Actions

Work Header

Trăng sáng vườn chè

Summary:

"Vì tằm tôi phải chạy dâu,
Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay.
Chồng tôi thi đỗ khoa này,
Bõ công kinh sử từ ngày lấy tôi."
("Thời trước" - Nguyễn Bính)

Notes:

Truyện lấy cảm hứng từ bài thơ "Thời trước" của Nguyễn Bính, được nhạc sĩ Văn Phụng phổ lại thành nhạc đặt tên là "Trăng sáng vườn chè", truyện ko liên quan đến vườn chè:)))))
Viết truyện cổ tích nhưng không ra vibe cổ tích.
Viết vui thôi nên đừng ai hỏi là lấy bối cảnh năm nào nha, tui ko có biết đâuuu

(See the end of the work for more notes.)

Work Text:

Thuở ấy, bên bờ sông Nhĩ Hà, có một làng quê nhỏ thuộc vùng Kinh Bắc. Làng ấy nằm khiêm nhường bên tả ngạn dòng sông Nhĩ Hà đỏ nặng phù sa, quanh năm bồi đắp cho những cánh đồng thêm màu mỡ, cho những bãi ngô, bãi mía thêm xanh tốt. Mỗi buổi sớm mai, khi mặt trời còn chưa ló dạng sau rặng tre đầu làng, tiếng gà gáy đã vang khắp xóm thôn, tiếng chó sủa vang vọng từ những ngõ hẻm quanh co, tiếng người gọi nhau í ới ra đồng cấy lúa. Những làn khói lam chiều từ những mái nhà tranh vấn vương trong gió, mang theo hương cơm mới và mùi rơm rạ thân thuộc. Cuộc sống nơi đây yên bình như bức tranh thủy mặc, nhưng cũng đầy những vất vả, lo toan của người dân quê chân chất.

Trong làng ấy, có một đôi trẻ vừa mới nên duyên vợ chồng được độ ba tháng. Chàng tên là Nguyễn Trọng Đức, con nhà nho nghèo, tổ tiên mấy đời đều lấy việc đèn sách làm trọng. Em tên là Võ Việt Phương, con nhà nông dân cần cù, cha mẹ mất sớm, từ nhỏ đã phải tự thân lo liệu mà sống. Hai người ở cạnh nhau từ thuở ấu thơ, cùng nhau lớn lên dưới bóng đa đầu làng, cùng nhau nghe tiếng sáo diều vi vu trên bầu trời xanh thẳm mỗi độ thu về. Trọng Đức thì ham học, ngày ngày ôm sách đến trường làng, tối về lại ngồi bên ngọn đèn dầu leo lét đọc bài. Chàng có đôi mắt sáng như sao, nét mặt thanh tú, dáng người cao gầy nhưng nhanh nhẹn. Việt Phương thì chăm chỉ, sớm tinh mơ đã ra đồng cấy lúa, chiều về lại gánh nước tưới rau, nuôi mấy con gà mái đẻ trứng đổi lấy gạo ăn. Em có đôi bàn tay chai sạn vì làm lụng, nhưng nét mặt lúc nào cũng tươi cười, đôi mắt hiền từ như ánh trăng rằm.

Duyên trời se lại, hai người nên nghĩa chồng vợ. Ngày về ở chung một nhà, Trọng Đức mắt rưng rưng mà thề rằng:

- Con cúi lạy xin trời đất, xin ông bà tổ tiên chứng giám cho tấm lòng con. Con là Nguyễn Trọng Đức, từ nay nguyện dồn hết tâm sức vào nghiên bút, quyết theo đuổi con đường khoa cử đến cùng. Con cúi xin trời đất thương xót, con cúi xin tổ tiên phù hộ cho con sớm ngày đỗ đạt thành tài, để con được chăm lo cho hiền thê của con là Võ Việt Phương người đã một đời lam lũ vì con, để đôi tay người ấy không phải chai sạn thêm một ngày nào nữa.

