Actions

Work Header

Rating:
Archive Warning:
Category:
Fandom:
Relationship:
Characters:
Additional Tags:
Language:
Tiếng Việt
Stats:
Published:
2024-01-23
Words:
2,376
Chapters:
1/1
Comments:
2
Kudos:
8
Bookmarks:
2
Hits:
173

chôn tim tôi ở phía cuối dòng Volga

Summary:

Chỉ giây phút đó, tôi mới cay đắng nhận ra rằng: Svetlana đã tha thứ cho tôi rồi.

Notes:

- “Tôi”: Lục Triều An - Trung Quốc
- Svetlana Alyakhnovich - Belarus
- Avdotya Pyotrovna Liberovskaya - Liên Xô
- Sergei Mikhailovich Liberovsky - Nga

Edit (15/09/2024): Edited tags and some rewrite for the last segment as I decided this story is better off as an oneshot.

Work Text:

“Dòng sông xưa rừng táo trắng hoa nở đôi bờ

 Lặng lờ trôi mặt nước đã loang sương mờ

 Kìa bóng ai…”

 Và đó là những gì tôi nhớ về anh, Sergei Mikhailovich! Người lính Nga lãng mạn với cây đàn ghita, con người mang trên vai cây súng với nụ cười mệt mỏi. Cô gái bé vẫn đợi tiếng đàn anh sau những dãy nhà lúp xúp mưa, chờ đợi giọng ca trầm lặng trong bài hát về một quê hương xa vời. Miền đất miên man và rộng lớn mà tôi sẽ đem chôn nửa trái tim mình trong bốn mốt hay một trăm năm nữa.

 “Chị có định ở lại không?” Giọng Svetlana vang lên sau tôi. Lời thông báo kết thúc cuộc họp thượng đỉnh dội lại từ góc tường cùng tiếng chuông rung giần giật.

 “Cũng chưa có gì để chị làm ở Bắc Kinh cả.”

 Con bé nhìn tôi và cười nhẹ. Tôi đồng ý. Tôi nhìn ra cửa sổ, và những gì tôi thấy là một Minsk trắng xóa, gió cuộn lấm tấm đang chờ đợi. Im lìm. Tôi muốn lấy tay gõ lên khung kính - cốc cốc - và đợi từ thành phố một câu trả lời.

 “Ngươi có còn chào đón ta không?”

 “Cô còn chào đón những ký ức không?”

 Lâu lắm rồi tôi mới gặp Svetlana. Tôi yêu con bé đến chết được, từ dáng hình và giọng nói thấm chất Đông Âu trầm ấm, đến niềm tin dai dẳng, mạnh mẽ, thơ ngây vẫn trung thành nhẫn nại. Ngay từ khi tôi chưa rời đi, tôi đã nhận thấy điều gì đó khác biệt về con bé. Nếu tôi hy vọng, thì con bé tin , với sự lưu luyến xa xăm cho những ngày huy hoàng của quá khứ, khi mà con bé vẫn còn có thể soi được sự nồng nhiệt ấy trong ánh mắt của tôi và mọi người. Một lần, khi đang hành quân qua khoảng rừng taiga vô tận, tôi với con bé đổ rượu cho nhau thật nặng và trong cơn hứng khởi, con bé đứng dậy và hát vang. 

  “Gửi về ai lời hát thiết tha từ xóm làng…”

 Sergei nhìn chúng tôi và lắc đầu cười. Katyusha! Tôi đã nghe bài hát ấy bao nhiêu lần rồi? Tôi đã nghe nó trên Quảng trường Đỏ tuyết phủ đêm đông, nghe nó cùng Thiên An Môn lộng gió. Tôi đã nghe nó qua dàn đồng ca hùng hậu cũng như trong cuộc diễu hành của Giải phóng quân. Tôi nhớ bản thân đã ngâm nga theo giai điệu ấy khi còn là một cô gái bé ở cái làng nhỏ phía Bắc, cái làng nơi toán quân cứu viện đầu tiên dừng lại. Đó cũng là lần đầu tiên tôi nghe “Katyusha”, bằng tiếng đàn nhanh và hứng khởi cùng giọng ca đằm nặng của những người lính Liên Xô. Tôi rời khỏi quê nhà tin chắc rằng đó là bản hay nhất của bài ca từng được hát, ít nhất là tới tối hôm đó. Cùng men nồng của thứ rượu trắng đặc sệt và đám lửa nổi phừng, Svetlana nhảy múa quanh lán trại và hát. Trái với tiếng đệm đàn dìu dịu, con bé ngửa mặt lên trời mà hát, tiếng hát say mê và nồng nhiệt. Tim tôi đập tưởng như vỡ được, tiếng trống dồn dập giã vào đêm đen liên hồi.

