Actions

Work Header

ngọc xà

Notes:

*trớt quớt trớt quớt noises*

lưu ý: kiến thức được sử dụng trong fic KHÔNG có giá trị tham khảo; obligatory OOC warning; spoiler cho main story part 2 của Ride Kamens

viết xong đoạn "i," mới thấy có lẽ cái này chịu ảnh hưởng từ tam đề "xóm nước, lũy tre, sáo mục đồng" (https://www.facebook.com/share/p/1JhQ83Nbtw/) của bạn An. ý tưởng cho cái này ủ từ hồi đầu năm rồi (vẫn nhớ rõ tui đã khóc ra sao khi đi research vào đêm giao thừa), nhưng có lẽ bạn í đã cho nó một "tông giọng", giúp hoàn thiện nó, nên là cám ơn An nha. special thanks to Shio sằng và Turquoise Ray, Quài Lan sằng, người trưởng thành A giấu tên và "Cốt toái" của tác giả Koen Roka

Chapter Text

i,

Đầu tiên, họ ngồi xe buýt.

Xe buýt trong thành phố có nhiều kích cỡ khác nhau, một phần âu cũng là do chúng thuộc quyền quản lý của những công ty khác nhau. Những tuyến phục vụ lưu lượng khách lớn và di chuyển dọc đường chính thì thường sẽ có kích cỡ to hơn, có thể chứa được nhiều khách hơn; còn những tuyến như thế này — luồn lách qua những cung đường vắng và không bằng phẳng, không mấy khi kín khách — thì cái nào cái nấy bé như hộp sữa. Vì thế nên mọi ghế ngồi trên xe đều sẽ giáp với cửa sổ. Họ lên xe từ một ngã ba nơi đường chính và ngồi xuống giáp nhau, Soun cố tình ngồi dưới Jo một ghế. Hai túi hành lý để dưới chân họ. Không ai nói với ai câu nào. Jo ngậm trên môi một cái cười nhạt thếch và nghiêng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ — ngày dần lên, bóng hình phản chiếu của Soun đè lên quang cảnh bên ngoài. Sau một tiếng hơn, họ xuống xe để chuyển tuyến. Lần này, họ nhảy lên một chiếc xe buýt to, gấp rưỡi cái hộp sữa vừa nãy — dẫu sao thì cũng chỉ có một mình nó băng băng trên tuyến đường này, và đường ở đây thì rất rộng. Lần này họ sẽ phải ngồi trên xe buýt rất lâu. Soun cúi đầu đáp lại cái chào của người phụ xe như một thói quen, rồi bình tĩnh xuống hàng ghế cuối.

"Soun nhà ta cứ chọn đúng mấy chỗ ngồi xóc nhất thôi." Jo mỉm một cái cười ra chiều bất đắc dĩ, khi vịn ghế và đặt túi hành lý của y xuống sát cạnh chân Soun. Ngay từ lúc ngồi xuống, tầm mắt Soun đã lần nữa bị hút vào quang cảnh không ngừng thay đổi bên ngoài cửa sổ. Đến tận lúc bấy giờ, anh mới dời ánh nhìn sang y:

"Anh ngồi ở trên kia thì sẽ bớt xóc hơn." Anh điềm nhiên đáp.

Tất nhiên, Jo vẫn sẽ ngồi xuống cách anh đúng một chiếc ghế. Y vu vơ thầm nghĩ nếu xe đông lên sẽ xích lại gần anh hơn, và cái "nếu" của y thế mà linh ứng thật: Có một tốp trẻ con, đủ để lấp kín một cái đu quay hình đoàn tàu ở sân sau một ngôi trường mẫu giáo, ùa lên xe ở một bến dừng còn cách điểm đến của họ khá xa. Những tiếng chào riêng rẽ không ngừng vang lên, con chào bác tài ạ, con chào cô chú phụ xe ạ; phụ xe gật đầu liên tục, rồi nhắc chúng hãy ngồi vào chỗ đi đã. Một người phụ nữ và một người đàn ông — có vẻ là một cặp giáo viên — đi kèm với chúng; một người lên xe đầu tiên, một người lên xe sau cùng; họ thay nhau ổn định chỗ ngồi cho bọn trẻ. Đến lúc tất cả đều đã ngồi vào chỗ an toàn và xe dần lăn bánh, lũ trẻ lại lần nữa cùng khoanh tay lễ phép chào bác tài và phụ xe; tiếng chào rất to, và có một vài đứa còn nói quá chậm hay quá nhanh so với tốc độ chung, giọng chúng tứa ra từ tiếng chào tập thể như những cái dằm. Sáng sớm ra mà lũ trẻ hứng khởi thế, Jo thầm cảm thán, bằng tuổi chúng nó... không, y cũng không còn nhớ nổi hồi bằng tuổi chúng nó mình như thế nào. Lũ trẻ không mặc đồng phục. Một đứa còn quay xuống chỗ họ, đôi tay đang khoanh trước ngực của bé nguẩy một cái, bé ngước lên nhìn Jo và Soun bằng đôi mắt to tròn đến mức khiến Jo thấy không thoải mái: "Em chào hai anh ạ!"

Soun mỉm cười đáp lại, rãnh cười hiện rõ nơi khoé mắt anh và ánh nhìn anh mềm đi trông thấy: "Ừ, anh cũng chào em."

Trẻ con mới thật đáng sợ làm sao.

Họ xuống xe trước đám trẻ. Xe buýt thả họ ở điểm dừng gần nhất với chân núi. Sau đó, họ đứng chờ xe khách ghép. Một chiếc xe nhỏ, độ bảy, tám chỗ, vì chỉ với kích cỡ ấy thì mới tiện leo đường. Lại thêm hai tiếng rưỡi ngồi lắc lư trên xe, quành qua những khúc cua vắt tay áo mà khiến Jo không thể không cảm thán ra miệng, bác tài nhà mình lái vững quá. Giữa những đường cong xanh rầm rì bên ngoài cửa sổ, chông chốc lại lộ ra một vệt vàng uốn nhẹ — đó là con đường nhựa xen đất sỏi mà họ vừa băng qua, nhìn từ phía trên. Hình ảnh ấy gợi Jo nhớ đến cái lần mà họ cùng nhau đến một triển lãm Ikebana, Soun đã trầm ngâm hồi lâu trước một tác phẩm nọ, và bảo, trong tự nhiên gần như không có đường thẳng nhỉ. Nghệ nhân Ikebana đã dẫn dắt tôi ngày xưa từng nói với tôi rằng đường cong là dấu hiệu của sự sống, ngày hôm ấy Soun đã lẩm bẩm như thế, sao tôi lại quên được nhỉ; cái vỡ lẽ giản dị ấy của anh đã tái tạo lại biết bao nhiêu khung cảnh trong bộ phim lúc bấy giờ đang lâm vào bế tắc của họ.