Việt Phương nghe vậy, nước mắt lăn dài trên má, em nhìn Trọng Đức rồi khẽ lắc đầu, giọng nhẹ như gió thoảng:

- Em nào cần áo gấm vóc, em cũng chẳng cần vàng bạc châu báu. Em chỉ cần được sống bên chàng, được thấy chàng mỗi ngày, được cùng chàng chia sẻ buồn vui, thế là ta đã hạnh phúc lắm rồi.

Nói rồi, Việt Phương cúi đầu lạy ba lạy trước bàn thờ tổ tiên, lòng thành kính như đang thưa với ông bà nơi chín suối rằng em đã nguyện một đời bên cạnh Đức, dù là lúc nghèo hèn, bần cùng nhất.Trọng Đức đứng bên cạnh, mắt đã lệ nhòe. Từ đó, căn nhà nhỏ ba gian, mái lá đơn sơ, vách đất phên tre, trở thành tổ ấm của đôi vợ chồng trẻ.

Sáng sớm, khi gà chưa gáy sáng, Việt Phương đã dậy nhóm lửa nấu cơm. Tiếng chày giã gạo vang lên đều đều, tiếng lửa nổ tí tách trong bếp, tiếng gà mái kêu cục tác trong ổ rơm. Việt Phương nấu cơm bằng nồi đất, cơm chín trắng tinh, thơm lừng, chàng xới cơm ra bát, để phần Trọng Đức nhiều hơn phần mình. Em thường nói với rằng:

- Chàng học nhiều, cần ăn no để có sức mà học. Em làm việc ngoài đồng, ăn ít cũng không sao.

Trọng Đức nghe vậy, lòng đau như cắt. Chàng thương em vô cùng, nhưng cũng hiểu rằng nếu không đỗ đạt, chàng sẽ mãi mãi là kẻ vô dụng, không thể báo đáp được công lao to lớn của Việt Phương. Vì vậy, chàng càng miệt mài học tập, ngày đêm không ngơi nghỉ. Chàng đọc sách đến quên ăn quên ngủ, viết chữ đến mỏi tay, nghiền ngẫm kinh sử đến thuộc lòng từng câu từng chữ.

Ngày tháng cứ thế trôi qua, mùa xuân qua rồi mùa hạ đến, mùa thu rồi mùa đông, bốn mùa thay đổi trên cánh đồng làng. Mùa xuân, hoa đào nở rộ khắp làng quê, những cánh hoa hồng thắm rơi trên con đường làng, như trải thảm đón chào một mùa mới. Mùa hạ, nắng vàng óng ả, những cánh đồng lúa chín vàng, hương lúa thơm nồng nàn, tiếng ve kêu râm ran trong những vòm lá. Mùa thu, trời xanh thẳm, gió heo may thổi nhẹ, những chiếc lá vàng rơi trên mặt sông, trôi theo dòng nước đỏ phù sa. Mùa đông, trời rét cắt da cắt thịt, những cánh đồng khô cằn, những mái nhà tranh phủ sương, những con đường làng vắng vẻ, chỉ có tiếng gió bấc thổi hun hút. Đôi vợ chồng trẻ tuy nghèo nhưng lúc nào cũng vui vẻ, đầm ấm. Việt Phương dù vất vả quanh năm, nhưng nét mặt lúc nào cũng tươi cười, bởi chàng biết rằng mỗi ngày chồng mình lại tiến gần hơn đến khoa cử. Trọng Đức thì học ngày học đêm, chàng đọc sách đến nỗi quên cả ăn, nhiều đêm thức trắng đến sáng, chỉ mong sao cho kịp khoa thi. Có hôm, Trọng Đức giật mình tỉnh giấc, thấy Phương ngồi bên bếp lửa, tay ôm ngực, ho từng cơn, tiếng ho khàn đặc như tiếng ai xé vải. Chàng vội vàng chạy ra, nắm tay Phương, thấy tay Phương lạnh ngắt, run lên như cành lá trước gió bấc. 

