Work Text:
Mọi vật trên thế gian này đều có linh hồn và ý thức của riêng mình, đó là điều người nhạc sư già kia vẫn luôn tin tưởng. Rất lâu trước kia, thầy của ông, một nhạc sư vô cùng nổi tiếng đã dạy rằng: “Âm nhạc chỉ thực sự sống khi người làm nhạc hòa nhịp linh hồn mình với nhạc cụ.” Lời dạy đó đã chỉ đường cho ông và người nhạc sư vẫn luôn theo lời dạy đó đến tận bây giờ.
Những âm thanh ông tạo nên đã vang danh khắp nơi, lan đến bên trong hoàng thành náo nhiệt, nhận được sự yêu thích tối cao của vị vua bên trong những bức tường thành xa hoa. Và thế là, ông đã được mời đến hoàng cung biểu diễn.
Đó là một vinh dự tối cao, được biểu diễn cho những người đứng đầu đất nước này đó chính là điều rất nhiều người theo đuổi cả cuộc đời. Và người nhạc sư già đã chấp nhận lời mời đó.
Nhưng thật đáng buồn cho người nhạc sư đó. Tiếng đàn của ông đối với vị vua tối cao kia và với những người dân thường lam lũ không hề có chút sự khác biệt. Tất cả đều chỉ thấy hay một cách xáo rỗng khi nghe tiếng đàn của ông, những người dân thì cho ông vài đồng bạc lẻ sống qua ngày, còn vị vua kia thì tặng ông một cây đàn tỳ bà cổ thay cho cây đàn cũ nát rẻ tiền đã theo ông cả cuộc đời.
Và khi tiếng đàn ngưng hẳn, ngoài vật chất tầm thường, người nhạc sư già vẫn chẳng tìm được một người tri kỷ hiểu tiếng đàn của ông ngoài cây đàn cổ.
Cả cõi người này không ai hiểu tiếng đàn cất lên từ tâm hồn ông, cũng như cây đàn tỳ bà cổ này không ai hiểu linh hồn của nó, không ai khiến nó cất tiếng được cho đến khi người nhạc sư già chạm đến nó. Cả hai đều bị cõi người này bỏ lại, kết nối với nhau qua tiếng đàn và cùng mong muốn đi tìm một chốn bình yên.
Nếu cả cõi người đã bỏ lại họ, thì người nhạc sư cũng mang theo cây đàn bỏ lại cõi người ấy, họ đi tìm một nơi yên tĩnh, một rừng trúc nọ, cùng nhau sống cuộc đời tránh xa cõi tạm bợ của kiếp người.
.
.
.
Đàn nọ có linh, từ khi nó được sinh ra trong tay người nghệ nhân nổi tiếng, nó đã có cái tôi cao hơn tất cả các anh chị em của mình. Trong khi tất cả những cây đàn khác ngân lên theo từng nhịp gảy, nó vẫn cứ im lặng không phát ra tiếng, vì trong sâu thẳm, nó biết rằng chỉ có người nghệ sĩ thực thụ mới xứng đáng khiến nó ngân nga cùng linh hồn họ.
Nó vẫn chờ đợi người xứng đáng suốt từng ấy năm, dù cho qua bao nhiêu đời chủ nhân, dù từng bị lãng quên vì không phát ra âm thanh, nó vẫn một mực chờ đợi, và cuối cùng, nó đã gặp người nhạc sư già vào giai đoạn chín muồi nhất của tài năng của ông, và chấp nhật ngân lên những nốt đầu tiên trong đời nó.
Có lẽ do bị lãng quên và tồn tại trong im lặng quá lâu, tỳ bà tinh không thích những chốn yên tĩnh, nó thích không khí náo nhiệt đầy hơi thở sự sống của con người, nó thích âm thanh của sự chăm chỉ khi con người lao động, nó thích những tiếng hò reo ấm áp của niềm hạnh phúc. Nhưng tất cả những thứ nó yêu thích lại chối bỏ nó, đẩy nó về chốn rừng sâu tĩnh lặng cùng với người nhạc sư già.
Cuộc sống trong cánh rừng trúc bạt ngàn quá yên tĩnh với nó. Tất cả âm thanh của thiên nhiên với tỳ bà tinh là những âm thanh nhạt nhòa và nhàm chán, nhưng với người nhạc sư già, nơi này như chốn nghỉ của ông, ngày ngày mang đàn ra đánh, hòa nhịp cùng những âm thanh trong trẻo nhất của mẹ thiên nhiên.