Đó đã là chuyện từ quá lâu rồi.

Jo bắt chuyện với người phụ xe ngồi ở ghế phụ lái — một người đàn ông với khí chất lộ rõ sự thẳng thắn và bỗ bã của một kẻ (chưa từng, hay không còn, nhưng Jo nghiêng về "chưa từng") phải luồn cúi giữa rừng bê tông — y hỏi han đôi chút về vùng này, rồi câu chuyện lân la lấn sang bao chủ đề khác, và chẳng mấy chốc đã có thêm người nhập cuộc; đôi lúc đến cả bác tài cũng góp vui đôi lời. Anh phụ xe bảo Jo rằng con đường này chưa vắt được hết núi, thế cho nên lối lên và lối xuống núi vẫn là một. Thế à anh, thế nếu mình đang lên mà lại gặp xe đang xuống núi thì sao. Thì phải tìm chỗ rộng mà né nhau thôi chứ sao, anh phụ xe đáp, nhưng mà trên núi hiện tại chỉ có xe mình với một đoàn mô tô, đã là dân phượt thì chắc phải leo tới tận khu mỏ cũ, còn khướt mới xuống nên không thành vấn đề gì đâu. Mỏ ở trên cao lắm hả anh? À, thật ra thì cũng rải rác, đâu mà chẳng có, nhưng dân phượt thì họ hay lên đến cái khu mỏ cũ nhất, ở sâu hơn cả khu đền...

À, mà thế là mình giữ liên lạc liên tục với người ở trạm kiểm soát dưới chân núi anh nhỉ.

Đúng rồi, phải thế thì mới được.

Jo liếc mắt sang người đàn ông đang ngồi im lặng ở chiếc ghế sát bên cửa sổ, và ánh mắt anh lập tức đối lại cái nhìn của y, như thể anh vẫn luôn quan sát Jo — nhiều hơn cả y quan sát anh, chỉ là không phải lúc nào Jo cũng nhận ra. Jo mỉm cười, và y nghĩ bụng rằng nếu Soun muốn, anh cũng có thể dễ dàng khơi đầu và dẫn dắt một cuộc hội thoại ngồn ngộn thông tin quý giá hệt như thế này. Chỉ là anh không muốn, và anh không cần thiết phải làm điều đó. Bởi vì kể từ lúc bước ngang qua tấm biển chỉ đường nơi chân núi, vị thế của họ đối với mảnh đất này — và vì vậy: đối với nhau — đã thay đổi. Họ không còn là hai lữ khách nữa; Soun trở thành một đứa con xa xứ hồi hương.

Có lẽ vì ánh mắt của Jo rõ ràng quá, nên người phụ xe — đã đủ thoải mái để lộ ra giọng địa phương — hất đầu hỏi anh, thế còn bạn đồng hành của chú bây là sao đấy.

Soun không chờ Jo đáp lời thay cho mình. Em là người gốc ở đây ạ, anh đáp bằng một khẩu âm Jo chưa từng nghe thốt ra từ miệng anh. Khuôn mặt người phụ xe nháy mắt sáng bừng lên.

Ôi, có việc gì mà chú lại về vào cái mùa chưng hửng thế này?

Chuyến đi tiền trạm của họ dự kiến sẽ kéo dài ít nhất một tháng. Một chiếc máy quay đơn giản và vài thiết bị hỗ trợ khác hẳn đang nằm gọn trong túi hành lý nặng trịch của Soun, túi hành lý mà anh mang riết theo mình chứ không bỏ vào cốp sau. Jo không biết y có nên trông chờ cái cảnh họ vò đầu bứt tai nhau với bước hoàn thiện kịch bản.

Nào ngờ chưa đâu vào đâu, xe đã đột nhiên chết máy giữa đường. Nổ hoài không dậy được.

Jo và Soun chọn không chờ. Họ xuống xe và tự cuốc bộ.

Y với lấy túi hành lý nặng hơn — của Soun — và đưa cho Soun khoác túi hành lý của y. Ý hỏi lộ rõ trong ánh nhìn của Soun, và đáp lại anh, y bảo, "Không phải trong này còn có cả máy quay và đạo cụ chung ư? Thế thì Soun cũng phải chia cho tôi xách cho đúng phần của mình chứ."

Soun khẽ thở dài — chỉ qua mũi, không qua miệng. Anh khoác túi hành lý của Jo lên vai, chân mày anh nhíu lại rồi giãn ra khi lờ mờ đoán được rằng hắn cũng mang theo... "Thật ra chết máy ở đây cũng có cái khéo. Chợ đá hẳn là ở quanh quanh quãng này." Anh điệp lại lời phụ xe, rồi anh xoay gót đi trước dẫn đường. "Nếu nặng quá thì cứ bảo tôi."

Phiên chợ đá quý xôm tụ nhất vào tám đến mười giờ sáng những ngày nắng đẹp, Soun bảo, vì vào cái khung giờ ấy người ta có thể dễ dàng giơ đá lên dưới ánh mặt trời, xem lửa, xem vân, xem tạp chất, nói đơn giản là thẩm định sơ bộ ngay tại chỗ; ngoài ra thì có những loại đá cũng không nên phơi nắng quá lâu, có những sạp sau chín giờ sáng là người ta dọn vào rồi. Bước chân Soun nán lại đôi chút ở viền ngoài khu chợ, anh nhìn đồng hồ đeo tay và thấy đã gần chín rưỡi, bèn ngoảnh sang hỏi Jo có muốn vào xem thử không, hay là để mai. Sau nửa ngày dài di chuyển, họ đều đã thấm mệt; nhưng ánh mắt Soun như muốn nói rằng anh sợ sẽ để lỡ điều gì. Đã bao lâu anh không về đây rồi nhỉ?