- Em bị làm sao thế? Có mệt lắm không? Việt Phương cố gượng cười, đáp:

- Không sao đâu chàng, em chỉ hơi mệt chút thôi. Trọng Đức nhìn em, lòng đau như cắt. Chàng biết rằng Việt Phương đã vì mình mà vất vả quá nhiều, đến nỗi sức khỏe ngày càng yếu đi. Mỗi ngày em đều ra bãi cỏ ven sông chăn trâu thuê, để trâu ăn cỏ no nê, rồi dắt trâu về chuồng. Rồi em lại ngồi bên khung cửi tre, dệt vải, may vá, làm mọi việc để có tích góp chút tiền cho chàng làm lộ phí. Chàng thương Phương quá, thương đến nỗi nước mắt cứ trào ra, không sao ngăn lại được. Chàng muốn ôm Phương vào lòng, muốn nói với Phương rằng chàng biết ơn Phương vô cùng, rằng chàng sẽ không bao giờ quên những gì Phương đã hy sinh vì chàng. Nhưng chàng lại sợ, sợ rằng nếu chàng nói ra, Phương sẽ lại cười, lại bảo không có gì, lại bảo đó là bổn phận của em, lại bảo chàng cứ yên tâm.

***

Thế rồi, khoa thi cũng đến. Tin mở khoa thi lan nhanh như ngọn gió đồng nội. Từ kinh thành Thăng Long, lời rao truyền theo ngựa trạm phi như bay, qua bao làng mạc, xóm thôn, qua những con đê uốn lượn như rồng nằm, qua những rặng tre xanh rì rào trong nắng sớm. Cả nước như bừng tỉnh sau giấc ngủ dài mùa đông. Những túi hành trang bắt đầu được gói ghém. Sách vở, nghiên bút, bài tập kinh nghĩa cũ, vài tấm áo vá vai...tất cả được cột lại bằng dây thừng thô, buộc vào đòn gánh, lên kinh ứng thí. 

Trọng Đức cũng lên đường, Việt Phương tiễn chàng ra đầu làng, gói ghém cho chàng cơm nắm muối vừng, vài bộ quần áo vá vai, và một túi nhỏ đựng tiền, là những đồng tiền mà em đã chắt chiu từng tháng, từng ngày mà để dành. Trước khi chia tay, Việt Phương nắm tay chàng, nói khẽ:

- Chàng đi đường bình an. Em ở nhà ngóng chàng về. Chàng hãy luôn nhớ rằng, dù kết quả thế nào đi chăng nữa, em vẫn mãi ở đây chờ chàng về. Không có em, chàng phải tự lo cho bản thân mình, nhớ ăn uống đầy đủ, giữ gìn sức khỏe, đừng để em lo lắng. Em không mong gì hơn ngoài việc chàng được bình an trở về.

Trọng Đức gật đầu, ôm chào tạm biệt Phương rồi quay lưng bước đi. Chàng đi mãi, đi mãi, qua bao làng mạc, bao con đê, bao cánh đồng, cuối cùng cũng đến được Thăng Long. Kinh thành Thăng Long bấy giờ là một đô thị sầm uất, phố phường đông đúc, người qua lại tấp nập, xe ngựa đi lại như mắc cửi. Trọng Đức tìm đến trường thi, nơi hàng nghìn sĩ tử từ khắp mọi miền đất nước đang tụ họp. Ai cũng mang theo sách vở, nghiên bút, ai cũng háo hức chờ đợi đến ngày thi. Trọng Đức tìm quán trọ nhỏ gần trường thi, ngày ngày ôn bài, đêm đêm đọc sách, quyết tâm thi đỗ để không phụ lòng Việt Phương ở nhà mong ngóng.

***

Sau khi trải qua bao khó khăn vất vả, bao tháng ngày đèn sách miệt mài, bao đêm thức trắng bên trang sách, bao lần mệt mỏi muốn gục ngã nhưng lại nhớ đến Phương mà gắng gượng đứng lên, thì ngày chàng chờ mong nhất cũng đã đến. Ấy là ngày công bố kết quả kỳ thi Đình, ngày mà bao nhiêu công lao đèn sách, bao nhiêu hy vọng của chàng và Phương sẽ được đền đáp, hoặc cũng có thể là tan thành mây khói.

