Chapter Text
Từ khi Lò A Thuận biết theo đám trẻ loi choi trong bản đóng khố cầm lao và chạy nhồng lên núi để săn thỏ, bẫy nhím, nó đã hiểu lờ mờ về sự khác biệt giữa mình và chúng bạn, rằng nó không có cả cha lẫn mẹ. A Thuận chỉ biết rằng mẹ nó là người phụ nữ đẹp nhất bản Rắp, nó vẫn hay nghe các già và các “pả”*, các “ào”* trong bản tỉ tê kể về bà sau mỗi lần cúng xong lễ Cơm mới, hay những đêm lạnh căm trên nhà sàn lửa cháy bừng bừng, rằng bà Hí, mẹ Thuận khi xưa là bông hoa mận tinh khôi, trắng rỡ và sáng bừng nhất mùa xuân Tây Bắc. Tóc Hí mượt mà như suối chảy, da Hí trắng nõn nà, má Hí đỏ như sắc hoa ban, mũi y thanh thanh, môi chúm chím, gương mặt sáng tựa trăng rằm. Hí thạo việc nương rẫy, làm hết từ cấy lúa đến bẻ ngô, đốt nương đến hái thuốc, lại giỏi nghề chuốt sợi bông dệt thổ cẩm, thứ vải Hí làm ra nức tiếng cả một vùng, người ta kháo nhau rằng đến cả Vua Mèo hay quan Tây dưới xuôi mỗi lần lên bản thu thuế đều phải đem về độ mấy mươi súc vải đen nhánh do Hí tự tay dệt, chất đầy cả mấy xe ngựa, cũng vì thế mà nhà ấy giàu lên nhanh chóng, bạc chất thành đống trong kho, mỗi năm lại được nhiều thêm dăm thúng muối, từ một hộ bình bình hóa ra sung túc nhất vùng. Thời còn son rỗi, người ta đếm chẳng xuể những trai bản đem hàng sọt đường phên và mật mía đến nhà để dạm hỏi Hí mà y chẳng ưng lấy một người, má đào vẫn cứ hây hây, miệng vẫn chúm chím và hằng đêm người ta vẫn nghe tiếng cô gái đẹp ấy đạp khung cửi, đôi bàn tay loang loáng, dệt ra từng tấm vải quý. Ấy thế rồi, người ta bảo, Hí có mang. Họ bảo rằng y chửa hoang, khiến cha mẹ xấu hổ mà bị đuổi lên ở một căn chòi tồi tàn tít trên nương ngô, ngày ngày ra tỉa bắp, trồng rau, cuốc đất, tối lại lủi thủi trở vào nhà dệt vải, cứ mỗi đầu tháng, ông bà nhà lại đem lên ấy mấy bồ thóc lớn, Hí vừa dùng thức ấy để làm giống lại cũng vừa để nấu cơm ăn. Loáng cái đã qua mùa gặt, y cũng sắp sinh. Ngày Thuận ra đời, trời đổ mưa sầm sập, thóc phơi, rơm rạ cùng củi khô cũng bị cuốn đi trôi sạch cả, khiến A Thuận còn đỏ hỏn bị bỏ mặc trong chòi, còn Hí mới đẻ xong còn yếu đã phải gượng dậy mà đi thu thóc, chẳng may trượt chân ngã lộn cổ chết. Thế là A Thuận hóa ra mồ côi. May làm sao, có người em dâu bên họ ngoại nhà Hí tên là Mây, mới trạc mười hai tuổi, thương tình mà lén đem A Thuận đang thoi thóp đặt vào chiếc gùi đựng lá thuốc, lấy tã lót bọc cho kín rồi mang về nhà giấu vào phòng củi. Từ ấy, Mây lén chồng và mẹ chồng nuôi Thuận, bé thì cho uống nước vo gạo, lớn thêm một chút thì mớm cơm nát, bột ngô hòa nước suối cho ăn. Cứ thế, cậu bé A Thuận dưới bàn tay chăm sóc của Mây đã lớn nhanh như thổi, chẳng mấy chốc người đã to như thú dữ, sức khỏe như vâm, hai mắt sáng quắc tựa chim bằng, lông mày rậm, tóc dày và tua tủa như rễ tre. Để trả ơn Mây, đến năm mười lăm tuổi, vào lễ Lồng tông*, Thuận đã xuống nương thay con trâu kéo hết một thửa ruộng rộng đến nửa mẫu ta, rồi lên rừng bắt về một con hổ dữ để khao làng, nhận anh chị. Từ ấy, Thuận được coi như con cháu trong nhà Mây, ngày ngày cùng anh lên rừng đốn cây làm nhà, săn bắt chim thú, lâu lâu lại được theo mấy “pả” mấy “ào” đem vải vóc và rượu cần xuống chợ phiên bán, đem về các thứ của lạ và các thứ trang sức bằng bạc. Có lần, Thuận đã đổi một tấm da gấu để lấy một sợi xà tích dài ngoẵng, vốn là đồ của một cô tiểu thơ nào đó ở dưới xuôi lên vùng này thưởng ngoạn rồi bị thổ phỉ cướp mất, đem ra chợ bán. Người làng nhìn Thuận cũng mấy bận xì xào, nhưng anh chị cứ gạt đi, bảo nó rằng tội quái gì phải để ý, bởi nó có anh chị, có cháu, có các già trong bản thương yêu, Thuận điển trai, khỏe mạnh, thật thà, sống lại rất có nghĩa, nên lâu dần cũng chẳng ai buồn nhớ đến việc Thuận là đứa con mà Hí đẻ rơi, dẫu chẳng mấy ai quên được bông hoa rừng ấy cả.