Nếu là trước đây, dầu Jo có hỏi, Soun hẳn vẫn sẽ không trả lời; âu cũng là có qua có lại thôi, vì đã rất nhiều lần Jo đánh chệch hướng những câu hỏi của anh. Dẫu gì thì quy ước của họ với nhau cũng là Jo chỉ cần biết Soun là "Soun", và Soun chỉ cần biết Jo là "Jo".

Nhưng bây giờ thì khác.

"Vào xem qua một chút đi", Jo đáp, "biết đâu còn có chỗ nào đó cho chúng ta ngồi nghỉ lại."

Bởi vì đúng như dự liệu của cả hai người họ, Jo phản bội Soun. Và kể từ sau khi hết thảy vỡ lở, y và anh mới có thể bình thản nhìn nhau trong một sự vỡ lẽ lặng thinh, không còn phải giấu giếm những uẩn khúc và những mối ân nợ kế thừa. Khi Joichi không còn nợ nần gì cha của Soun nữa, cuối cùng, họ cũng chỉ còn là "Jo" và "Soun". Hai cái tên mà tự họ đã chọn cho riêng họ. Hai cái tên mà khi người ta kiếm tìm tiểu sử đằng sau, sẽ chỉ thấy những gì họ đã tự tay vun đắp và dựng xây.

Soun vòng ra sau lưng y, y nghe thấy tiếng kéo khoá, một lần đóng, một lần mở; rồi anh lại vòng về trước và đặt vào tay y một đôi găng tay làm vườn. "Cần phải dày đến vậy luôn à?" Jo bóp nhẹ phần độn ở đầu ngón của găng, rồi liếc nhìn những viên đá lởm chởm chồng lên nhau, có cọc to như trứng đà điểu, có những tủn thì nhỏ như trứng chim cút. 

"Có những loại đá có độc tính mà. Cẩn tắc vô áy náy." Soun đáp, anh dẫn trước ghé vào một sạp hàng vơi vơi. Miếng thạch anh thứ nhất Soun đặt vào tay Jo trong và lưa thưa những vạch tóc. Tảng thạch anh thứ hai Soun đặt vào tay Jo bẹp dẹt, đục ngầu, vân tròn loang lổ như bong bóng trên men nở. Cách một lớp găng dày, Jo không cảm được bề mặt của chúng. Người chủ sạp đá bật cười trước họ, và bảo, có phải đi vào rừng hái thuốc hay đào đá đâu mà vũ trang kĩ càng thế. Jo cười trừ. Soun đang đeo một đôi găng tay mỏng hơn đôi anh đeo cho y. Anh chỉ vào hai viên thạch anh trên tay Jo:

"Một cái là đá từ trên núi vùng này. Một cái là hàng nhập ngoại từ một vùng cát."

"Tôi tưởng đặc trưng của vùng này là một loại đá màu đỏ."

"Tôi chưa gặp được sạp nào đủ ưng."

"Soun sành thật đấy..."

Tất nhiên là cuối cùng họ cũng không mua gì cả. Sau lưng họ, tiếng chèo kéo và phiên chợ dần tàn.

"Anh cũng vậy mà."

Họ cùng nhau đi tìm một chỗ nghỉ chân.

(Khi ấy, khi y trở về bên anh, mang sau lưng cái mác của một kẻ phản bội, Soun đã nói với y, mừng anh về nhà.)

"Hoá ra ở giữa chợ còn có một con suối." Con nước cắt qua đá hay là vắt qua đá, rắn rỏi và mềm êm. Túi hành lý của họ không dựa vào nhau, chỉ nằm gọn một góc sau lưng Jo.

"Khu nhà nơi ta sẽ nghỉ lại ở gần hơn với thượng nguồn. Nếu anh muốn xuống, thì chờ chút nữa vẫn còn cơ hội."

Jo đưa tay đón lấy chén trà nóng hầm hập từ tay Soun. "Nghe cậu vậy." Y đáp.

Nhờ một tổng hoà từ vận may, khẩu âm bảo chứng cho gốc gác của Soun, và cả hiểu biết tích tụ lẫn sự ham học chân thành của anh, cộng với một điều gì dường như bỗng được thắp lại trong đôi mắt có phần hà khắc của người y sư sống một mình bên bờ suối này — họ thực sự được bà cho phép ngồi lại nghỉ ngơi tùy thích ngoài hiên tiệm thuốc của bà. Còn được đãi trà nữa cơ, thôi thì Soun vẫn luôn được lòng những thành phần trí thức lớn tuổi. Jo tháo kính, lau đi phần khói bám đầy lên hai thấu kính chỉ sau một cái nhấp môi.

"Tôi chỉ đang tự hỏi, không biết là do vùng đất này vẫn luôn ngấm ngầm hiếu khách, hay là do họ thấy cậu là một đồng hương trẻ tuổi."

Soun ngồi xuống bên cạnh y.

"Tôi cứ sợ họ sẽ bảo khẩu âm của tôi kỳ lạ quá. Cũng đã quá lâu rồi..." Giọng anh đều đều, như những dòng tốc kí sột soạt trên một trang giấy nháp. "Đây là quê hương của mẹ tôi."

Jo chưa vội đeo kính lại. Y nhìn anh. Và vẫn nhìn rõ anh.

"Mẹ ruột cậu, hay là phu nhân?"

Có lẽ chỉ có Jo mới dám hỏi anh câu hỏi này.

Có lẽ vì biết rõ điều ấy, nên Soun đã bật ra một tiếng cười nhỏ. Anh thở ra một hơi thật dài, và đáp với một khuôn mặt vô cùng nhẹ nhõm:

"Cả hai."

Mẹ ruột anh. Người phụ nữ đã sinh ra anh và không tìm đến anh cho đến một ngày sau khi anh hay tin bộ phim đầu tay của anh được chọn để gửi đi một Liên hoan Phim nọ; người phụ nữ đã thổi hồn vào một trong những nhân vật mà Soun tâm đắc nhất cho đến giờ phút này; người phụ nữ đã bảo với anh rằng thứ con cần phải tìm, cần phải vạch trần không phải là mẹ. Và, "Phu nhân" trong lời Jo nói – hay: người mẹ đã nuôi lớn anh bao năm bằng tất thảy sự thông tuệ và ân cần của một người phụ nữ được nuôi dạy để trở thành phu nhân của một danh gia vọng tộc. Người mẹ mà đã bao lần thủ thỉ với anh rằng, thật may là con trông giống cha con đến vậy. Người mẹ đã cứng rắn, điềm nhiên nhìn vào mắt anh, và bảo anh nếu con đã xác định sẽ đi, thì tuyệt đối đừng quay về.