Đêm trước ngày ấy, Trọng Đức không sao chợp mắt được. Chàng nằm trên chiếc giường tre nơi quán trọ nhỏ, mắt mở thao láo nhìn lên trần nhà, tai nghe tiếng mưa rơi tí tách trên mái lá, lòng bồn chồn như có lửa đốt. Chàng nhớ Phương da diết, nhớ căn nhà nhỏ, nhớ mùi rơm rạ thân thuộc, nhớ tiếng chày giã gạo đều đều mỗi sớm mai, nhớ hương cơm mới thơm lừng từ bếp lửa của Phương. Chàng nhớ đôi mắt hiền từ của Phương, nhớ nụ cười ấm áp của Phương, nhớ đôi tay chai sạn của Phương, nhớ những đêm Phương thức trắng quạt muỗi cho chàng học bài, nhớ những bữa cơm Phương để dành phần cơm trắng cho chàng còn mình thì ăn độn khoai độn sắn, nhớ những buổi sớm tinh mơ Phương ra đồng khi sương còn đọng trên lá, nhớ những buổi chiều gánh nước về khi trời đã nhá nhem, nhớ những mùa đông Phương ngồi co ro bên bếp lửa để nhường chăn cho chàng.

Chàng nhớ đến tất cả, và trong lòng chàng dâng lên một nỗi lo sợ khôn tả, sợ rằng mình sẽ không đỗ, sợ rằng công lao của Phương sẽ trở thành vô nghĩa, sợ rằng mình sẽ không xứng đáng với tình yêu và sự hy sinh của Phương. Chàng trăn trở mãi, trăn trở mãi, cho đến khi gà gáy sáng, chàng mới thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn, đầy những giấc mơ về Phương, về căn nhà nhỏ, về cánh đồng lúa xanh mướt bên bờ sông Nhĩ Hà.

***

Trời hôm ấy đẹp lạ thường, nắng vàng óng ả trải khắp kinh thành Thăng Long, bầu trời xanh thẳm không một gợn mây, gió thổi nhẹ mang theo hương hoa sứ thoang thoảng từ những khu vườn trong thành, hương sen thơm ngát từ những hồ nước trong cung điện, hương lúa chín thơm nồng từ những cánh đồng ngoại thành. Trước cổng trường thi, nơi tấm bảng vàng ghi danh các vị tân khoa được treo cao, hàng nghìn sĩ tử từ khắp mọi miền đất nước đã tụ họp đông nghịt từ sớm tinh mơ. Ai cũng chen lấn, xô đẩy, ai cũng cố vươn cổ, cố nhón chân, cố tìm cho mình một chỗ đứng thuận lợi để được nhìn thấy tên mình trên bảng vàng. Tiếng hò reo, tiếng thở dài, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng chúc mừng, tiếng an ủi, tất cả hòa lẫn vào nhau, tạo nên một bầu không khí náo nức, hồi hộp đến nghẹt thở. Trọng Đức cũng có mặt trong đám đông ấy.

Chàng đứng ở rìa đám đông, cố nhón chân, cố vươn cổ, nhưng đám người đông quá, chen chúc nhau như nêm, chàng không sao nhìn thấy được tấm bảng vàng. Trong lòng chàng bồn chồn, lo lắng, tim đập thình thịch như trống hội, mồ hôi tay ướt đẫm cả vạt áo. Chàng nhìn quanh, thấy ai cũng háo hức, ai cũng hồi hộp, ai cũng căng thẳng, ai cũng chờ đợi. Chàng nhìn lên bầu trời xanh thẳm, thấy những đám mây trắng trôi nhẹ nhàng, thấy những cánh chim bay lượn tự do, thấy những tia nắng vàng óng ả xuyên qua kẽ lá, chiếu xuống mặt đất ấm áp. Chàng nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu, thầm cầu nguyện tổ tiên phù hộ cho chàng, thầm cầu nguyện trời đất thương xót ban cho chàng  một chút may mắn. Chàng tự nhủ: "Phương ơi, ta đã làm hết sức mình rồi. Giờ chỉ chờ kết quả nữa thôi. Ta không tin ta lắm, nhưng em tin ta mà phải không?"