Năm ấy chớm xuân, Tây Bắc rét đến cắt da cắt thịt. Trên cái lưng trời chênh vênh ấy, ban rừng nở trắng xóa tưởng như mây đã sa xuống núi mà vướng lại giữa tán lá, núi rừng ấp ui trong một lớp áo bông mềm, nhẹ và mỏng tang, sương móc lấn vấn chẳng chịu rơi, cứ lơ thơ treo trên cành như ngọc trời, lung linh mà huyền ảo, như thể đất trời hòa cùng hồn núi đêm qua đã bày ra một cuộc hoan lạc tưng bừng để rồi khi vầng dương nhón gót chân son trên những áng mây đầu của buổi sớm, ba kẻ mơ màng kia mới hốt hoảng bỏ đi, để quên cả điểm trang xiêm áo giữa rừng. Dưới chân núi, ruộng bậc thang rập rờn xanh, lúa non mướt mát đang cựa mình trổ đòng — cái dáng thức dậy đầy khoan khoái báo mùa no ấm. A Thuận vừa tròn hai mươi tuổi, trong bản có cô con gái nhà Thống lý tên là Lả, hội mùa năm ấy đã ném cho Thuận một quả còn mười hai múi rõ đẹp, làm ai cũng trầm trồ rằng nó tốt phước, lại được gái nhà giàu để mắt đến. Ấy thế mà Thuận đã vội đỏ lựng cả mặt như say rượu, đem quả còn trả lại cho Lả, đoạn ba chân bốn cẳng chạy tuốt lên rừng. Mãi đến đêm, khi trăng đã treo ngang đỉnh núi mới thấy bóng Thuận lần mò trèo lên nhà sàn, trên lưng đang còn vác một người trai mặc áo xanh quần dài, cổ đeo vòng bạc, mắt nhắm nghiền. Thuận tìm thấy người ấy khi đang thơ thẩn đi tìm một ống tre để làm đàn môi trong rừng, nó thấy y nằm gục bên bờ suối, áo ngoài sũng máu, bàn tay ngâm dưới dòng nước chảy xiết, khuôn dung tuấn tú lại xám ngoét như tàn tro, hơi thở mỏng như cảnh chuồn, cả người run lên cầm cập. Thuận giắt dao vào thắt lưng, đoạn tiến lại, rút trong túi ra một nắm lá thuốc, nhai nát, rịt vào vết thương hở bên mạn sườn người nọ, lấy khăn bớt vết máu rồi khẽ khàng cõng y lên lưng, chạy băng rừng về bản ngay trong đêm. Mây lúc ấy đang ngồi canh bên bếp lửa, thấy bóng em lấp ló sau vách liền ngồi phắt dậy, mau mắn nhấc thanh chắn cửa nhà sàn lên, thò đầu ra hỏi :
- Sao bây giờ mới quay về, ban nãy anh Quỳ suýt nữa đã sai người đốt đuốc đi tìm em rồi đấy… - vừa nói, Mây vừa chừa chỗ cho nó bước vào, mắt nhìn chằm chằm vào người đang nằm trên lưng em mình, thắc mắc :
- Ai thế này, trông chẳng giống người bản ta ?
- Em tìm thấy nó bên bờ suối Dềnh, máu chảy ướt cả áo, xem chừng bị thương nặng lắm, mặt đã trắng bệch cả. - Thuận đáp, - Mây đi gọi anh Quỳ đi, hỏi xem ông lang Rấm có còn ở bản không, sang xem cho nó, kẻo để lâu nó chết thì già lại quở cho xem.
Mây do dự chốc lát, rồi cũng chạy vào trong, thắp đèn, toan lay chồng dậy. Quỳ lầu bầu mấy tiếng, nhưng cũng nghe vợ mà đứng lên khoác thêm áo, cầm đèn chạy ra ngoài. Mây nhóm một đống lửa lớn ở giữa nhà sàn, giúp Thuận đem người đặt xuống một tấm thảm sạch trong gian phòng của nó, kê cao cổ và tay chân để cầm máu. Mây dặn em đôi ba câu, rồi nhanh chóng bỏ xuống nhà dưới, để Thuận và người kia lại với nhau. Ánh lửa khoa lên gương mặt người trai lại , mái tóc dài bết vào vầng trán bóng nhẫy mồ hôi và thái dương, cả người y run lên lẩy bẩy, đôi lông mày đậm nhíu chặt vẻ đau đớn, môi mấp máy, chốc chốc lại co giật, ngực ưỡn lên rồi lại dằn mạnh xuống khiến Thuận phải vít lấy vai y mà đè chặt xuống, mắt hong hóng trông ra cửa. Lát sau, Mây lật đật bước lên, khệ nệ bưng theo một chậu sành đựng nước nóng, đoạn, chị cúi xuống giúp Thuận lau lại vệt lá thuốc cho sạch sẽ, rồi dùng khăn đắp tạm lên. Máu vẫn chảy không ngừng, chẳng mấy chốc đã thấm ướt cả tấm khăn Mây mới đắp, đúng lúc ấy, Quỳ vội vàng xô cửa bước vào, tay kéo ông lang Rấm dẫn vào trong nhà. Tóc ông cụ hoa râm, bù xù, cổ áo chưa gài hết cúc và hòm thuốc treo lủng lẳng bên mạn sườn. Thuận vội vàng tránh sang bên, cúi đầu chào người thầy thuốc già, đoạn đặt tay lên vầng trán đầm đìa mồ hôi của người nọ, nói :
- May mà cụ vẫn còn ở bản, lỡ cụ xuống bản người Thái trắng trong đêm nay mà không về kịp thì không khéo nó chết mất.