Trong tiếng suối chảy róc rách như một mạch máu lộ thiên.

Hoá ra, Soun đã nghĩ gì nhỉ, à, hoá ra họ là đồng hương.

"Trà có hậu vị ngọt nhẹ nhỉ. Khẩu vị người vùng này là vậy, ngọt thanh đạm." Soun cất tiếng đặt dấu chấm hết cho đề tài kia, sau một khoảng lặng. "Tôi nghĩ sẽ hợp với anh."

ii,

Loại trùng đó không ăn những con độc trùng khác, loại trùng đó không được luyện bằng độc của rắn, rết, bọ cạp, ong, kiến, và vô vàn những con trùng độc tạp nham. Không giống như trong những câu truyện xa xăm và đầy cảnh tỉnh như cái lạnh phương Bắc — loại trùng ở đây ăn đá quý mà sống, và vì vậy nên chúng nó chỉ có thể được nuôi trong những mỏ quặng, dưới nền đất của cái vùng giàu đá quý đến độ chỉ cần một trận mưa sạt là đá sẽ nằm lúng liếng ngoài đường như nước mắt nhân ngư vương lại trên đường bò về đại dương. Loại khoáng sản phổ thông nhất ở đây có màu đỏ quạnh, rất độc, nên đôi mắt của những con trùng đó cũng có màu đỏ quạnh.

Cho dù nguyên thân có là loài gì đi nữa, khi "trưởng thành", chúng cũng đều sẽ không còn cánh, không còn chi, không còn sừng hay mỏ, toàn bộ thân thể như bị vuốt cho thuôn phẳng, dài thuồn thuột. Thế nên tục gọi chúng là "ngọc xà", người dân của vùng này đôi khi chỉ gọi gọn chúng thành "xà".

Ban đầu, khi Jo đem ý tưởng sơ khảo cho tác phẩm này – một tác phẩm phỏng theo tích "ngọc xà" – đến chia sẻ cùng anh, Soun đã đáp rằng để anh xem xét thêm, nhưng Jo có thể dễ dàng thấy rằng anh không mấy thoải mái với đề tài này. Và lúc đó y không nghĩ nhiều, y chỉ tủm tỉm đoán rằng chắc là anh sợ thôi. Chính Soun là người đã ngỏ ý với Jo rằng muốn họ thử sức với một bộ phim kinh dị, cụ thể là kinh dị dân gian; nhưng bảy thành viên cốt cán của đoàn phim hẳn đều nhớ rõ những ngày mà vị đạo diễn quy củ và nghiêm khắc của họ đã trắng đêm, một mình làm hộ việc của cả đoàn trong ánh đèn studio sáng chưng, cốt bởi vì bộ phim kinh dị anh mới xem khiến anh không sao ngủ nổi. Tất nhiên, anh không thẳng thắn thú nhận bao giờ, nhưng ai cũng hiểu...

Jo đã từng hỏi Soun, cậu có tin là ma quỷ có thật không. Soun im lặng một chút, rồi đáp rằng thứ gì được tạo nên bởi niềm tin tập thể của con người thì đều "có thật". Dù là theo cách này hay cách khác.

Không hổ là cậu, Jo đáp trong một tiếng thở hắt. Soun nhướng mày hỏi y có ý gì. Rồi anh thoái thác ngay khi Jo bắt đầu lân la nói về một bộ phim kinh dị nước ngoài. Hôm nay, thế này là chạm ngưỡng chịu đựng của tôi rồi, không thể dung nạp thêm cái gì kinh dị nữa đâu, Soun yếu ớt nói, đưa tay lên che xéo mặt, đầu ngón cái và ngón giữa day trên ấn đường, và Jo thấy anh sao mà dễ thương khó tả.

Thế cậu có sợ nếu thực sự làm bộ phim này, chúng ta sẽ động chạm tới một thứ gì đó không?

Soun đáp chúng ta đã bao giờ không động chạm gì sao. Thế cho nên chúng ta mới cần phải đi tiền trạm, phải học để biết tôn trọng làm sao cho đúng.

Jo lại thấy anh sao mà dễ thương khó tả.

Y chỉ không ngờ nơi họ đặt chân đến lại là quê mẹ của anh.

Đệm nằm được trải giữa lúc nhúc những chiếc chum, vại, và vò; chủ nhà — chủ của lò rượu này — bảo bên trong là rượu đấy. Mà loại rượu này phải dùng hơi người để ủ mới ngon, có các cậu lên, đúng là quý hoá quá. Ông còn đế thêm: Yên tâm, phòng kín chứ vò rượu không kín, không phải cái kiểu ủ rượu ngày xưa, áp suất nén không tới mức, không có chuyện nổ đâu, bao nhiêu năm nay loại rượu này vẫn đêm đêm được ủ bằng hơi người, mà người ủ rượu chỉ có chết già, không ai chết vì bị mảnh sành đâm. Jo bán tín bán nghi, nhưng y tin lựa chọn của Soun, nên y không vội nói gì. Đêm đó họ ngủ lại trong cùng một căn phòng với một đoàn những người xa lạ khác, Jo nhác thấy những chiếc mô tô dựng thành hàng ngoài sân và tự kết luận rằng họ đã lên núi cùng lúc, chỉ trước một chút so với y và Soun. Căn phòng này không có vách giấy, không có cửa sổ, nhưng luôn luôn có một nguồn sáng yếu ớt từ phía ngoài hành lang; cùng lúc vừa là nơi mát nhất, vừa là nơi ấm nhất trong nhà. Tiếng thở và hơi ấm của những người xa lạ quyện với nhau trên một lối đi tựa dòng suối cạn, ngoằn ngoèo trải giữa những vò rượu thơm mùi gạo. Giữa đêm đen, Jo nhấc tay và tay y đụng phải chất đất sần sùi, không tráng men. Đôi mắt Jo mãi mới quen với bóng tối. Những vò rượu được vẽ nên hoàn toàn bởi những đường cong, như thể chúng là một chỉnh thể đang sống, như thể cái lạnh của căn phòng là từ vách đất còn cái nhiệt là từ hơi thở của chúng.