Rồi chàng hít một hơi thật sâu, lấy hết can đảm, bắt đầu chen vào đám đông. Chàng đưa vai ra trước, hai tay đẩy nhẹ hai bên, miệng nói khẽ:

- Xin lỗi, cho tôi qua với, cho tôi qua với. Nhưng đám người đông quá, chen chúc nhau như nêm, chàng đẩy được một bước lại bị đẩy ngược lại hai bước.

Chàng cố gắng mãi, cố gắng mãi, mồ hôi ướt đẫm trán, ướt đẫm lưng áo, nhưng chàng vẫn không sao chen được vào sâu hơn. Chàng nghe thấy tiếng ai đó bên cạnh nói:

- Đông quá, không chen được đâu. Tôi đứng đây từ sáng sớm mà vẫn chưa nhìn thấy gì.

Chàng nghe thấy tiếng ai đó phía trước nói:

- Tôi thấy rồi! Tôi thấy tên tôi rồi! Tôi đỗ rồi! Tôi đỗ rồi! Rồi tiếng reo hò sung sướng, tiếng khóc nức nở, tiếng chúc mừng rộn rã.

Rồi chàng lại nghe thấy tiếng ai đó phía sau nói:

- Chưa thấy tên tôi. Chắc là không đỗ rồi. Chắc là phải chờ khoa sau vậy.

Một tiếng thở dài não nuột, tiếng an ủi dịu dàng, tiếng bước chân lặng lẽ quay đi. Trọng Đức càng ngày càng sốt ruột, càng ngày càng lo lắng. Chàng cảm thấy như mình đang lạc vào một biển người mênh mông, không có lối ra, không có bến bờ. Chàng cảm thấy như mình đang bị nhấn chìm trong một dòng nước xoáy, không sao ngoi lên được, không sao thở được. Chàng cảm thấy như mình đang bị bóp nghẹt trong một cái kén chật hẹp, không sao vùng vẫy được, không sao thoát ra được. Nhưng rồi chàng lại nhớ đến Phương, nhớ đến đôi mắt hiền từ của Phương, nhớ đến nụ cười ấm áp của Phương, nhớ đến đôi tay chai sạn của Phương, nhớ đến những lời Phương nói, nhớ đến những việc Phương làm, nhớ đến những hy sinh của Phương. Chàng cố căng mắt ra nhìn, tim đập thình thịch, tay run lẩy bẩy, miệng lẩm bẩm:

- Đâu rồi? Tên mình đâu rồi? Nguyễn Trọng Đức đâu rồi?

Chàng nhìn từ trên xuống, từ dưới lên, từ trái sang, từ phải sang, nhưng chàng không thấy tên mình. Chàng nhìn mãi, nhìn mãi, nhìn mãi, nhưng chàng vẫn không thấy tên mình. Chàng bắt đầu hoảng hốt, bắt đầu lo sợ, bắt đầu tuyệt vọng. Chàng thầm trách trong lòng: "Không lẽ mình không đỗ? Không lẽ công lao của Phương trở thành vô nghĩa? Không lẽ mình đã phụ lòng Phương?"

Chàng cảm thấy như có ai đó đang bóp nghẹt trái tim mình, như có ai đó đang đè nặng lên vai mình, như có ai đó đang kéo mình xuống vực sâu. Chàng cảm thấy như mình sắp ngã quỵ, sắp gục ngã, sắp chết đi vì đau khổ, vì thất vọng, vì tuyệt vọng. Nhưng rồi, đúng lúc ấy, chàng nghe thấy một giọng nói bên cạnh:

- Kìa! Nhìn kìa! Trạng nguyên kìa!

Trọng Đức giật mình, quay lại nhìn, thấy một người đàn ông trung niên đang chỉ tay lên tấm bảng vàng, gương mặt lộ vẻ kinh ngạc và ngưỡng mộ. Trọng Đức vội vàng nhìn theo hướng tay chỉ, và ở đó, ở vị trí cao nhất, trang trọng nhất, nổi bật nhất, là ba chữ vàng rực rỡ: Nguyễn Trọng Đức. Ba chữ ấy được viết bằng mực vàng óng ánh, trên nền đỏ thắm, được đóng khung bằng gỗ quý, được treo cao trên tấm bảng vàng vinh danh vị Tân Trạng nguyên của nước Nam.