 Rồi, Svetlana ngừng hát. Tiếng đàn của Sergei không còn là những dòng điện hát mềm mại, mà gắt lên và quặn đau trong một bản độc tấu tức tưởi, rạo rực. Chúng rít lên như khóc nấc, giai điệu cuối cùng mà một người nghĩ đến khi chơi “Katyusha”. Bỗng nhiên một nỗi buồn to lớn chiếm lấy tôi: trong tiếng đàn khắc khoải, phập phồng ấy, anh đã thấy gì?

 Tôi luôn quên mất rằng Sergei đã phải lớn nhanh hơn cô em gái ấy thế nào. Những ngày cuối cùng của anh ở Bắc Kinh, tiếng đàn anh ôm nỗi buồn mênh mang vô tận, như khóc cho một phần ký ức đã mất từ xa xôi. Trong đêm ấy, đàn anh khóc cho những trái tim trẻ trung và nồng nhiệt còn lại. Anh vừa thuộc thế hệ chúng tôi, thế hệ những người đi theo thơ ngây và lí tưởng. Nhưng anh cũng là người thừa kế di sản của Ngài, Avdotya, và lòng anh mãi mang gánh nặng tàn dư của hơn nửa thế kỉ huy hoàng.

 Trong ký ức của tôi, Svetlana chưa bao giờ thay đổi: vẫn mãi trong trắng, kiên định như thuở ban đầu. Đêm hôm đó, với phần tóc vàng xõa tung, thấm mồ hôi thành lọn, con bé trông như một cô gái Digan hoang dại và đa tình, nhảy múa trong ánh trăng tê dại của rừng già. Lòng tôi nhói hoảng sợ. Tôi được nghe kể những câu chuyện về người Digan bên những đám lửa và trên những chuyến xe trường, qua chất giọng khàn khàn của người lính già mặc áo khoác da. Đó là câu chuyện về những con người với trái tim hoang dã và man dại, theo đuổi tự do và một tình yêu hối hả, mãnh liệt. Người lính già kể câu chuyện về một chàng trai từ Đội 4, người đã bỏ đoàn quân và lời hứa hôn ở quê nhà để đi theo cô gái với đôi mắt sáng, mái tóc xổ tung trong gió và đôi chân trần trên đồng cỏ. Nhưng con sói hoang đâu chịu nằm mãi một ổ! - cô gái ấy lại rời anh theo chàng nhạc sĩ đủng đỉnh trên lưng ngựa, nồng nhiệt và hào hoa. Trong cơn ghen điên dại, cán dao của người lính đã nhuốm máu đôi tình nhân trẻ ấy.

 “Còn bác, bác đã từng yêu một ai như vậy chưa?” Tôi hỏi

 Người lính già trầm ngâm như miên man suy nghĩ. Các anh em, người thì im lặng, người cười trừ khúc khích, người ghé sát vào tai tôi: “Thế là cô chưa biết rồi!”. Tôi nhìn người lính già lặng lẽ bước ra bục cửa chân điếu thuốc, lòng bắt đầu phiêu dạt. Tôi nhớ về tuyển tập Maxim Gorky mà tôi được tặng đợt mới đến Petersburg. Gorky dường như cũng ấp chứa nỗi ám ảnh với những người phụ nữ hoang dại và thứ tình yêu nồng cháy, ráp nhám mà thiêng liêng ấy. Malva. Bà lão Izergin. Khi đọc, tôi chỉ thấy tức giận: Giận cho sự ngu ngốc của những người đàn ông, giận cho sự lẳng lơ của những người đàn bà. Nhưng khi đứng trước bình nguyên với tận, nghe văng vẳng bên tai tiếng chuông dồn, tôi phát hiện bản thân mình chờ đợi.

