Không, không phải. Tôi lắc đầu, muốn chối bỏ, nhưng ý nghĩ đó chỉ vừa mới nảy ra đã nhanh chóng bén rễ, đâm chồi, xâm chiếm toàn bộ đầu óc tôi. Không thể nào? Tôi nhắm mắt lại, cố gắng tìm kiếm một lý do để trấn an bản thân. Tôi muốn hít một hơi thật sâu để có thể bình tĩnh lại. 

Nhưng tôi không hít được. Tôi cũng không thể thở ra. Suốt toàn bộ thời gian, kể từ lúc tôi lần khân bên cạnh cây đa, cho tới lúc tham gia Hội làng, tôi chưa bao giờ hít thở. 

Tôi không có hơi thở. 

Tôi không có hơi thở. 

Tôi không hề có hơi thở. 

Từ trước tới nay, tôi chưa bao giờ có hơi thở. 

Tôi lặng người đi, để cho nhận thức thấm dần vào từng chút một. Tôi không có hơi thở. Tôi chắc chắn không phải dân làng, vì tôi biết dân làng không hoạt động như tôi. Tôi không thuộc về làng này, vì tôi vẫn sợ những kẻ có tên sau áo. Tôi nắm rõ mọi quy tắc sinh tồn, và bằng một thế lực nào đó, mặc dù tôi làm sai, tôi vẫn còn tồn tại, còn nhận thức và là chính mình. 

Vậy thì tôi là ai? 

 

Phần 10: Cô Đào 

Tôi thất thểu bước ra khỏi Hội làng, vẫn chưa hết bàng hoàng, khúc mắc. Tôi nghĩ rằng Hội làng là cơ hội để tôi có thể thoát khỏi nơi này mãi mãi, nhưng tôi chẳng còn chắc chắn về điều gì nữa cả. 

Ngay cả bản thân mình là ai, tôi còn không biết. Tôi không có hơi thở, không phải con người. Tôi không phải một kẻ nào đó trong cuộc đời ngoài kia vô tình bị lạc vào đây, và tôi cũng chẳng phải người thuộc về nơi đây, bởi rõ ràng tôi chẳng có may mảy gì liên kết với tất cả những kẻ xung quanh mình cả. Tôi là một thực thể lai tạp, tồn tại vô nghĩa, là một thứ đồ có lẽ chẳng ai muốn nhận. 

Khi trở về bên cạnh cây đa, có một chiếc võng đã đợi tôi sẵn. Tôi không ngạc nhiên, vì tôi cho rằng mọi cảm xúc của mình đều không có thật, chẳng việc gì phải bận tâm cả. Tôi ngước mắt lên, nhìn người phụ nữ ngồi vắt vẻo trên võng, tự hỏi điều quái đản gì sẽ tới tiếp theo. 

Người phụ nữ có đôi mắt trong vắt, như một mặt hồ yên ả không gợn sóng, trên đầu chít khăn nhiễu mỏ quạ, bên dưới mặc áo tứ thân, những dải áo màu hồng điều tỏa ra quanh chiếc võng đỏ, khiến bà trông giống một đóa đào bích trong độ nở bừng rạng rỡ nhất. Cô Đào là từ xuất hiện trong đầu tôi khi nhìn thấy dáng hình bà, và tôi biết mình không gọi tên sai.

“Lệnh bà,” tôi cúi đầu thi lễ. Cô Đào không đáp lại, lặng lẽ nhìn tôi. Tôi ngước lên, thoáng chạm mắt với bà, nhưng bà nghiêng đầu, quay đi, dường như muốn tránh nhìn thẳng. Cô Đào gật đầu, thoáng chốc lặng im, rồi từ từ cất tiếng.

“Người đi, đi hoài xa xa, 

Để ai ôm bóng trăng tà năm canh.” 