- Mồm chỉ nói cái gở, cái Mây với thằng Quỳ tránh ra ngoài đi, đông người yếm khí, tao cũng khó mà chữa cho nó được. - cụ Rấm vuốt mặt, phẩy phẩy tay xua hai vợ chồng ra ngoài tấm vải ngăn giữa nhà phụ và phòng của Thuận, đoạn vén áo người trai lên, săm soi đôi chút, lầm rầm :
- Mày tìm được nó ở đâu thế, cái vết này là do bị lưỡi lê của lũ quan Tây dưới xuôi xọc cho vài nhát đây mà… Bị thương nặng lắm, đã thế còn ngâm nước lạnh, sốt rõ cao, đợi thêm vài tiếng nữa chảy hết máu cho nó đi gặp Phạ then* là vừa. Thằng này ắt cũng là người dưới xuôi, trông lạ lắm. - vừa nói, cụ vừa đổ thuốc ra băng vải, lại lấy rượu đổ lên miệng vết thương để sát trùng, vừa lau người chong, cụ vừa bóp mồm y nhét vào một búng thuốc đen ngòm. Chỉ thấy người thanh niên ấy nhăn mặt, “ực” một chặp rồi nằm im hẳn, chỉ thỉnh thoảng lại run lên nhè nhẹ. A Thuận thấy thế liền nắm lấy tay y, vỗ nhẹ rồi lại siết chặt, mãi đến khi cụ Rấm băng bó xong…
- Nếu nhanh thì sáng mai nó tỉnh, muộn thì chắc ngày kia. Mày nhờ cái Mây sắc cho một siêu thuốc cảm như thường, uống nửa thang mỗi buổi, vị chi một ngày uống đủ hai lượt, nếu nó ăn được thì uống thêm, nhớ hằng ngày phải để nó tắm rửa sạch sẽ, thay thuốc bốn lần, không được tắm bằng nước mưa, mà phải tắm bằng nước ở thượng nguồn đun nóng với lá thuốc, đêm phải ấp kín bằng chăn, đốt lửa không được để nó nằm bên cạnh, bốn ngày đầu chỉ được húp cháo trắng, không ăn thức ăn mặn. Mày cứ giữ nó lại chăm cho cẩn thận, để tao về báo già làng cho, cứ yên chí.
- Nhà cháu đội ơn cụ, mấy hôm nữa phiền cụ đến xem lại, nhà cháu xin hậu tạ. - A Thuận gật gù, tay xoa xoa vai người thanh niên đang nằm trong chăn, vẫy tay chào cụ Rấm. Quỳ ngáp ngắn ngáp dài ngoài cửa, nhưng vẫn đích thân tiễn cụ Rấm ra tận cổng, trong khi Mây đang dọn dẹp mấy thứ đồ băng bó và thuốc cao ông lang già để lại. Thuận nghiêng nghiêng đầu, nói với Mây :
- Chị này, ngày mai em sẽ lên núi gánh nước, chị gói cho em một nắm cơm với muối vừng, khi nào nó tỉnh, chị nhớ cho nó uống thuốc nhé.
Mây tròn mắt lạ lùng, nhưng cũng không hỏi gì thêm. Chị thổi lửa cho to thêm, đoạn vén mành bước vào nhà trong đi nghỉ, Thuận cũng khẽ khàng ngả lưng, chui vào cùng một chiếc chăn với người thanh niên nọ, không quên tiện tay vuốt vuốt gò má y, xem chừng muốn xoa dịu cơn sốt. Bàn tay mát lạnh áp lên mặt, khiến y vô thức dụi vào, rồi thôi run rẩy. Củi lửa nổ lách tách, mây đêm la đà trên những đỉnh núi xanh đen mờ mịt, sương đọng dày trên những cành hoa ban trắng lóng lánh như ngọc. Cứ thế, một đêm yên lặng trôi qua.
