Actions

Work Header

Canh khuya trăng tỏ ngát hương nhài

Summary:

Phần tiếp theo của các fic [Hương mơ], [Hoa quế] và [Gió Đông], hợp thành một timeline hoàn chỉnh.

Soo-won đã tròn mười lăm tuổi và Kye-sook đã chính thức trở thành quân sư của dinh vương tử. Sau hai năm rưỡi xa nhau ở phần trước, họ bắt đầu một giai đoạn mới, cùng với đó là những vai trò, nhiệm vụ mới, và Soo-won đang tuổi lớn ẩm ương không tránh khỏi cảm giác hơi mất cân bằng.

Notes:

(*) Anh hoa là một cách gọi hoa anh đào

Đây là fic cuối cùng của series ăn ngủ bốn mùa, nên sẽ rất dài. Có nhiều chi tiết liên kết chặt với các phần trước, nếu không đọc đủ sẽ hơi khó nắm bắt trọn vẹn.

Giai đoạn này Soo-won 15 tuổi, Kye-sook 22 và Joo-doh 31. Bởi đã lớn tuổi hơn, dĩ nhiên cảm xúc cũng như mối quan hệ giữa họ có ít nhiều biến chuyển.

Hoa chủ đạo của fic là hoa nhài, tượng trưng cho tấm lòng chân thành trước sau không đổi. Ngoài ra, tên chữ Hán của hoa nhài, “Mạt lị” có phát âm gần giống “mạc ly” – một lời khẩn cầu “xin người đừng đi”. Một phần cảm hứng viết fic và đặt tiêu đề xuất phát từ bài thơ Nguyệt trung vịnh mạt lị hoa của Cao Bá Quát.

Fic có sự góp mặt của vài OCs (nhân vật tự tạo) vì tôi muốn Soo-won và Kye-sook có thêm nhiều mối quan hệ hơn, trong đó có một OC khá quan trọng là Woo-hun, vốn được tạo ra để làm tri kỉ tâm giao của Kye-sook. Tuy nhiên, theo đúng thông lệ, thời lượng của các Ocs sẽ không chiếm quá 30% fic, để tránh ảnh hưởng trải nghiệm của người đọc.

Vì là fic viết để yêu thương nhân vật nên tôi sẽ để họ bộc lộ cảm xúc thật nhiều hơn trong nguyên tác.

Cảnh báo như mọi khi, ai không thích Soo-won và Kye-sook vui lòng đừng vào đây. Tác giả không có nhu cầu nghe mắng chửi sỉ vả.

Chapter 1: Đôi bờ anh hoa (thượng)

Chapter Text

Kye-sook ngừng bút khi nghe tiếng bước chân vọng lại từ đầu bên kia hành lang. Đêm đã về khuya, mắt anh phát nhức còn khắp người mỏi nhừ vì ngồi rịt bên bàn hàng mấy giờ. Bên ngoài tuyết rơi mỗi lúc một dày, gió bấc rít từng hồi thê thiết qua vòm trời không trăng sao. Dinh thự im ắng đến mức tưởng như nghe được âm thanh của từng bông tuyết chạm lên nền gạch.

Người thanh niên thấm khô mực, xếp bản kế hoạch vừa duyệt lại, thảy lên chồng giấy tờ cao ngất bên góc bàn – thành quả của anh từ sáng đến giờ. Có gì đó trong cái u tĩnh buổi đêm khiến anh vô thức đưa mắt nhìn quanh, xác định rõ mình đang ngồi trong căn phòng ở dinh vương tử, chứ không phải ở biệt phủ trên núi. Thi thoảng Kye-sook vẫn không tin được mình đã thực sự trở về dinh thự, bên cạnh điện hạ Soo-won. Kí ức về bao đêm đông dài thức trắng giúp vị tham mưu già soạn thảo binh thư khó thể phai nhạt trong vài tháng.

Lòng anh quả có hân hoan, có nhẹ nhõm, song cũng không tránh khỏi lo âu. Hai năm rưỡi đủ để hình thành khoảng cách giữa anh và các thuộc hạ, gia nhân khác. Trước kia anh mất khá nhiều thời gian mới được họ tạm công nhận. Sau khi trở về từ biệt phủ, Kye-sook đã chính thức là quân sư của vương tử, anh phải mau chóng lấy lại vị thế của mình, bắt nhịp lại với lối sinh hoạt ở dinh thự, càng sớm càng tốt.