Trọng Đức đứng sững người,chàng không tin vào mắt mình nữa. Chàng dụi mắt, nhìn lại, và vẫn thấy ba chữ ấy, vẫn thấy tên mình, vẫn thấy Nguyễn Trọng Đức. Chàng cảm thấy như có ai đó đang nâng mình lên tận mây xanh, như có ai đó đang đổ một gầu nước mát lạnh lên đầu mình, như có ai đó đang thắp lên trong lòng mình một ngọn lửa ấm áp, rực rỡ, không bao giờ tắt. Chàng cảm thấy như mình đang mơ, một giấc mơ đẹp đến nỗi chàng không dám tin là thật.

***

Ngày vinh quy, Trọng Đức mặc áo mũ lộng lẫy, ngồi trên lưng ngựa, dẫn đầu đoàn người vinh quy trở về làng. Đoàn người đi đến đâu, dân chúng hai bên đường reo hò vỗ tay đến đó. Những cánh hoa rơi khắp con đường làng, tạo nên một thảm hoa rực rỡ dưới chân ngựa của vị Trạng nguyên. Tiếng hò reo chúc mừng của những người dân và những người có chức sắc khác nhau đang đứng đón ở cổng làng vang lên không ngớt. Trọng Đức ngồi trên ngựa, mắt đưa qua đưa lại tìm kiếm giữa đám đông.

Chàng nhìn khắp mọi nơi, từ những cụ già ngồi bên vệ đường, đến những đứa trẻ chạy nhảy khắp nơi, đến những người phụ nữ đứng bên nhau. Rồi mắt chàng dừng lại ở một chàng trai đang đứng hòa vào dòng người, mắt đỏ hoe, miệng cười mà nước mắt cứ tuôn rơi. Trọng Đức liền xuống ngựa, bước nhanh về phía Việt Phương. Mọi người xung quanh tự động dạt ra, nhường đường cho vị Trạng nguyên. Trọng Đức đến trước mặt Phương, nắm chặt lấy tay em, giọng nghẹn ngào:

- Ta về rồi đây. Ta làm được rồi. Tất cả là nhờ em. Em đã vất vả vì ta quá nhiều, giờ đến lượt ta thực hiện lời hứa rồi. Mời hiền thê lên võng, cùng ta trở về, vinh quy bái tổ!

Nói rồi, Trọng Đức đỡ Việt Phương lên võng, cả hai cùng nhau tiến về ngôi nhà nhỏ của mình, trong tiếng reo hò của dân làng. Đoàn rước đưa Trọng Đức và Việt Phương về đến căn nhà nhỏ của hai người. Ngôi nhà vẫn đơn sơ như ngày nào, mái lá, vách đất, nhưng hôm nay lại rực rỡ lạ thường dưới ánh nắng xuân.

Trọng Đức dẫn Việt Phương vào nhà, thắp hương lên bàn thờ tổ tiên, rồi cùng nhau cúi lạy, báo tin vui cho ông bà, cha mẹ đã khuất. Đức nghẹn ngào thưa với ông bà:

- Con xin cảm tạ ơn sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ. Xin ông bà phù hộ cho chúng con được sống bên nhau đến đầu bạc răng long, được hạnh phúc trọn đời. Con xin thề trước anh linh tổ tiên, rằng con sẽ mãi mãi yêu thương, trân trọng và bù đắp cho người vợ hiền của con, người đã vì con mà hy sinh tất cả. Nếu con phụ lòng em, xin tổ tiên chứng giám, con nguyện chịu mọi hình phạt.

Việt Phương đứng bên cạnh, nước mắt cũng lăn dài trên má. Em thắp thêm một nén hương, cúi đầu lạy ba lạy, rồi khẽ thưa:

- Kính lạy cửu huyền thất tổ, kính lạy ông bà nội ngoại, kính lạy cha mẹ kính yêu của con. Hôm nay, ngày hai mươi ba tháng hai năm Giáp Thìn, trước linh vị tổ tiên, con xin được thay mặt chồng con là Nguyễn Trọng Đức báo tin vui đến toàn thể gia tiên. Chồng con lên kinh ứng thí, nay đã đỗ đầu bảng, đỗ Trạng nguyên, công thành danh toại, vinh quy bái tổ. Chúng con xin cúi đầu lạy tạ ơn trên, lạy tạ tổ tiên, lạy tạ cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục chúng con, để chúng con có ngày hôm nay. Chúng con xin ghi nhớ công ơn ấy suốt đời, không dám quên.