Ngày hôm sau, mới tờ mờ sáng, Thuận đã khoác thêm một tấm áo dày có hoa văn trên cổ hình vuông ngũ sắc, quảy đôi thùng ra khỏi bản lên thượng nguồn. Suối Dềnh là một con suối không quá lớn, chảy khá xiết cách bản Rấp đến hơn ba trăm thước đường mòn, muốn lên thượng nguồn gánh nước thì phải đi thêm hai ngọn đồi, tuy không cao lắm nhưng gánh hai thùng nước về, xem chừng cũng rõ mất sức. A Thuận nghĩ thế, nhưng nhớ đến người thanh niên đang nằm ở nhà, nó lại lúc lắc đẩu, tự nhủ : “Thôi thì cố một tẹo, cụ lang đã dặn, người ấy phải tắm bằng nước trên thượng nguồn, ắt là do người dưới xuôi không quen khí núi, tắm nước mưa dễ mắc bệnh.’’ Thế là, nó lại mắm môi, chống gậy mà leo tiếp. Khi Thuận đến nơi thì mặt trời đã gần đứng bóng, nó vứt cây gậy chống, đặt hai cái thùng không lên mặt cỏ, lấy tay quệt mồ hôi rồi cởi áo ngoài, vắt lên một thân cây mọc chìa ra bên mỏm đá. Nắng lấp lóa trên tán lá rừng lúp xúp, vạt mây trắng trải lờ mờ bên triền đồi xanh, Thuận loáng thoáng nghe hương lúa non trong gió thơm mát. Thượng nguồn suối Dềnh núp sau một vách đá dựng thẳng, thứ đá xám xịt bám lởm chởm trên sườn núi, tia nước trong vắt phun ra từ một khe nứt nho nhỏ, mặt trời rọi vào hóa ra một tia sáng bảy màu lóng lánh. A Thuận thở một hơi dài, hứng nước đầy hai thùng lớn, buộc tấm áo dày vào ngang lưng rồi bẻ lấy hai cành cây non, ném vào miệng thùng, đoạn quảy thùng ra về. Đường đồi gập ghềnh, nó về nhà khi mặt trời đã dần khuất núi. Hôm nay Quỳ và Mây không ở nhà, đã đi xuống bản người Thái trắng dưới chân núi để lấy đồ đạc cùng ngựa thồ. Đang đổ nước vào cái ang lớn để để dành cho ngày hôm sau, chợt Thuận nghe tiếng Lả cất lên lảnh lót :
- Anh Thuận ơi !
Thuận giật thót mình, đặt thùng nước xuống, ngượng ngùng :
- Chào Lả, tôi, tôi xin lỗi Lả vì hôm qua đã trả lại quả còn, nhưng mà tôi…
- Không sao, hôm nay Lả lén cha đem cho anh Thuận cái vòng vía mà anh Luông mới mang từ dưới xuôi về, nghe nói là phải đổi đến mười con hoẵng và hai thúng gạo người ta mới chịu bán, nghe đâu là vòng của người Mông, quý lắm đấy. - Lả hí hửng đáp, đoạn dúi nó vào tay Thuận, rồi đỏ mặt xoay người chạy đi mất. Nó chưng hửng, bóng Lả cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi khuất hẳn sau gốc hoa ban lớn đầu làng, bàn tay Thuận ướt đẫm nắm hờ cái vòng, bối rối chẳng biết phải làm sao. Đúng lúc ấy, nó chợt nghe tiếng người cười khúc khích trên đầu, người thanh niên đêm qua đã tỉnh, y đang dựa cả người lên cửa sổ, bàn tay hôm qua vẫn còn tím tái giờ đang cầm một đóa hoa lê nho nhỏ, mái đầu đen nhánh tựa lên khung gỗ, tóc mai phủ lòa xòa trên gương mặt đã hồng hào trở lại.
- Tỉnh rồi đấy à ? - Thuận cười toe, hỏi to, tay vẫy vẫy xem chừng vui vẻ lắm. Người thanh tròn mắt vẻ ngạc nhiên, hỏi :
- Anh nói tiếng Kinh giỏi thế ?
- Thế thấy đỡ chưa, tôi gánh nước về rồi, đợi tôi một lát, nước đun nóng xong tôi sẽ gọi. Tối nay để tôi thay thuốc cho, chị Mây là con gái, không tiện. - Thuận không trả lời, hồ hởi xách một thùng nước ra giữa sân, bắt đầu nhóm lửa đun nước, vừa đun, nó vừa hỏi :
- Đêm qua tôi tìm thấy ấy bên bờ suối, bị thương nặng lắm, không có tôi thì chắc ấy lên gặp Phạ then rồi. Sao mà ấy lại bị thương nặng đến thế, mà lại còn ở giữa rừng kia ?
- Anh đun nước cho nóng rồi đem lên đây đã, đoạn tôi mới nói cho anh hay. - người thanh niên cười tủm tỉm, đoạn thả đóa hoa lê bay xuống từ trên cửa sổ, vừa vặn sao lại rơi đúng vào lòng bàn tay Thuận. Nó thấy thế thì chỉ gãi gãi đầu, đem đóa hoa lê đặt lên đống củi. Ánh lửa bập bùng một hồi rõ lâu, nước cũng bắt đầu sôi, A Thuận lấy từ trong giắt lưng ra một nắm lá, thả vào trong nồi, mùi hương bốc lên ngào ngạt. Nó nhanh chóng bắc nồi nước xuống, lại khệ nệ ôm một cái bồn gỗ rất to lên nhà sàn rồi mới bưng nồi lá thuốc lên, đoạn đổ cả vào cái bồn nọ. Người thanh niên vẫn cứ cười tủm tỉm nhìn nó, hỏi một câu :
- Thế, anh cứ đứng mà trông tôi à ?