Vậy nên sau một tháng tĩnh dưỡng, vết kiếm chém mới khép miệng, anh đã trở dậy làm việc. Kết quả cho nỗ lực hành xác ấy là thêm một đợt đau ốm liên miên làm Soo-won lo sốt vó nữa. Ngẫm lại thì kể từ lúc sống ở dinh vương tử, không mùa đông nào anh không trở bệnh, tất cả chỉ tại những vết thương cũ đã thành tật, kéo theo thể trạng kém hơn người thường.

Kye-sook thở dài, ước gì tiết đông lạnh lẽo sớm kết thúc.

“Kye-sook.” Tiếng bước chân dừng trước cửa phòng anh, và giọng trong veo cất lên. “Ta vào được không? Ta đem cho ngài vài thứ.”

“Điện hạ cứ tự nhiên.” Kye-sook toan đứng dậy mở cửa. Có điều do ngồi quá lâu trong thời tiết lạnh, đôi chân tàn phế của anh đã tê cóng từ mắt cá đến đầu gối, nặng như đeo chì, không cục cựa nổi. Bàn viết chỉ cách cửa một khoảng chưa đầy mười bước chân, đối với anh lại tương đương cả dặm đường núi. Kye-sook hết cách, đành ngượng ngập thông báo, “Thần không gài chốt trong đâu, phiền điện hạ đẩy ra…”

Soo-won dùng vai hích cửa, để lọt vào phòng vài bông tuyết lẻ loi. “Ngài ổn không?” Cậu nhóc nhăn mày.

“Không sao. Thần ngồi lâu nên bị chuột rút thôi.”

Soo-won quay đi, không bình luận gì, bởi tình huống này không phải lần đầu. Cậu nhóc đeo đôi găng chần bông to sụ mượn từ nhà bếp, lần lượt bưng vào một hộp gỗ chuyên dùng để đựng đồ ăn và hai tô sứ có nắp đậy, nghi ngút khói trắng, nhìn thôi cũng đủ biết là nóng phỏng tay.

“Đừng, ngài cứ ở yên đó. Nguy hiểm quá-” Soo-won vội cản khi thấy Kye-sook cố nhấc mình lên. Cậu nhóc lệ khệ khiêng chiếc bàn tròn chân thấp trong góc ra, bày biện các thứ lên, cởi bớt áo choàng lông, buộc lại tóc, tháo găng tay, cứ thế thoăn thoắt như con thoi. Đoạn cậu tót đến chiếc tủ lớn cạnh giường, tìm hũ thuốc cao do Sui-mei bào chế, chuyên trị vết thương cũ tái phát khi trở trời.

Kye-sook bóp trán, cảm giác Soo-won còn rành rẽ vị trí đồ đạc trong phòng anh hơn cả chủ nhân nữa.

“Nào, từ từ duỗi người ra, ta bôi thuốc cho.” Cậu nhóc ngồi hẳn xuống sàn, quét mắt qua hai chồng giấy bản và những cuộn thẻ tre chất ngồn ngộn cạnh bàn. “Thật là, ta có cảm giác hình như cảnh này lặp lại lần thứ một ngàn rồi ấy. Ta cũng nói đến lần thứ một ngàn, nhưng vẫn phải nhắc lại rằng thời tiết lạnh ảnh hưởng đến vết thương. Ngài chưa bình phục, sao cứ cố ra ngồi ngoài bàn?”

“Thần bắt buộc phải giải quyết hết mấy bản thống kê và kế hoạch tồn đọng trước khi điện hạ lên đường. Thần là người thay mặt điện hạ cai quản dinh thự, nằm một chỗ mãi còn ra thể thống gì.”

“Nhưng-”

Kye-sook chộp lấy hũ thuốc trong tay Soo-won. “Đưa thần tự bôi. Đừng xem thần như một kẻ không lo được cho bản thân. Mấy năm xa dinh thự, một thân một mình thần vẫn sống tốt còn gì.”

“Ừmm, nếu ngài nói vậy...” Soo-won lập tức thả tay.

Cậu nhóc bỏ cuộc quá nhanh làm Kye-sook chưng hửng. Tự nhủ sẽ giải quyết vấn đề này sau, anh vội mở hũ, xoa thuốc lên hai cẳng chân cứng đờ và bả vai tê rần, mất một lúc mới có thể cử động lại.

Soo-won ngồi bên quan sát, từ đầu chí cuối không nói một lời. Trông cậu nhóc như đang có tâm sự. Kye-sook đoán vương tử vẫn thầm tự trách vì vết kiếm chém sau lưng anh, thứ khiến anh đến giờ vẫn chưa thể sinh hoạt bình thường. Song những lời gì nói được anh đều đã nói cả. Nếu vương tử vẫn tiếp tục trăn trở về chuyện đó, anh thực không biết phải làm thế nào mới phải.