Chúng không có mắt và vì vậy không thể nhìn lại Jo. Đêm đầu tiên của họ ở quê mẹ của Soun, từ điểm nhìn của Jo, đã trôi qua như thế.

Không phải bữa ăn nào ở homestay cũng sẽ có thịt, nếu có thường sẽ là món nướng. Jo vẫn giữ thói quen ngồi cạnh, sẵn sàng ăn hộ Soun tất cả những món mà anh không thích ăn nhưng vẫn sẽ cố nuốt nếu không có Jo, bởi vì anh rất ghét bỏ thừa. Đúng như Soun đã nói, khẩu vị của người dân vùng này thiên về ngọt và thanh, đến thứ rượu họ uống cũng có hậu vị ngòn ngọt. Và cũng đúng như Soun đã phỏng đoán, Jo rất hợp miệng đồ ăn của vùng này, nhất là của ngọt. Họ cùng nấu và cùng ăn hầu hết các bữa với gia đình chủ nhà. Ban sáng sẽ lạnh lắm, đêm qua, bác chủ lò rượu với khuôn mặt đỏ hây hây vì hơi men đã nheo mắt bảo, đứng bên lò nướng vào cái giờ ấy là sướng nhất đấy. Thế là họ dậy từ lúc năm giờ mười bảy phút để thể nghiệm cái "sướng nhất" của thời tiết vùng cao. Trời trắng sương. Soun bẻ than và xua Jo đừng có đứng ở phía ấy của lò nướng, kẻo có gì bay vào mắt; quả thật tro đang bay tứ tán quanh Jo, y bật cười, nghe lời anh bước trại sang bên, Soun đưa cho y một chiếc quạt, và y nghe tiếng bác gái vọng lại, đúng rồi, muốn ăn thì phải lăn vào bếp đi. Mùi thịt và rau củ nướng bốc lên ngọt lừng.

Ngôi đền duy nhất trong làng nằm dưới một cái hố trũng, ở tận trong lòng núi, sâu hơn cả thế này. Ứng với mỗi mùa, dân làng sẽ họp nhau dựng một sân khấu vây kín quanh miệng cái hố ấy, rồi cùng nhau diễn một vở kịch trải dài suốt sân khấu, đầu đuôi nối khít lại với nhau, thế mới là hoàn chỉnh. Rồi ở cuối vở kịch, các diễn viên sẽ cùng đứng thành hàng, hướng mặt về lòng hố, rồi khấu đầu xuống thật sâu – những vở kịch ấy cốt để mua vui và bày tỏ lòng biết ơn tới thần linh, đây là một truyền thống ngàn đời. Nhưng, bác chủ lò rượu thở dài tiếc nuối, sân khấu vừa dỡ được một ngày thì hai đứa tụi bây mới lên đến đây. Cũng không thể bảo hai đứa ở lại đến tận vở kịch cho mùa sau được, vào đông tuyết phủ, lên xuống núi đã cực lại càng cực hơn... Có lẽ đây là một phần lý do anh phụ xe ngày ấy cảm thán rằng sao mà họ lên vào cái mùa chưng hửng.

Jo nghiêng đầu nhìn Soun.

Y thấy anh không tiếc. Nhưng rồi anh quay sang, anh không nhìn Jo, anh nhìn xuống bắp ngô nướng được bọc vụng trong lá, nóng hôi hổi trong tay mình; anh không nhìn Jo, chỉ là trán anh hướng về phía y, vẻ khắc kỷ trên mặt anh tan chảy như thể đã bị lò nướng và câu chuyện dang dở về vở kịch mùa thu của bác chủ lò rượu hun chảy, và anh bảo với Jo, "Tiếc nhỉ." Và anh bảo, "Mùa xuân lại lên đây nhé." Vì thế nên, Jo không cười.

Y nhìn anh chuyên chú. Khuôn mặt anh tẩm đầy một nét hoài niệm khó mà giấu diếm – anh bảo tiếc nhỉ, nhưng Jo thấy anh không có vẻ gì là tiếc thật. Và y sực muốn bảo anh thế này không phải phí phạm quá sao, đây nên là một cảnh trong kịch bản, tôi nên có máy quay trong tay vào ngay lúc này.

"Mùa xuân tới, tôi sẽ rủ cả Hayate và những người khác theo cùng." Soun chìa cho y cả hai nửa bắp ngô. "Thời tiết trên này thất thường thật."

Trời vẫn chưa đủ lạnh để hữu hình hoá hơi thở của Jo. "... Đúng là thất thường thật." Trên màn ảnh, có lẽ ngay vào khoảnh khắc này, hơi thở trắng xoá của một nhân vật sẽ chạm vào chóp mũi một nhân vật khác. "Nhưng nếu tận dụng được, âu cũng sẽ là một cái hay." Nhưng ở đây thì không có chuyện đó. Jo vươn tay đỡ lấy hai nửa bắp ngô.

"Ừ, nếu tận dụng được." Soun đáp, nghiền ngẫm. Anh có nhận ra là y vẫn đang nhìn anh.

"Mà nướng thịt chắc phải nửa tiếng nữa. Anh đem một nửa chia nhau với em ấy đi," Soun hất đầu về phía đứa trẻ đang lon ton đi nhặt củi, "ăn lót dạ."

"Soun ác quá. Cậu cũng biết là tôi không có duyên với trẻ con mà."

Giờ, đến lượt Soun nhìn y, đôi mắt màu ngọc lục bảo phẳng thinh, lướt tới rồi lướt đi. "Không phải anh và em bé là bạn trao đổi kẹo với nhau à?"

Jo đổi chân trụ, nom như có phần chột dạ, và đổi bắp ngô từ tay này sang tay nọ, bỏng rát. "... Nguồn tin là đâu thế?"

"Chính miệng đương sự."

... Thì đúng là có chuyện đó thật. Ở đây có những thứ của ngọt mà Jo chưa từng được thấy, nữa là được nếm, nên đương nhiên y sẽ đem chỗ lương thự dự trữ của mình ra trao đổi rồi. Và đối tượng lý tưởng nhất để trao đổi còn có thể là ai ngoài cô công chúa của lò rượu này?