Và tỳ bà tinh yêu tiếng đàn đó, nó không thích âm thanh nhàm chán của thiên nhiên nhưng lại yêu tiếng tỳ bà hòa nhịp cùng thiên nhiên của người nhạc sư già, dù không có không khí của cuộc sống nhộn nhịp như nó yêu mến nhưng tiếng đàn của người nhạc sư già trong khu rừng trúc này lại là một thế giới khác, dù giản đơn và nhạt nhòa nhưng lại khiến nó thỏa mãn vô cùng.
Ít nhất, với tỳ bà tinh, dù cuộc sống không như ý nó nhưng có người nhạc sư già bên canh, có tiếng đàn của ông cũng đã đủ với nó rồi.
.
.
.
Khu rừng này là một nơi linh thiêng, khí của trời đất tụ hội về đây và sinh ra những linh hồn tự nhiên. Trúc tinh là một trong số đó.
Trúc tinh vốn là kết tinh của rừng trúc này, là linh hồn lâu đời và mạnh mẽ nhất ở đây. Được sinh ra từ hơi thở của trời đất, trúc tinh chỉ quẩn quanh trong khu rừng này, làm bạn với các sinh vật khác, ngắm nhìn bốn mùa tự nhiên thay đổi.
Đó là cho đến khi người nhạc sư mang tiếng đàn đến….
Khu rừng này vốn đã hiếm người qua lại, có người lựa chọn nơi đây để sinh sống lâu dài thì đây là lần đầu tiên, đã thế còn là một nhạc sư già nữa. Tất cả mọi sinh vật đều rất tò mò về con người lại lựa chọn từ bỏ đồng loại đi tìm nơi núi rừng hoang vắng này, nhưng khi tiếng đàn của người nhạc sư cất lên, bọn chúng đều hiểu, trúc tinh cũng hiểu lý do.
Đó là một âm thanh u oán và buồn bã.
Tiếng đàn đó đầy sự than thở về nỗi đau bị chối bỏ, bị coi thường của người nhạc sư và tỳ bà tinh đó. Họ từ bỏ cuộc sống con người không phải vì ghét cuộc sống đó mà họ bị cuộc sống, bị thế giới đó từ chối, bị khước từ và đành trở thành người bên ngoài. Họ không có một chỗ cho mình trong cái thế giới đó nên đành đi đến nơi rừng sâu vắng lặng tự tìm chốn nghỉ, mong rằng mẹ thiên nhiên sẽ chấp nhận họ vào thế giới này.
Và người nhạc sư đó và tỳ bà tinh đã trở thành một phần của khu rừng.
Trúc tinh luôn là khán giả trung thành của họ mỗi khi tiếng đàn cất lên. Tiếng đàn của người nhạc sư già mỗi sáng rất hay nhưng lại chỉ có sự từ bỏ và cam chịu, còn tiếng đàn của tỳ bà tinh mỗi đêm dù rất trúc trắc và nhiều lỗi sai nhưng luôn mang một ý chí không khuất phục và luôn hướng về cõi người, như trúc tinh dù sinh ra giữa núi rừng này nhưng luôn hướng đến thế giới con người đầy màu sắc vậy.
Luôn là như vậy. Mỗi khi tiếng đàn tỳ bà ngân lên, những khóm trúc đều sẽ lay động như đang nhảy múa theo tiếng đàn của người nhạc sư già, và trúc tinh luôn đứng nghe tiếng đàn của tỳ bà tinh trong những đêm khuya yên tĩnh, như một thính giả trung thành.
.
.
.
Nhưng cuộc sống vốn đâu chỉ toàn những điều bình lặng.
Năm đó, giặc phương bắc tràn xuống phía nam, cướp phá đất nam yên bình, đem đến khói lửa chiến tranh. Thế giặc mạnh đánh thẳng vào kinh thành, vua và các quan phải bỏ lại kinh thành lên rừng sinh sống bàn chuyện binh đao. Giặc đuổi theo truy lùng vào rừng, và tìm đến chỗ họ.
Chuyện năm đó có người nhạc sư được vua vời vào kinh tặng đàn cổ ai ai cũng biết, vậy nên bè lũ xu nịnh bán nước đi theo chân tướng giặc khi nhìn thấy người nhạc sư già nơi rừng hoang hẻo lánh vẫn còn ghen tị người nhạc sư được đích thân vua ban cây đàn quý đã đem câu chuyện truyền thuyết về cây đàn tỳ bà đó ra nói với tướng giặc.