Bà không đọc như thơ, mà ngân nga, kéo dài âm, từng con chữ hơi nảy, biến tất cả trở thành một bài ca lặng lẽ. Nhà thơ đã từng đọc bài thơ này, nhưng qua lời của Cô Đào nghe nó rất khác. Bà không có âm sắc oán trách như Nhà thơ. Bà chỉ có nỗi buồn, niềm tiếc thương vô tận.

“Ai nhớ người, người sao chẳng nhớ? 

Lòng người nguội hay tình đã tan?

Mượn lời Đào nhắn gửi chàng

Nếu còn quyến luyến, Hội làng gặp nhau.”

Câu ca dứt, bà nhìn tôi, lắc lắc đầu. 

“Đã nói rồi, mà không nghe,” bà lắc đầu, chép miệng. “Ngươi quên mất rồi, đúng không?”

Đúng. “Có lẽ vậy.”

“Ngươi có muốn nhớ lại không?”

Có. “Tôi không biết.”

Trong lòng tôi chợt vẳng lại giọng hát của Người Mị Hoặc. Tôi chưa nghe Người Mị Hoặc hát bài này bao giờ, vậy mà tôi có thể hình dung rõ ràng những câu chữ sẽ ra sao qua miệng cậu. Người Mị Hoặc có một giọng hát rất hay, rất mê đắm. Người Mị Hoặc cũng có một gương mặt đượm nét buồn, vừa day dứt, vừa ẩn nhẫn, như đại dương thẳm sâu, càng sâu bình lặng, nhưng lại càng tăm tối, trống rỗng, mãi mãi không thể lấp đầy. 

Giống như là nỗi nhớ trong bài ca, phải không?

Giống như là nỗi đau văng vẳng trong gương mặt cậu vào cái ngày cậu cứu tôi lần đầu tiên, phải không?

Cũng chính là nét thoáng buồn khi tôi từ chối để cậu đỡ tôi dậy khi ấy? 

“Có,” tôi sửa lại lời mình, khẩn khoản. “Tôi muốn nhớ lại.” 

Tôi không biết đó có phải một quyết định thông minh hay không, nhưng linh tính tôi mách bảo rằng tôi nợ Người Mị Hoặc rất nhiều. Tôi đoán là nỗi buồn của cậu có gắn với phần kí ức đã mất đi của tôi. Tôi phải nhớ lại. Tôi phải tìm cách chữa lành cho cậu. Tôi phải sống, tôi muốn sống. Sống để ở bên, để đáp đền, để hiểu cậu. Sống vì cậu.

“Cũng may ta đã dự trù,” Cô Đào chép miệng. “Cái đám kia đã cố hết sức gợi ý, ngươi vẫn cứng đầu không chịu nhớ. Thế nên ta đã để lại một manh mối, phòng khi cả lũ đều thất bại. Cái hộp kia sẽ là câu trả lời cho ngươi.” 

Tôi rùng mình, nhìn về con đường đã khô máu mà Cô Đào chỉ tay, tới chỗ cái hộp nằm im lim. Sau tất cả, đó vẫn là câu trả lời cho mọi thứ. Cơ thể tôi vẫn phản kháng, nhưng tôi bắt đầu gồng mình lên, dùng hết sức tiến tới. Những bước chân nặng như chì, nhưng tôi cố không để bản thân dừng lại. 

Tôi lại gần, chạm vào nắp hộp, chậm rãi mở ra. Tôi đã chờ đợi một thứ quỷ quyệt gì đó, tương tự như bọn lân màu xanh, nhảy xổ vào mặt mình. Nhưng chẳng có gì kinh khiếp như vậy cả. Bên trong hộp là một cây đàn nguyệt. 

Nhấc cây đàn ra khỏi hộp, tôi có hơi chút lúng túng, những ngón tay vụng về trượt trên dây đàn. Nhưng chỉ trong thoáng chốc đó thôi, và tay tôi dần dần quen với tất cả. Như một bản năng khóa kín, giờ đã bừng tỉnh sau giấc ngủ đông rất dài, tôi lên dây, gác cây đàn lên đùi, tự nhiên đàn một khúc trôi chảy.