Con gái út của gia đình chủ lò rượu có đôi mắt mang màu giống hệt Soun. Ở vùng này chẳng có mấy đá ngọc lục bảo, nhưng những đứa trẻ có đôi mắt mang màu ngọc lục bảo lại chẳng hiếm lạ gì. Mỗi lần nhìn vào sắc xanh trong veo ấy, Jo lại nhớ đến khuôn mặt mềm mại mà Soun chỉ để lộ ra trước những đứa trẻ; con gái út của gia đình chủ lò rượu nhận lấy nửa bắp ngô, e thẹn cám ơn Jo, len lén ngước lên nhìn y, rồi chạy vụt đi, và Jo tự biết biểu cảm của bản thân chẳng thay đổi gì. Một cái "biết" vô cảm. (Cũng như cách mà y biết rằng Soun vốn có một cậu em trai kế; cũng như cách mà y nhớ rằng Soun đã có lần hỏi Jo đã từng gặp em ấy chưa.

Soun tự biết mình không cần hiệu đính thêm mô tả gì sau câu hỏi ấy, vì sẽ rất dễ để thấy được anh và cậu bé đó là anh em ruột, chỉ cần đã gặp cả hai là sẽ không thể nhận nhầm. Soun không miêu tả gì thêm, lựa chọn ấy như một lớp màng sàng lọc thông tin, một phép thử. Nên Jo đáp rằng thằng bé vẫn rất khoẻ mạnh, tóc tím chỉ ngắn đến cằm, lớn lên bình thường — đối nghịch với những cái "bất thường" trại hướng như y hay Soun — và thằng bé gọi một người mang mái tóc vàng, nom chỉ nhỏ hơn họ đôi ba tuổi, là "anh Hai".

Nét ngạc nhiên thoáng hiện trên khuôn mặt Soun, nhưng rồi quá nhanh, những cảm xúc ấy vụt đi mất. Anh chỉ đáp, à.)

Thời tiết trên này thất thường, gieo cấy, chăn nuôi đều khó. Xưa kia người dân miền này lấy khai thác đá quý làm kế sinh nhai. Rồi sau đó, họ học được cách nuôi ngọc xà. Tục bảo tổ nghề nuôi ngọc xà được thần linh truyền dạy cho ngón nghề này trong một đêm nằm mộng trong mỏ đá. Tục cũng bảo, không có báo mộng chi cả, chỉ là một ngày nọ, một người thợ mỏ nọ tình cờ thấy một con trùng đang gặm những viên đá lấm đất lấm bùn trong giỏ thu hoạch của ông ta; ông ta làm một cuốc, con trùng biến tan và đá trắng bỗng bị nhuộm thành màu đỏ, có những đường vân bạc phập phù như mạch máu. Bán ra rất được giá, được giá ăn đứt những loại đá khác, chỉ có một điểm trừ là hễ tay người chạm vào là bỏng. Câu chuyện về loại đá nhuộm màu đắt đỏ ấy mau chóng được lan truyền, thế là ở vùng núi ấy nhú ra bao nhiêu người theo bước người thợ mỏ nọ; Cứ dụ trùng, giết trùng, rồi lấy đá đỏ đem bán— Mãi, cho đến một ngày nọ, bước ngoặt xảy ra khi một người thợ mỏ nọ không nỡ xuống tay giết con trùng bé tin hin đang quơ giãy đành đạch như một tế bào chưa biết cả nhận biết hiểm nguy. Họ bèn cứ để cho nó ăn hết một nửa giỏ đá rồi thả nó vào hang. Nhưng đêm đó, nghĩ sao mà họ lại sợ nó sẽ bị những người thợ đào đá quý khác một cuốc chặt đôi, thế là như bị thứ gì khiến xui, như đuổi theo tiếng khóc của mẹ ruột mình dưới hình hài một đứa trẻ sơ sinh, họ lồm cồm bò về mỏ.

Câu chuyện tiếp theo đó, là chuyện của "ngọc xà".

(Anh gặp cha tôi như thế nào?

... Để tôi nói cho Soun một bí mật nhé. Rốt cuộc tôi vẫn nợ cậu nhiều hơn là tôi nợ cha cậu.

Cậu đã bao giờ muốn trở về chưa?

Soun đáp, uyển chuyển và bình thản, tôi sẽ không trở về.

Tôi không tin vào những gì cha tôi theo đuổi. Tôi cũng biết niềm tin của Jo khác với tôi.

Thế mà, khi ấy, Soun đã nói, mừng anh về nhà. Đôi lúc, Jo bảo, đôi lúc đến cậu cũng không thể nhìn thấu nhỉ.)

Mỗi đứa con của mảnh đất này đều đeo trên mình một viên đá quý hộ thân, Jo nghe loáng thoáng ở đâu đâu, là để sau này khi qua đời thì gửi lại cho con cháu, con cháu sẽ bón cho ngọc xà của nhà mình ăn. Ngọc xà ngoan sẽ không nuốt được viên đá hộ chủ. Nó sẽ khạc ra đúng viên đá kia, chỉ hiềm đã bị nhuộm đỏ thêm đôi phần, và viên đá đó sẽ được trao cho thành viên nhỏ tuổi nhất của dòng họ. Cứ thế sẽ thành một vòng lặp. Phải thế này thì mới gọi được phước về đúng nhà.

Khi nào viên đá mà ngọc xà khạc ra chuyển đỏ hoàn toàn, tức là đã đến lúc. Đến lúc gì? Bán đi, tìm chủ mới? Ăn? Bị ăn? Trả ơn, trả nợ? Đổi họ? Chuyển dời?

Soun đã mạo muội hỏi bác chủ lò rượu, vị thần được thờ cúng ở ngôi đền duy nhất trong làng ấy được dân làng gọi bằng cái tên gì. Bác chủ lò rượu im lặng một thôi, rồi thở dài bảo, đúng là con cái lớn rồi, về nhà đều là khách.