Rằng: khi xưa vua Thái Tổ vốn là một người yêu nhạc, đã mời một nghệ nhân làm đàn nổi tiếng làm cho mình một cây đàn dùng trong các buổi lễ tế mừng ngày giang san nước nam quy về một mối. Người nghệ nhân đó đã dùng gỗ phượng hoàng lâu năm tạo tác nên một cây đàn tỳ bà dâng lên Thái Tổ, nhưng Thái Tổ dù làm đủ mọi cách cũng không khiến nó phát ra âm thanh nên đã vời người nghệ nhân đó vào cung hỏi ra lẽ. Chỉ tiếc là sau khi hoàn thành cây đàn, người nghệ nhân đó cũng mất, chỉ còn con trai người nghệ nhân gửi lại lời nhắn của cha mình lúc lâm trung:
“Bẩm ngài, cha thần trước khi nhắm mắt có dặn rằng: Cây đàn này cái tôi quá cao, chỉ có người được chọn mới khiến nó cúi mình.”
Tướng địch nghe xong liền cười ha hả, nhìn cây đàn tỳ bà của người nhạc sư được đưa đến trước mặt mình lấy làm thích thú. Hắn kêu binh sĩ của mình để cây đàn vào một cái hộp đỏ, tính tặng cho ả đào theo hắn suốt mấy ngày nay, bỏ ngoài tai lời kêu xin của người nhạc sư già. Hắn cứ thế mang theo hộp đựng cây đàn tỳ bà quý của nước nam quay lại doanh trướng, mặc cho một người nhạc sư tài hoa từng được đích thân vua nước nam khen ngợi cứ thế lụi tàn giữa rừng trúc nhuộm sắc đỏ.
Khi đó, những kẻ đến từ phía Bắc kia liệu có biết có một trúc tinh đã đứng nhìn họ rời đi rất lâu không?!
.
.
.
Cuối cùng vẫn không có ai gảy được cây tỳ bà cổ đó.
Cô ả đào kia vốn cũng nổi tiếng với tài đánh đàn vô cùng điệu nghệ nhưng một người chỉ có thể tạo ra những âm thanh nông cạn sao có thể khiến tỳ bà tinh cao ngạo chấp nhận chứ. Cô ả đào nhanh chóng mất đi hứng thú với nó, và cây tỳ bà cổ lại quay trở về với việc bị lãng quên ở một góc.
Nhưng tỳ bà tinh dù cho ở nơi doanh trướng địch được lắng nghe tiếng đàn ca múa nhạc của các ả đào, được nghe tiếng reo hò liên hoan của quân địch đầy sự náo nhiệt mà nó luôn ưa thích nhưng nó nhận ra nó cũng chẳng khác năm xưa khi còn bị bỏ lại một góc hoàng thành rộng lớn chút nào cả. Sự vui vẻ kia không hề có nó, cũng chẳng cần nó, khiến cho nó thậm chí còn cô đơn hơn những tháng ngày bị lãng quên lúc xưa. Và càng ngày nó càng nhớ những ngày tháng trong khu rừng trúc ấy, bên người nhạc sư già thích đánh đàn mỗi sớm mai cùng tiếng chim, nhớ tiếng trúc xào xạc theo từng nhịp, và nó nhớ bóng hình dưới tán trúc đêm luôn đứng nghe những tiếng đàn lỗi nhịp của chính nó.
Chợt, nó nhận ra, nó không hề yêu thích không khí vui vẻ và ồn ào như nó vẫn tưởng, cái nó thích là một bầu không khí bao dung nó như nó đã có bên trúc tinh và người nhạc sư già trong cánh rừng trúc kia.
Tỳ bà tinh muốn bỏ trốn.
.
.
.
Trăng tròn là thời khắc mà linh hồn của mọi vật được ánh trăng ưu ái trở nên mạnh mẽ nhất, đó cũng là thời cơ duy nhất để tỳ bà tinh có thể rời khỏi doanh trại của những kẻ cướp nước phương Bắc.
Từ lúc đánh đuổi vua và quân phương nam khỏi hoàng thành, quân địch trở nên chủ quan hơn, luôn tổ chức tiệc chúc mừng bên tiếng đàn của những ả đào xinh đẹp của hoàng thành. Và đêm trăng đó cũng không ngoại lệ.
Khi tiếng đàn hòa cùng tiếng cười đùa và hương rượu lan tỏa khắp doanh trại, tỳ bà tinh đã rời đi trong ánh trăng tròn.
Dưới ánh trăng, tỳ bà tinh như vô hình trong mắt những kẻ phương bắc, lướt qua như một cơn gió hướng đến con sông bên cạnh doanh trại địch. Nhưng bên sông luôn có một tốp lính canh thay nhau đi tuần, những lời bàn tán của chúng theo gió đêm đến bên tỳ bà tinh.