“Là đàn của tôi,” tôi nói, nửa như với Cô Đào, nửa như cho chính mình nghe. Không có một cơ sở, lí lẽ nào, không có một quy tắc nào cho việc này cả. Đơn giản là tôi biết mà thôi. 

“Muốn biết chuyện gì đang diễn ra, ngươi phải nhìn lại phía sau,” Cô Đào ngâm lại lời của Thầy bói, rồi khúc khích cười. “Ngươi hiểu ra chưa?”

Tôi ngoảnh đầu lại, nhưng chẳng thấy gì. Chỉ có Cô Đào ngồi trên võng, đung đưa nhè nhẹ, nhìn tôi đầy ngụ ý. Phía sau tôi, bao lần vẫn thế, đều là những thứ tôi đã biết rất rõ rồi. Không có ý nghĩa gì, hoặc là chỉ toàn những ẩn ý thâm sâu khó lường. 

Nhưng rồi tôi chợt nghĩ, phải chăng tôi cứ tìm cái sâu, cái ẩn, cứ nhìn ra mãi đằng xa, mà quên mất rằng, phía sau cũng có thể rất là gần. Như là những người dân, Nhà Thơ, Trưởng Làng, Thầy Bói. Như là Người Niềm Nở, Người Mị Hoặc, Người Thổi Sáo rõ rành rành. Phía sau, như là những dòng chữ ghi trên lưng áo

Nghĩ là làm, tôi vội vàng cởi cúc áo ra, vừa cởi vừa chỉ muốn cốc vào đầu mình mấy cái. Tôi đã lờ mờ hiểu ra khi cầm cây đàn nguyệt trong tay rồi, nhưng tôi cần một lời khẳng định chắc chắn. Và tôi biết mình sẽ tìm thấy nó ở đâu.

Tôi lật chiếc áo lại, và thở dài. Người Chơi Đàn Nguyệt là dòng chữ tôi mang trên áo. Cùng lúc khi tôi nhìn mọi chuyện thấu đáo, mọi kí ức cũng ùa về.

Trưởng Làng nhìn tôi, ông ta nói. “Không phải người làng, nhưng không có hơi thở.” Ông ta bỏ qua cho tôi ngay từ đầu.

Dân làng, cũng vì vậy, bỏ qua cho tôi. 

Tiếng sáo chỉ khống chế được con người có hơi thở, tôi bản chất đã không có. Người Thổi Sáo đã thổi suốt ba ngày Hội làng, tôi đã nghe, và hoàn toàn không bị ảnh hưởng. 

Nhà Thơ muốn giúp tôi nhớ lại, nên đã đọc bài ca dao nhớ thương, đồng thời cũng là câu hát mà Người Mị Hoặc đã từng hát cho tôi nghe.

Thầy Bói thì thực tiễn hơn, nhắc tôi nhìn sau lưng để nhớ ra bản thân mình. 

Người Niềm Nở khóc, vì anh ra nghĩ rằng tôi bị Người Mị Hoặc bỏ bùa, nên luôn cố nhắc cho tôi về sự thật ấy.

Nhưng anh ta đã sai, bởi vì tôi biết Người Mị Hoặc là ai. Ngón tay tôi lướt nhanh trên cây đàn nguyệt, để những thanh âm dịu dàng xếp lại những mảnh kí ức lộn xộn. Tôi biết Người Mị Hoặc không hề thao túng, thôi miên tôi. 

Em yêu tôi khi nghe tiếng đàn của tôi trong một buổi Hội làng. Yêu đến mức chỉ dám cất một khúc ca ngắn, sợ rằng tiếng hát của em sẽ khiến tôi không tỉnh táo. Yêu đến mức muốn mọi tâm tình dành cho em đều là thật lòng thật dạ. Em chưa bao giờ biết rằng, tôi chẳng cần phép màu để mê muội. Tôi yêu em ngay từ phút giây em mở lòng. 