Bằng thứ khẩu âm đặc sệt của vùng này, bác hỏi, từng câu từng chữ như đánh cho khói bếp cũng phải chao đảo – chẳng phải trong tên cháu có một phần của tên Ngài đấy sao?

iii,

Họ xuống chợ đá quý thêm một lần nữa. Lần này không xách theo hành lý, đi bộ đỡ mệt hơn nhiều. Dòng suối cắt qua trung tâm khu chợ. Nhưng không được tùy tiện đem đá xuống suối rửa. Cách con suối đó rất xa, Jo lần đầu tiên được lướt tay trên những thớ mạch óng ánh bạch kim của loại đá đỏ quý giá đã trở thành phụ danh của miền đất này.

"Cẩn thận kẻo bỏng." Soun nhắc y, đôi găng họ đeo trên tay mỏng như bao cao su. Jo chớp mắt và tự thấy ngạc nhiên với cái hình ảnh so sánh đầy phồn thực ấy. Soun hỏi, y kể lại cho anh, rồi anh bảo nếu là anh, anh sẽ ví nó mỏng như màng trứng. Anh còn bảo không phải như vậy là vừa khéo ư, trong kịch bản mà họ đang xây dựng có hai nhân vật chính – một nhân vật chính muốn tin rằng mình được thánh thần đẻ ra và muốn đẻ ra thần thánh, nhân vật chính còn lại thì muốn cưỡng hiếp thần linh. Mặt đá thô gồ ghề, không có đường cong, tức là khó nhận diện hơn, nhưng đây cũng là "sự sống". Jo giơ cao miếng đá ấy và để cái nắng tám rưỡi cắt cho thứ sắc đỏ xứng danh máu của ngọc xà lem đầy xuống mặt y.

Đến tận khi Jo chỉ ra, Soun mới để ý thấy anh có một vết bỏng nơi cổ tay. Jo nhíu mày, quái lạ, Soun có bất cẩn như thế bao giờ? "Lạ thật đấy", Soun đáp lại, anh đã tháo găng và đang nhúng cả nửa bắp tay xuống suối. "Tôi cũng không nhớ được là chạm vào khi nào. Tôi đã rất cẩn thận mà nhỉ..."

Nước sạch, trong và siết. Chỉ sâu đến quá cổ chân. Có những người đang xắn, xách cao, nhấc cao hoặc quấn và vắt tà vải lên để lội sang phía bờ kia. "Chút nữa đi sang đó nữa nhé?" Jo dạo mắt qua những sạp hàng dọc nửa kia của khu chợ. Không có đá quý. Đồ ăn thức uống... Jo đoán chừng cũng không xôm được bằng những khu chợ ướt ở vùng rìa thành thị xa tít tăm dưới núi, dẫu gì ở đây hầu như người ta cũng tự cấp...

"Ừ."

Vết ửng đỏ trên cổ tay Soun lốm đốm cả những vệt tróc trắng. Jo nhíu mày sâu hơn, "Không đau thật à?"

Bóng phản chiếu của Soun chao đảo trên dòng nước xiết. "Ừ, không hiểu sao lại không đau."

Jo đưa tay ra đỡ lấy dưới cổ tay anh. "Chính cậu cũng nói rồi, cẩn tắc vô áy náy."

Jo và Soun ghé lại tiệm thuốc đã độ lượng cho họ nghỉ chân vào ngày đầu họ đặt chân tới vùng này. Vị y sư nọ liếc qua cổ tay Soun, khuôn mặt bà im lìm; lá thuốc được đắp lên trên phần da bị tổn thương. Soun bảo vừa nãy con có ngâm tay dưới suối, và bà đáp thế là tốt, cái bỏng do âm của nơi nào gây nên thì dùng dương của nơi ấy để xoa dịu là đúng. Jo nghiêng đầu, và y thấy Soun cũng thoáng nhíu mày, anh hỏi ý người là do đất là âm và nước là dương đúng không ạ? Không... nhưng không phải theo thuyết âm dương thì nước cũng là âm ư? Y sư lúc bấy giờ đang đứng dậy, dợm quay vào trong để lấy thêm gì đó, có lẽ bà không kịp nghe thấy câu hỏi của Soun.

Bỏng nhẹ thôi, không có gì đáng ngại đâu, bà bảo anh trước khi xua họ ra cửa. Không đau chứ gì? Phải, phải. Mảnh đất này vẫn không nỡ làm tổn thương anh đâu. Lần sau nhớ cẩn thận vào. Câu nói áp chót của bà khiến Jo khựng lại, nhưng y lẫn Soun đều chẳng kịp hỏi thêm, y sư đóng sập cửa và tỏ rõ ý không muốn bị họ quấy nhiễu thêm.

... Cậu có nhiều kỷ niệm ở nơi này không, Soun?

Soun cúi xuống để xắn lại gấu quần. Anh không nhìn y, không nhìn cả bóng hình phản chiếu của họ, nước lách qua chân anh mà chảy, siết đến hằn rõ vân, anh nhìn những cợn nước chẳng bao giờ lạc đường ấy và đáp, chắc là sắp có nhiều rồi nhỉ.

Quay phim nhanh thì cũng phải mất cả năm.

iv,

Da Soun nóng rẫy, nhưng nhiệt kế cho thấy thân nhiệt anh thậm chí còn chưa tới ba mươi bảy độ. Anh bảo chắc là không sao đâu, và vùi mình sâu hơn vào trong chăn, "Anh cũng ngủ sớm đi, Jo. Ngày mai còn phải lên khu mỏ cũ." Jo im lặng nhìn miếng dán lạnh trên trán anh và bình giữ nhiệt đang để ngay trong tầm với, tạm thời chưa nghĩ ra mình có thể làm thêm được gì. Một dòng suy nghĩ vụt qua óc y, y tự hỏi nếu y chạm vào anh ngay lúc này đây, liệu y có bị bỏng. Cổ tay Soun thò ra khỏi mép chăn, áp lên sàn đá lạnh dịu, ven xanh vằn lên dưới da như những dải mạch óng ánh bạch kim hằn trên thứ đá đỏ làm nên – và cũng là đóng khung và giam hãm – tên tuổi của vùng đất này.