***

Hôm sau, Trọng Đức mở một bữa tiệc nhỏ tại căn nhà ba gian của mình, mời bà con lối xóm đến chung vui. Tiệc không lớn, chỉ có vài mâm cơm bày trên chiếu cói giữa sân, vài ché rượu nếp đặt bên hiên, nhưng ấm áp nghĩa tình. Dân làng nghe tin, ai cũng mừng rỡ, từ sáng sớm đã nô nức kéo đến. Cụ già chống gậy, phụ nữ xách bánh trái, trẻ con nô đùa chạy nhảy hô vang:

-Trạng nguyên! Trạng nguyên!

Cả sân nhà nhỏ bỗng đông vui như ngày hội. Đến khi bà con đã đông đủ, Trọng Đức bước ra giữa sân, nâng chén rượu, chàng nói:

- Thưa bà con, hôm nay con xin mời bà con đến đây, trước là để tạ ơn bà con đã cưu mang, nuôi nấng con từ thuở mồ côi cha mẹ, đã dạy dỗ con nên người. Ơn nghĩa ấy, con xin khắc ghi suốt đời. Sau nữa, con xin mời bà con chứng kiến cho tình nghĩa vợ chồng con. Ngày chúng con nên duyên, vì nghèo khó mà không có được một đám cưới trọn vẹn. Hôm nay, con muốn bù đắp cho hiền thê một lễ cưới, để hạnh phúc của chúng con được trọn vẹn.

Dân làng vỗ tay reo hò, chúc mừng cho đôi trẻ. Một cụ già trong làng đứng lên, nâng chén rượu, nói:

- Chúc mừng Trạng nguyên và hiền thê! Tôi xin được thay mặt cho cả làng, xin chúc cho Trạng nguyên và vợ hiền sống bên nhau đến đầu bạc răng long, gia đình hạnh phúc. Làng ta từ nay có Trạng nguyên, thật là phúc lớn của làng. Nhưng phúc lớn hơn cả, có lẽ là phúc của Trạng nguyên, khi có được người vợ hiền như thế. Mong Trạng nguyên hãy luôn trân trọng và yêu thương người vợ ấy, bởi trên đời này, có được một người vợ hết lòng vì chồng như thế, là điều quý giá hơn cả công danh.

***

Tiệc kéo dài đến khuya, rượu nồng, cơm ngon, tiếng cười nói vang khắp xóm làng. Đêm ấy, khi tiệc đã tan, Trọng Đức và Việt Phương trở về căn phòng nhỏ của mình. Đèn dầu leo lét, gió xuân thổi qua khe cửa, mang theo hương lúa chín ngoài đồng. Ánh trăng sáng vằng vặc trên bầu trời, soi rọi xuống căn nhà nhỏ ba gian, mái lá đơn sơ, vách đất phên tre. Gió sông thổi nhẹ, mang theo hương lúa chín thơm nồng, hương hoa cau thoang thoảng. Trong căn nhà ấy, đôi vợ chồng trẻ đang cùng nhau viết nên trang đẹp nhất của cuộc đời mình. Họ đã chờ đợi ngày này từ rất lâu, đã hy sinh rất nhiều để có được ngày này. Và giờ đây, khi ngày ấy đã đến, họ biết rằng mọi gian nan, vất vả đều xứng đáng.

- Em à, ta đã giữ trọn lời thề với tổ tiên. Bây giờ, ta xin được thực hiện lời hứa còn lại, được cùng em sống trọn đời bên nhau, không còn gì phải chờ đợi nữa. Ta xin hứa sẽ mãi mãi yêu thương, trân trọng và bù đắp cho em, xứng đáng với những gì em đã dành cho ta. Nếu ta phụ lòng em, xin trời đất chứng giám, ta nguyện chịu mọi hình phạt.