“Xem ra ngươi đã hiểu,” Cô Đào mỉm cười, chen vào ngay khoảnh khắc suy nghĩ của tôi ngừng lại. “Ngươi không phải người làng, kí ức của ngươi dễ bị đất làng và người làng tác động. Ta đã nói rồi, tâm trí những kẻ như ngươi là thứ khó kiểm soát. Tình yêu của hắn là thứ giữ ngươi tỉnh táo; xa rời hắn,” bà lắc đầu, “là ngươi sẽ lại như vậy.”

Tôi mở mắt ra, lòng phấp phới một niềm ấm áp. Tôi thả cây đàn xuống, nhìn Cô Đào, phân vân. 

“Tôi hiểu,” tôi gật đầu. “Nhưng mà, tại sao ngay từ đầu lệnh bà phải đưa cho tôi bộ quy tắc ấy, phải khiến tôi tưởng mình là người thường? Không phải chỉ đơn giản nói tôi là người em ấy yêu , mọi chuyện sẽ bớt phức tạp đi sao?” 

“Vì,” Cô Đào ngả ra võng, cười khanh khách, “tình yêu không phải cứ huỵch toẹt ra là được. Nói phải yêu khi không còn yêu nữa chẳng khác nào cầm tù. Ngược lại,” bà lắc đầu, “nếu tình yêu đó không phải là mặc định, nếu ngươi lúc nào cũng tưởng là có một cửa thoát, nhưng sau mọi thứ ngươi lại luôn tìm về với hắn, chẳng cần ai thao túng, điều khiển, chẳng cần quy tắc, đường lối gì, đó mới thực sự là điều thú vị. Cũng chính xác là điều hắn muốn, vì chẳng phải hắn yêu ngươi tới mức không dám mị hoặc ngươi đó sao?”

 

Epilogue

Một bàn tay chạm nhẹ lên vai tôi, và tôi quay lại, đối diện với đôi mắt buồn của Người Mị Hoặc. Chấm nốt ruồi như giọt lệ chẳng thể lau hết trên đuôi mắt em thoáng thu lại khi em mỉm cười với tôi. Không phải nụ cười mị hoặc, tôi cảm thấy thế. Nụ cười của em chân thành. 

Tôi nắm lấy tay em, ôm em vào lòng, nhón chân để hôn lên đuôi mắt em. Tôi muốn là người xóa sạch đi những tàn dư đau thương trên gương mặt ấy. Tôi muốn em luôn có thể mỉm cười. Tôi muốn em lúc nào cũng như một ánh nắng dịu dàng, hoặc, với cái bối cảnh của thế giới nhập nhoạng này, như ánh chiều đỏ quạch láng lênh máu. Là chính em, là những gì tự nhiên nhất, bất biết dị hợm tới đâu, và hoàn toàn hạnh phúc vì điều đó.

“Em sẽ không để mọi chuyện lặp lại nữa.” Em để tôi tựa vào vai, thì thầm. 

“Phải.” tôi nhắm mắt, để thần trí lãng đãng trôi theo những lời của em. “Nhưng kể cả khi ấy, anh cũng sẽ không sợ đâu.”

“Anh định nói là bởi vì anh sẽ luôn có bản năng tìm thấy em chứ gì?” Tôi nghe giọng em dài ra, lờ mờ hình dung ra nụ cười của em có phần hơi dỗi. 

“Không,” tôi bật cười, cầm tay em. “Bởi vì em sẽ luôn tìm thấy anh.” 

 

- fin -

Notes:

Cảm ơn mọi người vì đã đọc tới đây. Nếu có thể, mong mọi người có thể để lại comment, writer thích comment lắm á =))