“Đi tuần ban đêm phải cẩn thận, nghe đâu hồn ma của người phương nam vẫn còn lang thang bên kia sông, thỉnh thoảng bắt người ăn thịt trả thù chúng ta đó.”
“Ta cũng từng nhìn thấy hồn ma người phương nam rồi, trắng toát từ đầu đến chân, đã vậy còn cứ thoắt ẩn thoắt hiện trong rừng nữa.”
Bước chân của tỳ bà tinh chậm lại.
Bóng người trắng sao?
Trong đầu nó nghĩ đến một người. Nhưng người đó không như nó, là linh hồn sinh ra nhờ trời và đất, người đó vốn không can thiệp vào chuyện con người, sẽ không có chuyện rời khỏi khu rừng đó đâu.
Vậy sao bóng hình áo trắng bên kia sông lại quen thuộc đến vậy?
Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, mắt chạm mắt, tỳ bà tinh đã nhận ra nhiều điều. Không cần một câu nói, không một từ nào được cất lên nhưng ánh nhìn đó đã mang nhiều thứ hơn những từ ngữ hoa mỹ có thể diễn tả rồi. Và tỳ bà tinh cũng chỉ cần ánh mắt đó, nó đã hiểu ra được những gì?!
Trên đường quay trở lại rừng trúc năm xưa, nó đã nghe rất nhiều người kể chuyện. Tất cả họ đều nói về vị tướng quân cờ trắng lấy một địch trăm, khiến cho quân địch phải bỏ lại kinh thành lánh nạn. Người ta nói rằng vị tướng quân đó là người cõi trên, thấy dân nước nam khổ vì giặc phương bắc nên đã đến phò vua đánh giặc.
Tỳ bà tinh đã lắng nghe suốt những câu chuyện ca tụng vị tướng quân bí ẩn trẻ tuổi tài cao đó, mỗi khi nghỉ chân, tiếng đàn của nó lại vang lên như một lời ca ngợi đầy hào hùng an ủi những kẻ tha hương trên hành trình của nó. Tiếng đàn của nó dần trở nên giống như người nhạc sư già kia, như thể ông vẫn sống trong từng nốt nhạc mà nó ngân lên vậy.
Và nó cứ thế mang theo ý chí của người nhạc sư già đó cất lên những nốt nhạc ca ngợi chàng thiếu niên anh hùng mà nó từng vô cùng quen thuộc hằng đêm.
.
.
.
Cuối cùng, điểm cuối của cuộc hành trình của tỳ bà tinh không phải nơi ồn ào đầy sức sống mà nó từng yêu thích mà là khu rừng trúc xanh bạt ngàn tĩnh lặng với tiếng chim, tiếng gió nhẹ nhàng nó từng cho là nhạt nhòa. Nó đã trở lại nơi nó rời đi, nhưng không còn người nhạc sư già sáng sáng gảy đàn trong rừng trúc, cũng không còn người luôn lắng nghe những nốt nhạc trúc trắc của nó mỗi đêm nữa rồi.
Giờ đây, trong khu rừng trúc này, chỉ có nó, cùng những giai điệu cất chứa linh hồn của người nhạc sư già vang lên, cùng nhau chờ đợi một người trở lại.
.
Nhưng bỗng một ngày nọ, tiếng binh đao đã ngưng, sắc máu đào cũng ngừng nhuộm mặt đất, thay vào đó là tiếng reo hò và vui ca khải hoàn. Không khí vui mừng theo bước chân những kẻ tha hương vì chiến tranh đã quay trở lại những bản làng xưa cũ, giang san nước nam giờ đây đã yên bình không bóng quân thù. Cuộc sống rực rỡ mà tỳ bà tinh từng trân trọng và hướng tới đã quay trở lại, sao người nó vẫn đang chờ chưa thấy đâu?
Ngày vẫn nối ngày, tiếng đàn vẫn vang lên trong khu rừng trúc đó, tiếng bước chân ai dẫm lên những lá trúc rơi kia đi đến bên cạnh tỳ bà rinh đang gảy đàn?
Trúc tinh ra đi cũng chỉ một thân một mình, không có bất kỳ hành lý hay đồ dùng nào, nhưng khi trở về đã trở thành một người thiếu niên mặc đồ võ tướng, cưỡi trên con ngựa trắng muốt, tay cầm một túi đồ nho nhỏ. Đó là một chiếc áo tấc tím vô cùng sang trọng mà tỳ bà tinh chỉ thấy trong những dịp đặc biệt của kinh thành, giờ đây được người nọ tặng một cách trân trọng.
Áo tấc tím gửi trao đến người mong người hiểu tấm lòng ta….