Việt Phương nhìn Trọng Đức, đôi mắt long lanh như sao trời đêm thu, khẽ gật đầu. Rồi hai người cùng thắp thêm một ngọn đèn, ngọn đèn nhỏ bé ấy bỗng sáng rực cả gian phòng, như thắp lên trong lòng họ một ngọn lửa ấm áp chưa từng có. Cùng nhau tận hưởng đêm tân hôn muộn màng. Đêm ấy, dưới mái lá đơn sơ, giữa làng quê thanh bình, một tình yêu đã được trọn vẹn, một lời thề đã được giữ tròn, và một hạnh phúc đã được nở hoa, thứ hạnh phúc mà họ đã chờ đợi suốt bao năm tháng gian nan, đã hy sinh suốt bao mùa mưa nắng, để rồi hôm nay, cuối cùng cũng được hái trái ngọt.

Notes:

1. Sông Nhĩ Hà (hay Nhị Hà) : tên gọi khác của sông Hồng, đoạn chảy qua Hà Nội.
2. "Vinh quy bái tổ" là tục lệ khi học trò (trong cách gọi thời xưa, học trò bao hàm tất cả những người theo nghiệp đèn sách, tri thức, muốn đỗ đạt làm quan) dành được thành tích cao trong các kì thi Hương, Hội, Đình trở về quê hương để ra mắt người thân họ hàng, bái lạy tổ tiên. Theo Thư tịch triều đại Việt Nam thì tục lệ này có từ thời nhà Lý. Những người đỗ đạt ở Kinh Kỳ sẽ được ban cấp áo mũ, võng ngựa về quê hương bái tổ trước sự chứng kiến của đông đảo dân làng và họ hàng thân thích. Tên tuổi của họ sẽ được ghi danh sử sách nước nhà, lưu vào phả ký của dòng họ, được người người, đời đời trọng vọng kính nể.
Theo sử sách, thư điển ghi lại thì vị trạng nguyên đầu tiên được vua ban lệ Vinh Quy Bái Tổ là Trạng Chiếu – Phạm Đôn Lễ. Phạm Đôn Lễ đỗ trạng nguyên năm 27 tuổi khoa Tân Sửu, niên hiệu Hồng Đức 12 (1481) đời vua Lê Thánh Tông. Và có thể đây là giai đoạn tục mà phong tục chính thức ra đời ở nước ta.
Cũng theo các tài liệu, cảnh "Vinh quy bái tổ" gồm việc vị tân khoa được rước từ Kinh thành về quê bởi một đoàn hộ tống rất trang trọng “trống rong cờ mở”. Có đầy đủ cờ, lọng, chiên trống, lính dõng vác giáo, khiêng đồ… Nghi lễ được sắp xếp tuần tự cờ quạt đi đầu tiên, đến cờ biển do vua ban tặng. Rồi mới đến trạng nguyên cưỡi ngựa có lọng che trên đầu đi sau. Vây quanh trạng nguyên thường là 4 lính hầu cầm quạt. Chung quanh đầy ắp tiếng hò reo chúc mừng của những người dân và những người có chức sắc khác nhau đang đứng đón ở cổng làng. Khung cảnh của buổi vinh quy bái tổ vẫn là những hình ảnh quen thuộc của miền quê dân dã, bình dị với cây đa, lũy tre, giếng nước, đình làng. Theo phong tục, người vinh quy có 4 nơi phải đến thực hiện nghi lễ bái tổ. Một là đình làng. Hai là nhà thờ tổ của dòng họ. Ba là trường học (thầy dạy). Bốn là nơi thờ tự của gia đình.
Nguồn: https://viettoc.vn/bai-viet/vinh-quy-bai-to-mot-net-dep-van-hoa-huong-ve-nguon-coi-63412f6edc7097c13a2d261c
3. Đức mời Phương lên võng mà không lên ngựa là bởi vì những Trạng nguyên đã có vợ ở quê nhà, sẽ được vua ban cho võng về rước vợ, cùng mình vinh quy bái tổ. Có câu: "Ngựa anh đi trước/Võng nàng theo sau"