- Phải vậy chứ, ấy bị thương nặng, lại còn bị nhiễm lạnh, không trông lỡ ấy xảy ra chuyện gì anh chị và già làng quở tôi thì sao. - Thuận khoắng khoắng nước tắm, nghiêng đầu đáp, - tôi đi lấy cho ấy bộ quần áo, ấy vào ngâm trước đi, tắm nhanh kẻo bệnh càng thêm nặng. - Nói rồi quay lưng đi thẳng. Người thanh niên cũng ngoan ngoãn trút bỏ bộ quần áo bẩn, leo vào trong bồn gỗ, y kín đáo thở pháo một hơi, bàn tay khẽ khàng chạm lên vết thương đã được băng bó rất cẩn thận, đến giờ đã không còn chảy máu. A Thuận nhanh chóng quay lại, đem theo một bộ quần áo bằng lụa và một chiếc khăn vải thô, nó nhanh chóng quỳ xuống bên thành bồn, nhanh nhảu hỏi :
- Thế là làm sao ? - vừa nói, A Thuận vừa nâng cánh tay y lên, dấp nước rồi lau cẩn thận từng từng tí một. Chỉ thấy y chợt nghiêng đầu, hỏi :
- Không sợ tôi là người của quan Tây dưới xuôi à ?
- Ấy bị thương nặng lắm, bị lưỡi lê xâu cho mấy nhát, dù máu không chảy nữa thì cũng khó mà làm gì được tôi, tội gì phải sợ. - nó đáp, bàn tay cầm khăn đã lần lên đến cổ và vai người thanh niên, thật chậm rãi. A Thuận bỏ chiếc khăn sang một bên, dùng tay trần giúp y xoa bóp khắp hai vai và ngực. Y nín thinh, tay chống cằm đầy tư lự, đoạn thở một hơi dài, lẩm bẩm :
- Tôi trốn lũ chúng nó từ dưới đồn Phay Khắt, đi mấy ngày đường thì bị bắt được, tên cai lệ dùng lưỡi lê đâm, tôi liền nín thở, hắn tưởng tôi đã chết nên mới vứt lại bên bờ suối. May sao lại gặp được anh.
- Thế ấy là…
- Anh thử đoán xem. - Người thanh niên cười tủm tỉm, đầu ngả vào tay nó vẻ mỏi mệt. A Thuận cũng không lấy làm bài xích, chỉ thuận tay xoa nhẹ gò má đã đỏ ửng lên vì hơi nóng, đoạn thì thầm :
- Hẳn là ấy giống như bố của tôi rồi.
- Bố anh là người Kinh sao ? - y hỏi.
- Bố tôi là một cán bộ Cách mạng người Kinh, - nó nói, giọng đều đều, vẻ mặt trầm ngâm như hồi tưởng lại một ký ức xa xôi lắm, - năm tôi lên mười, tôi nghe già làng kể lại, năm ấy bố tôi theo đoàn lên Tây Bắc để sang nước bạn thì bị đánh đuổi, nên trốn tạm vào trong nhà của ông bà ngoại. Nhà ngoại tôi hồi ấy thấy người lạ thì cũng lấy làm hốt, nhưng mẹ tôi thấy bố đẹp, nên tỏ ra ưng bụng, thế là ông bà chiều con, loan tin rằng mẹ tôi chửa hoang rồi sắp xếp cho bố mẹ lên ở một căn chòi trên rẫy, lúc tôi ra đời thì bố đã bắt được thông tin của đồng đội, nên bị gọi đi ngay tức khắc, còn mẹ tôi mất sớm vì ngã khi đang thu thóc ngoài sân. Tôi được Mây đem về nuôi, ắt cũng do già làng gửi gắm. Đến nay tôi cũng chẳng biết bố ở đâu mà tìm, ấy hẳn cũng là cán bộ, ấy có gặp bố tôi không ?
- Ô hay, làm sao tôi biết được ? - y tròn mắt, phì cười, - nhưng khi nào có thể về đơn vị tôi sẽ hỏi thăm xem, xem bố anh hiện đang ở đâu.
Thuận cười toe, tấm khăn nóng đã áp lên mặt y, kĩ càng và tỉ mẩn như thể nó đang lau bình rượu quý của Quỳ, chậm đến mức khiến người thanh niên rùng mình. Y khe khẽ hỏi :
- Anh tên là gì ?
- Thuận, tên ấy bố đặt cho tôi, tôi nghe già bảo thế. Đã hơn hai mươi rồi. Còn ấy ?
- Em là Sơn, em kém anh vài tuổi. Cảm phiền anh Thuận chịu khó đi gánh nước cho em tắm thêm ít hôm, khi nào về xuôi em đem lễ vật lên hậu tạ. - người thanh niên cười tủm tỉm, khẽ khàng đưa tay vốc nước lên, để từng hạt long lanh trượt giữa những kẽ ngón tay khít và trắng trẻo, chảy dài xuống khuỷu tay mà rơi lại vào trong bồn.
*****
Hoàng Sơn bị đám lính lác người Tày đuổi đến bờ suối thì ngã gục, vết lưỡi lê đâm bên mạn sườn chảy máu càng lúc càng nhiều, cơn đau lan ra khắp người khiến tay chân y bủn rủn, hơi thở mỗi lúc một yếu dần. Đúng lúc ấy, một tốp lính có cả Tây đen lẫn Tây trắng dẫn theo vài tay người dân tộc vạch lùm cây bên bờ suối hùng hổ bước ra. Sơn giật đánh thót một cái, hai mắt hoa lên, cố bấu víu lấy chút tỉnh táo cuối cùng mà nín thở, nằm im không cựa quậy. Một gã người dân tộc đầu quấn khăn trắng tiến đến gần, ngón tay đen đúa chai sần đặt ngang mũi người thanh niên, đoạn đứng dậy, nói bằng thứ tiếng Kinh bập bẹ :
- Bẩm các quan, nó đã tắt thở rồi, ta có cần đem nó về cho cụ lớn xử không ạ ?