Jo ngủ không sâu giấc. Và y nghĩ rằng Soun cũng vậy. Cái tên của Soun có hai nửa. Một nửa thuộc về anh, và một nửa là mối liên kết giữ lại, với người mẹ đã nuôi lớn anh, với em trai anh, với người đàn ông có mái tóc vàng dài, với tất cả những gì đã từng là anh, với tất cả những gì anh đã ngỡ mình sẽ gánh vác, đã ngỡ mình sẽ trở thành. Nửa nào trong cái tên ấy là "một phần của tên Ngài"? Trước câu hỏi đường đột ấy, Jo lẫn1 Soun đều đã chết lặng, chết trân như bị một nỗi sợ vô danh ghìm vai tại chỗ. Soun có biết không? Cái tên của anh có hai nửa, một nửa do anh tự đặt và một nửa lấy từ cái tên người khác đã đặt cho anh. Nửa nào trong cái tên ấy là "một phần của tên Ngài"?

Soun ngủ không sâu giấc. Anh đi lạc giữa những giấc mơ chập chờn. Anh uể oải mở mắt và thấy dưới lưng và quanh mũi mình đều âm ẩm. Rượu đổ lênh láng, mùi hoa, mùi gạo, mùi xác, mùi da. Tóc anh bết trên tấm nệm tẩm rượu như những đường vân óng ánh bạc. Tóc anh dài quá, đã sắp che kín gáy rồi, hôm nào phải tranh thủ cắt đi thôi. Anh thấy ai đó đang chống hay tay bên một chiếc chum ủ rượu rất to, cả cơ thể khựng cứng lại như thể không dám tin vào những gì đang tận mắt thấy, anh đã ngỡ đó là Jo, nên anh cố dựng mình dậy và cất tiếng gọi y.

Nhưng bả vai y run lên bần bật. Những lọn tóc dài trượt xuống theo cử động của y khi y quay sang nhìn anh. Những lọn tóc dài như những vết nứt dồn ứ lại, dồn ứ lại.

Khoảnh khắc ấy, thực ra, Soun chẳng hề cảm thấy ngạc nhiên.

Đương nhiên, dưới làn tóc đó, khi những vết nứt dồn ứ vỡ choang và bức màn che phủ tan xác, sẽ là gương mặt của chính anh rồi. Còn kịch bản nào có thể dễ đoán hơn thế này? Anh đi lạc giữa những giấc mơ chập chờn và xâu chuỗi lại những ký ức đã bị vụ tai nạn do cha anh dàn xếp xé vụn. Những vò rượu tự mình vỡ choang và đánh ra những cú sét của nhà hầm. Khuôn mặt cắm đầy mảnh sành của thứ bán xà bán nhân bò ra từ trong vò rượu cũng là khuôn mặt của chính anh ngày trẻ. Mau chạy đi, mau chọn đi. Còn kịch bản nào dễ đoán hơn thế này?

Mẹ đã nhìn thẳng vào mắt anh, cứng rắn và từ bi, bình đẳng và bình thản. Đứng trước thần linh, ác nhân hay hiền giả cũng đều rất mực nhỏ bé. Đứng trước khát vọng của con người, yêu quái hay thần linh cũng có khác gì nhau. Mẹ đã nhìn thẳng vào mắt anh, cứng rắn và từ bi, bình đẳng và bình thản, và bảo anh nếu đã quyết tâm chọn đi, vậy thì tuyệt đối đừng quay trở về.

Jo ngủ không sâu giấc. Con suối vẫn chưa đóng băng và y loáng thoáng nghe thấy tiếng nước. Y vọt dậy, quơ lấy kính, và vội vàng đuổi theo dấu tích mà hơi ấm của Soun lưu lại trên lối đi vằn vện như một con suối cạn, phơi đáy ra giữa những vò rượu thoang thoảng mùi thơm của gạo và men.

Y đẩy mở tấm ngăn và sấn hẳn ra ngoài. 

Những bông tuyết đầu tiên buông rơi và Jo bối rối chống chọi với cái nhìn chòng chọc từ một đôi mắt đỏ ngầu.

"Koki? Sao em lại ở đây?"

Dáng hình ấy xuất hiện đường đột như một đoá tuyết nở vội. Và Jo cũng tự thấy lạ là bản thân lại dùng hình ảnh ấy, vì trang phục của người đàn ông đó trái ngược hoàn toàn với sắc tuyết. Trang phục của người đàn ông đó thuôn mượt một sắc đen không có mảy may một đoạn thừa lồi cộm, từ cổ tay áo cho đến tận gót của đôi bốt việt dã cổ cao, suông dài như có thể uyển chuyển lẩn đi bất cứ khắc nào. Chỉ có mái tóc hắn là lệch quẻ – đúng màu trắng của mùa đông. Con thỏ rừng to bằng bắp đùi trên của hắn đang bị hắn nắm chặt lấy tai, máu rơi lên những thớ cỏ nghiêng ngả vì hơi tuyết. Hắn dời mắt khỏi Jo và chuyển ánh nhìn sang Soun, lúc bấy giờ đã bước rảo xuống đến gần sát bên hắn.

"Em đi săn."

Jo đã gặp người đàn ông này không ít lần. Anh biết hắn là ai. Một đầu bếp. Cộng tác viên cho bộ phim tài liệu sự thật thứ ba của Soun, nhân sự ngoài của ban hậu cần cho vô số những trận quay vật lộn rất dài. Bạn cùng nhà của Soun, đồng hành mãi cùng Soun, từ trước cả năm Jo tìm đến gặp anh. Và theo lời Soun, thì là thủ phạm thứ cấp đã nuông chiều nên tính kén ăn của anh.

"Em đuổi theo con gì mà lên tới tận đây..."

Jo đã gặp người này không ít lần, nhưng y chưa bao giờ nhận rõ mắt hắn đỏ đến độ nào.

"Anh bảo ngay khi tuyết bắt đầu rơi, anh sẽ về." Đôi mắt đỏ quạnh ấy chỉ nhìn chuyên chú vào Soun, qua những lọn tóc mai trắng bạc rủ mềm trước trán. Giọng hắn phẳng lặng. Hắn gần như đã bảo, "tuyết rơi rồi," như lời chính anh đã nói, "em đến đón anh về."

Bước chân Jo khựng lại khi y nhớ ra bây giờ đáng lý ra, đúng ra, mới chỉ nên là cuối tháng tám. Lịch trình của họ kéo dài một tháng. Và họ đáng lý ra, đúng ra, mới chỉ ở đây được năm ngày.

Tuyết đã rơi vào một ngày tháng chín, một ngày không nên có tuyết.

Như một linh tính đầu tiên thành hình quá đỗi muộn màng.