 Tôi đợi gì? Một bóng tóc dài hiền dịu, để tôi hôn nhẹ vào vành tai mỗi tối tản bộ bên hồ Baikal? Hay một vẻ đẹp man dại, dồn dập, nóng ấm sơ khai, sự nồng nhiệt hối hả của xác thịt nguyên thủy? Tôi chờ và chờ câu trả lời trong bóng lưng người lính già ấy. Ông hít một hơi thuốc, người căng lại và rung lên như thấp thỏm, đợi chờ. Khi một làn khói khét và đằng đặc phà ra, người lính già mở mắt, nhìn về xa xăm và cười. Thấp thỏm, thấp thỏm!

 Tôi bước đến gần ông và tựa vào góc cửa. Ông không nói gì và trong phút chốc, tôi bắt gặp cả hai cùng dõi về đường rạng đông mờ ảo.

 Đó mới là nơi trái tim Svetlana thuộc về sao? Núi cao trùng điệp, rừng già rộng lớn, nơi tránh khỏi sự trần tục của con người?

 “Rời đi, phải, họ sẽ luôn rời đi.” Người lính già lập cập nói, khuôn miệng phủ tuyết cùng khói xám.

 Không, con bé đã ở lại. Nếu có một ai vẫn ở lại, đó sẽ là con bé. Tôi vẫn nhớ cái vẻ bàng hoàng lặng đờ của con bé khi nghe tin Liên bang Xô viết đã chọn biện pháp an toàn - nhượng bộ trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Trong ngày hôm đó, tôi cảm giác một cái gì thiêng liêng, quan trọng lắm lắm với con bé đã mất rồi. Đêm cuối cùng tôi ở Moskva, trong căn phòng kiểu cổ trang trí phong cách Đông Âu ấy, tôi đã cố giữ bình tĩnh trong cuộc đàm phán cuối cùng với Avdotya. Khi đóng sầm cửa bước ra, tôi thấy Svetlana tựa vào khung cửa, mắt nhìn tôi buồn bã.

 “Đừng,” Tôi van vỉ. “Chị không muốn thế này. Không ai muốn thế này cả. Nhưng điều gì phải đến thì cũng sẽ đến thôi”

 Sắc mặt con bé không thay đổi, nhưng cũng không hề ngăn bước tôi trên dọc hành lang hun hút ấy.

 Svetya! Tôi muốn gào lên. Em không thấy điều gì đang diễn ra ở đây ư? Đừng, chị xin em đấy, đừng làm vậy với bản thân nữa. Em không thuộc về nơi đây, không thuộc về những tính toán, so đo, mưu đồ chính trị này. Đi đi! Đi đi em! Chị đã đi, Andrey đã đi, đã quá nhiều người ra đi rồi. Mỗi lần một bóng người bước khỏi căn phòng ấy, tôi cảm giác trái tim em mất đi một nửa.

 Một trong những lần đầu tôi gặp Svetlana. “Em chỉ làm những gì em thích thôi”, tôi phàn nàn. Con bé cười hì không đáp.

 Em biết đến những Karl Marx, những Lenin khi trái tim em còn quá nồng nàn và non trẻ. Rồi em đã chọn ở lại và đợi chờ cho một ngày đẹp, đẹp lắm mà em tin chắc rằng sẽ đến. Nó không thể chỉ là sự thơ ngây, đúng chứ? Svetlana sống tình cảm và hiền lành, nhưng con bé không phải loại người sẵn sàng để người khác giẫm đạp lên mình. Trong những ngày ấy, tôi có thể nhìn - nghe - thấy tâm hồn em lồng lộn đòi rời đi. Không, tôi không hiểu. Svetya, Svetya của tôi! Em còn ghét chúng tôi không, những con người đã đi tìm một tương lai khác? Tôi mong là có, vì ít nhất như vậy, tôi còn thấy được Svetya của tôi. Tôi bám lấy bóng hình con bé như bám vào tàn dư của quá khứ. Tôi cần thấy được cái nắm tay như vồ lấy, sự yêu ghét buột ra khỏi cái bĩu môi hay nhổ toẹt khinh bỉ, sự bồng bột và chân chất của trái tim chúng tôi trong những ngày đầu khởi nghĩa. Nhưng tôi nghĩ trong đám tang Avdotya, tôi đã tìm thấy câu trả lời rồi.