- Chết rồi thì để mặc đấy, mau về thôi kẻo ngài Douxe lại nổi cơn tam bành thì dở lắm. - tiếng một lính Tây đáp lại, cũng trúc trắc không kém. Sơn cố dỏng tai lên nghe ngóng, tiếng bước chân của tốp lính mỗi lần một xa, máu dưới thân chảy đầm đìa thấm cả vào đất, cả người y lạnh toát, trong óc Sơn bắt đầu quay cuồng trăm thứ, rằng y chưa kịp đưa tin về cho tổ chức, rằng y chưa kịp nhắn lại với bố nuôi dưới Tam Kim và anh trai một câu, và rằng đất Hà Nội, rằng cầu Long Biên và tháp Bút hẳn đã chẳng kịp đợi người trai như y quay lại, và cứ thế, Sơn lịm dần, lịm dần. Trong cơn mê lãng đãng, Sơn thấy mình như được ấp trong lồng ngực một người, da người ấy nóng lắm, hầm hập như lò lửa, lại phảng phất một thứ mùi sương trắng rất lạ pha lẫn vài nốt hương cỏ dại và mùi cây gỗ phong hăng hắc. Y hơi giật mình, vết thương bên mạn sườn bỗng nhói lên, đau đến vã mồ hôi lạnh. Sơn rên khẽ, bàn tay tê cứng vô tình đập mạnh lên vai A Thuận khiến nó tỉnh giấc, cánh tay vô tình siết chặt lại làm y ré lên trong cơn mê, hai mắt vẫn nhắm nghiền, cả người run lẩy bẩy. A Thuận mơ màng tỉnh dậy, từ trong ánh lửa bập bùng lại trông thấy gò má người kia loang loáng hai dòng lệ chảy xuôi, môi mấp máy xem chừng đau lắm. Nó nhìn xuống tay mình, nơi bàn tay đặt trên sườn người thanh niên đã nhuốm máu. Hẳn là do nó lỡ tay khiến vết thương mới băng bó vỡ ra. Thuận thở dài, đặt người ấy nằm sấp trên đệm, khơi đống lửa sau vách cho to thêm rồi mò mẫm đi tìm mớ lá thuốc ban nãy cụ Rấm để lại, đem đến bên cạnh nơi y nằm. Giở vạt áo Thái màu đen lên, Thuận mới trông rõ sáu vết thương dài chừng một lóng tay, sâu dễ đến độ bốn phân chồng chéo. Nó lắc đầu, dù trong đời nó từng lên rừng tóm hổ bắt hươu nai không biết bao lần, nhưng Thuận sống quen trên núi, việc bị thương cũng bình thường như ăn cơm tối hay lên rẫy phát cỏ, còn người này nhìn trắng trẻo lại gầy gò, bị đâm đến thế mà còn sống được thì âu cũng là may mắn lắm, Thuận nghĩ vậy, rồi lại tỉ mẩn giúp y lau người, thay thuốc. Làn da dưới bàn tay thô ráp lạnh cóng, người thanh niên chốc chốc lại run nhè nhẹ, mãi đến khi Thuận đã lau sạch máu, và lấy vải quấn kín vết thương mới thở đều lại, lông mày cũng giãn ra đôi phần. A Thuận dọn dẹp sơ sơ, nghĩ bụng hồi lâu rồi mới để y gối lên vai mình, đoạn đắp kín chăn, chìm vào giấc ngủ.
Sáng hôm sau, Sơn tỉnh dậy đã thấy mình nằm trong chăn ấm sau một bức vách mỏng, bên ngoài vẫn còn một lò lửa nhỏ vẫn đang cháy âm ỉ. Cổ họng y khô rát, hai mắt nhập nhòe những đom đóm. Y còn sống. Hoàng Sơn mừng rỡ, nhưng rồi lại hốt hoảng, thế thì y đang ở đâu kia ? Trần nhà lợp cỏ gianh, tường đất sàn gỗ… là nhà của người dân bản sao ? Đúng lúc ấy, một ông già từ ngoài bước vào, mái đầu cùng bộ râu nhuốm màu tiêu muối, duy chỉ có đôi con mắt là sáng quắc lên như chim cú vọ, cổ đeo một cặp nanh thú bịt bạc, lưng đeo một bồ thuốc. Cụ Rấm chậm rãi ngồi xuống, đưa tay xoa xoa mái đầu người thanh niên, nói :
- Tỉnh rồi đấy à, kể cũng may đấy, mạng mày lớn, số mày chưa đến nỗi tận. Thế nào, còn chảy máu không ? - vừa nói, cụ vừa giở tấm chăn lên, nắn nắn vết thương, - Ôi chà, chưa chi đã thay thuốc, hẳn là con vâm ấy làm vết thương vỡ rồi, rõ khổ…
Sơn giương đôi mắt khó hiểu lại đề phòng lên nhìn ông già bên cạnh, bàn tay co duỗi vẻ bất an. Cụ Rấm trông thấy thì nhếch mép cười, nói :
- Không phải sợ, tao cứu mày đấy. Liệu mà nằm yên đi. Cán bộ phải không ?
Hoàng Sơn tròn mắt, cất tiếng, giọng khản đặc :
- Sao ông biết, ông còn nói được cả tiếng Kinh ?
- Bản này cũng coi như nằm xa chân núi, nếu không có việc gì thì chẳng ai đang tự nhiên ở dưới xuôi mà lặn lội lên tận đây, rồi nằm ngã bên bờ suối như thế cả. Vừa hay mấy hôm trước người của già làng mới chạy về báo, là có một đơn vị đóng ở Cao Bằng vừa mất một chiến sĩ, nên tao đoán đấy là mày. Vả lại, quan Tây trên này cũng chẳng mấy khi gặp người Kinh, nhưng gặp mà bị đâm như mày thì, phải đến tám phần mười là cán bộ. - cụ Rấm thủng thẳng đáp, vừa giúp Hoàng Sơn thay thuốc, - Số mày tốt, may sao tao cũng là người theo Cách mạng, tao theo các chú cũng ngót ba năm rồi. Đêm qua tao vừa đi thưa chuyện với già, già đã dặn tao nhờ nhà thằng Quỳ cái Mây nuôi giấu mày, kẻo lũ Tây đánh hơi được thì chúng bắt vạ cả làng. Ngoài tao và già, chẳng ai biết mày là ai hết, ai hỏi thì bảo là đi săn bị lạc được cứu về, mà không ai biết thì càng tốt. Kín cái miệng, rồi tao sẽ tìm cách giúp mày liên hệ với bên trên.
- Ông…
- Tin tao, - cụ Rấm nói nhỏ, dúi một đồng tiền Minh Mạng vào tay Hoàng Sơn khiến y giật mình, đúng là dấu hiệu của người trong tổ chức. Y cắn môi, đoạn siết chặt lấy tay cụ vẻ cảm kích. Ông lang già thở dài, bảo :
- Mày ngủ đi, ngủ cho lại sức, cũng bớt lời ra lời vào. Cần gì thì nói với thằng Thuận, trừ nó ra thì đừng bảo gì ai cả. - cụ Rấm đắp lại tấm chăn cho Hoàng Sơn, đoạn quay gót đi mất hút. Hoàng Sơn cũng mau chóng thiếp đi vì mệt mỏi, mãi đến tận chiều, khi nghe thấy tiếng Thuận gánh nước trở về dưới sân mới tỉnh.
*****
Sau khi giúp người thanh niên tắm rửa vào thay quần áo, Thuận khẽ khàng đặt y xuống đệm, rồi mới mang nước đi ra ngoài. Hoàng Sơn thở phào một hơi, mắt lim dim vẻ thoải mái. Đã quá lâu y không thấy cả người sung sướng đến lâng lâng như vậy. Từ ngày theo bố nuôi về với Cách mạng, chàng trai đất Hà Nội từng chưa một lần mó đến đất bùn đã phải dầm mưa đi bộ băng rừng, tắm bằng nước sông lạnh toát, ăn rau chuối và củ mài cầm hơi, và phải dùng sức của một nửa bát cơm độn khoai lang để đạp xe bốn ngày đường, dẫu gian nan đến cùng cực, nhưng thật may sao, Hoàng Sơn vẫn còn bố nuôi…
- Có muốn ăn cái gì không ? - tiếng Thuận vang lên từ ngoài cửa, nó vừa đi ra ngoài dội nước mới trở vào. Hoàng Sơn gắng gượng lắc đầu, rồi chậm rãi nhắm mắt lại. A Thuận thấy thế cũng không nói gì thêm, co người ngồi thu lu bên tấm đệm cạnh đống lửa, bàn tay luồn vào tóc người đang nằm, khe khẽ vuốt ve. Sơn cười tủm tỉm, đoạn yên tâm thiếp đi. Từ sau hôm ấy, ngoại trừ A Thuận, Hoàng Sơn chỉ trông thấy hai người còn lại trong nhà có vài lần : một người phụ nữ nhỏ nhắn, và một người đàn ông cao gầy lêu đêu như con sếu. Họ đều chỉ nhìn Hoàng Sơn đầy ái ngại, rồi lại quay đi ngay, tuyệt không nói câu gì. Thế lại hóa hay, y nghĩ như vậy. Thấm thoắt đã qua gần một tháng, dưới sự chăm sóc của A Thuận, vết thương trên người Hoàng Sơn cũng dần lành lại. Tiết trời tháng ba mát mẻ, mùa hoa lê Tây Bắc cũng đã về. Cây hoa lê trong bản Rấp mọc xen với cây hoa ban trắng và ban đỏ, cao vượt hẳn lên, đóa hoa năm cánh bầu bĩnh trắng ngần có nhị hoa xanh chúm chím ấp lấy nhụy hoa mảnh như sợi chỉ, tỏa hương thơm ngát. Vẫn chưa đến vụ mùa, người làng đã lục tục kéo nhau xuống các bản người Thái trắng dưới chân núi và chợ phiên để buôn bán, nên trong làng chỉ còn người già, trẻ con cùng mấy người phụ nữ ở lại. Đã qua hơn nửa tháng, cứ hai ngày một lần, đều hơn vắt