 Điện Kremlin, tháng 12 năm 1991. Tôi lò dò bước trên mặt đường trơn tuột, gió đánh tuyết rơi tơi tả, tơi tả. Khi ngước lên đỉnh điện và thấy lá cờ đỏ búa liềm từ từ hạ xuống, lòng tôi chợt hụt hẫng và trống vắng đến lạ. Buồn ư, không, tôi không buồn. Vậy đây là ngày ấy sao, ngày mặt trời rơi xuống? Không có bom nguyên tử, không có tiếng gào khóc thê lương, không có cả sóng thần hay bão tố của ngày tận thế. Chỉ xa xa là một bà mẹ già khắc khổ, chậm chạp lần tìm tên con trai mình trên tấm bia liệt sĩ không biết đã lần thứ mấy. Bóng hình đầy sầu muộn và ai oán. Tôi bỗng muốn bật cười.

  Ánh mắt Sergei nhìn tôi đã không còn gay gắt nữa. Tôi gần như nghe được nhịp thở phập phồng của căn phòng lặng lẽ, từng hơi hít vào nặng nề như người bị hen. Chị Lâm, anh Pyotr, cả Fernandez và mọi người nữa, đông đủ. Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi không thấy bản thân phải cố đọc nét mặt mọi người.

 Cây ghita nằm lặng yên ở góc phòng. Tôi muốn kêu Sergei đưa tay trái cho tôi xem - những vết chai cứng còn đó ở nhưng đầu ngón tay không? Đã bao lâu rồi thằng bé không chơi đàn? Vô thức, tôi chờ một tiếng đàn vang lên: Tiếng đàn khóc than, tiếng đàn thổn thức, tiếng đàn chờ đợi. Nhưng không, Sergei chỉ ngồi đó, và bóng dáng trầm tư, nhỏ bé ấy sẽ còn theo lưng thằng bé mãi đến khi nó đến nhận phần ghế của mình ở Hội đồng Bảo an. Buổi lễ diễn ra không kèn pháo, không cỗ bàn, như thể Avdotya đã cố ý sắp xếp như vậy. Im lặng, tôi cảm giác ai cũng có quá nhiều điều để nói và quá ít câu trả lời.

 Tôi gặp Svetlana cạnh đài tưởng niệm mới xây, đăm chiêu dõi về phía chân trời xa xăm. Khi con bé nhìn thấy tôi, tôi đợi nhiều phản ứng: một lời chào lạnh lùng, cái đảo mắt bé tránh, hoặc là con bé đứng thẳng dậy, đẩy tôi qua một bên và rảo bước về phía đám người quần tụ. Chỉ khi con bé mỉm cười và hỏi “Mọi chuyện thế nào rồi, chị hai?”, tôi mới cay đắng nhận ra rằng: Svetlana đã tha thứ cho tôi rồi.

 Tôi nhớ chiếc xe buýt chòng chành rồi xóc mạnh, đầu tôi va đánh độp vào khung cửa sổ. Thảo nguyên hiện trước tôi mướt mát và non tơ, phủ vàng mịn bởi ánh êm ả của bình minh nhợt nhạt: Avdotya dường như luôn đẹp hơn khi cô không còn là nơi để tôi trở về. Svetlana nhìn tôi mỉm cười 

 “Chị dậy rồi à?”

 Tôi lắc đầu, “Chị không ngủ được.”

 Con bé gần như hiểu ngay lập tức. Đừng. Tôi đọc được trong ánh mắt buồn bã ấy. Nhưng không, tôi phải hỏi.

 “Từ khi nào?” Cuối cùng, câu hỏi cũng rời được khỏi miệng tôi, “Em đã tha thứ cho chị từ khi nào rồi?”

 Svetlana thả mình lại vào chiếc ghế.

 “Em chưa bao giờ ghét chị cả.”

 Và vào giây phút đó, mọi điều tôi nghĩ tôi đã hiểu về con bé chẳng còn ý nghĩa gì nữa.