tranh, họ lại trông thấy A Thuận từ lúc tờ mờ sáng đã quảy đôi thùng đi lên thượng nguồn gánh nước, đến tận lúc mặt trời khuất núi mới trở về. Ai cũng lấy làm lạ, nhưng vì nể Quỳ, cũng chẳng ai buồn hỏi han đến. Hôm ấy, Thuận vừa về đến đầu làng đã trông thấy Lả, nó sợ, bèn tìm một con đường khác đi vòng qua phía sân sau nhà Thống lý để quay trở về nhà sàn. Trên đường đi, A Thuận trông thấy một cây lê cao ngất, vỏ xám bạc phếch, hoa trắng nở bung như cái tán ô của đám gái bản mỗi lần hội mùa. Chẳng rõ làm sao, Thuận đặt hai thùng nước xuống đất, đoạn trèo thoăn thoắt lên cây, vít lấy một cành trên cao nhất, đẹp nhất, bẻ lấy đem về, đoạn cẩn thận giắt cành hoa lê vào túi đựng dao ở thắt lưng rồi mới gánh nước về. Dưới sân nhà, Mây đang cúi mọp trên đống ngô, tẩn mẩn lọc ra những bắp to nhất, mẩy nhất để đem đi bán, đứa con gái chị, bé Tảo đứng bên cạnh, mũi thò lò, tay cầm một mảnh khăn thổ cẩm đang thêu dở. Thấy em về, Mây đứng dậy, kéo ngay Thuận lại, bảo :
- Tao nể làng, nể cụ Rấm nên mới để cái người kia ở lại nhà mình chữa bệnh, nhưng hôm nay tự dưng có người dưới xuôi tìm lên tận đây gặp nó. Người ấy cao lắm, da thì đen, mà tóc dài thì dài thậm thượt như thầy mo* xứ Mường ấy, mặt cứ hầm hầm. Tao sợ quá nên cũng gọi nó xuống gặp, thấy hai người cứ thậm thụt với nhau cái gì, đã đi rồi. Mày giỏi tiếng Kinh, mày lên hỏi nó xem sao.
- Chị nhìn nhầm à ? - Thuận chưng hửng, - Đã đến vụ đâu mà có người dưới xuôi lên thu thuế làng ?
- Ai bảo là thu thuế đâu, là lên gặp cái người mày đem về hồi hội làng ấy, họ nói tiếng Kinh, tao không hiểu. - Mây khẽ gắt, bấm vào bắp thịt rắn như đồng của Thuận vẻ tức tối. - Mày lên hỏi nó đi, không nói cho ra ngô ra khoai là tao đuổi nó đi đấy.
Thấy Mây không buồn xưng chị như mọi khi, Thuận mới nhanh chóng đem hai thùng nước đổ vào ang, đoạn cởi áo leo lên nhà sàn. Người thanh niên tên Sơn nọ đã ngồi thẳng được mà không cần phải dựa dẫm, y đương nheo nheo mắt nhìn ra sân vẻ đăm chiêu. Thuận đem cành hoa lê chìa ra trước mặt Sơn, bảo :
- Cho ấy này.
- Úi chà, anh Thuận đi gánh nước chưa đủ mỏi mệt hay sao mà còn trèo cây lê hái hoa cho em thế. - Sơn cười tủm tỉm, vươn hai tay nhận lấy cành hoa trắng muốt, ấp nó lên ngực. Mùi hương tản ra thoang thoảng. Thuận dè dặt hỏi :
- Tôi thấy Mây bảo nay có người lên tìm ấy à ?
- Hóa ra cái cô ấy tên là Mây à, nghe đáng yêu thế. - Sơn đáp, ngắt một cánh hoa thả xuống sân, rồi lại ỉm im như không. Thuận trông thấy thì thế làm bực, nhấm nhẳng :
- Mây có chồng, có con rồi…
- Ơ kìa, sao anh Thuận lại cứ nghĩ đi đâu đâu, - y nguýt người kia một cái dài cả cây số, phụng phịu, - người ấy là anh Kiên, là người theo lệnh tổ chức lên đây tìm em. - đoạn Sơn thấp giọng, - anh đừng bảo ai, có người hỏi thì cứ bảo là cậu Ứng Kiên, người dưới Hà Đông lên tìm em trai bị lạc lúc đi săn là được, vài tháng nữa sẽ đem đón đi và mang lên cho nhà anh năm yến muối để hậu tạ, chỉ vậy thôi.
- Bên trên? Là bên nào ? - Thuận thắc mắc, - nghĩa là sao ?
- Đợi lúc thích hợp em sẽ thưa lại với anh sau, ta chắc chắn vẫn còn gặp lại. - Sơn nắm lấy tay nó, cười xòa, hai đồng điếu lờ mờ hiện ra dưới làn môi mỏng, hai y mắt sáng rỡ. Và trong bụng A Thuận bỗng có cái gì đấy nở tung, rồi như trăm nghìn cánh bướm trắng đập cánh bay khắp cánh đồng hoa tam giác mạch, sầm sập như tiếng vó ngựa phi đường rừng, rồi nó nhìn y mà ngơ ngẩn, sao cành hoa lê kia bỗng hóa ra chẳng sánh bằng người trai miền xuôi lạ lẫm này nữa…