“Điện hạ, ngài ổn không?” Kye-sook hỏi, “Mọi khi ngài dễ gì buông tha thần, hay im thin thít suốt như vậy.”

“Hả?” Soo-won giật mình, rồi khẽ mỉm cười, “Không, không có gì. Mai xuất phát rồi nên ta có vài mối bận tâm. Xe cộ, đường sá, quà cáp, thời tiết các thứ. Đã dành cả tuần chuẩn bị nhưng ta vẫn lo sẽ bất cẩn quên gì đó, hoặc bão tuyết kéo đến bất ngờ.”

“Phải nhỉ, mai là xuất phát rồi.” Kye-sook lẩm bẩm. Năm mới đã qua được tròn một tuần. Theo thông lệ, sau lễ đón năm mới vương tử sẽ bắt đầu chuyến thăm viếng dài ngày, chủ yếu là gặp gỡ các đồng minh tiềm năng cho kế hoạch lớn, làm mọi cách để chiếm được niềm tin và cảm tình của họ, vất vả vắng nhà đến tận Thanh minh, khi hoa đào, hoa lê đã chớm tàn.

Đồng nghĩa với việc anh sẽ lại không được gặp Soo-won suốt hai tháng. Gần như cả mùa xuân.

Thuở trước, mỗi bận vương tử xa nhà, Kye-sook tuy có lo lắng đủ điều nhưng vẫn chịu đựng được. Tuy nhiên, sau hai năm rưỡi xa cách, với đủ thứ biến cố, có lúc tưởng như không còn gặp lại, anh bỗng quý những giây phút đồng hành với vương tử hơn bao giờ hết. Quãng thời gian họ còn được sống đúng với bản thân đang rút ngắn lại theo từng năm. Thậm chí từng tháng, từng ngày. Anh tuyệt đối không muốn lãng phí thêm.

“Ngài thấy đỡ hơn chưa? Xoa thuốc xong thì sang đây ăn khuya với ta.” Soo-won gọi, kéo Kye-sook về cõi thực. “Ta nghe gia nhân báo ngài lại bỏ bữa tối. Cứ thế làm sao khoẻ lại.”

“Thần đâu có bỏ bữa. Chỉ là thần không muốn ăn cơm.”

“Ngài xem có khác gì nhau không?” Soo-won thở dài. “Trong tiệc mừng năm mới ngài hầu như chẳng đụng đũa lấy một lần, còn rời bàn sớm. Món bánh gạo bữa đó ngon thế mà. Ta nhớ hồi chúng ta đón giao thừa ở lữ quán suối nước nóng, ngài còn ăn hết cả một bát lớn.”

“Điện hạ, thứ lỗi cho thần, uống thuốc suốt mấy tháng thành ra miệng thần chẳng còn vị gì ngoài thảo dược đắng nghét ghê rợn.” Kye-sook nhún vai. “Thần cũng không có cảm giác thèm ăn.”

“Cứ thế này Kye-sook sẽ lại thành bộ xương khô. Ta đau lòng chết đi sống lại. Công ta vỗ béo ngài mấy năm đã đổ sông đổ biển.” Soo-won chùng giọng.

“Nhiều khi trời ấm lên sẽ đỡ hơn.” Vị quân sư khẽ đáp, cốt để cậu nhóc đỡ lo buồn. Chứng chán ăn này trời nóng hay trời lạnh đều như nhau, và anh thậm chí còn không rõ bao giờ mình mới khoẻ lại.

“Ta biết người ốm thường đắng miệng, nhưng kiểu gì cũng đừng bỏ bữa. Đây là cháo Thất Thảo ăn lấy hên đầu năm, cũng tốt cho sức khoẻ nữa. Bận rộn kiểm tra đồ đạc hành trang cả ngày, mãi đến chiều tối ta mới nhớ hôm nay là mồng bảy. May mà kịp.” Vương tử nói, nhấc một nắp tô ra. Không có mùi hương đặc biệt nào dậy lên. Kye-sook chỉ thoáng ngửi thấy mùi gạo nóng cùng rau tươi thanh thanh.

Cháo Thất Thảo Nanakusa là món cháo truyền thống của hoàng tộc, thường được ăn vào ngày mồng bảy tháng một, nấu bằng bảy loại rau hiếm hoi vẫn xanh tốt trong mùa đông, được cho là giàu dinh dưỡng và đem lại may mắn, gồm cần nước, rau tề, rau khúc tẻ, cây tinh thảo, cải cúc, hai thứ củ cải trắng loại tròn và loại dài. Cháo chỉ có gạo và rau củ nêm chút muối, thanh đạm dễ ăn, phảng phất dư vị tươi mát của rau non và ngọt dịu từ củ cải. Cháo nóng hổi còn giúp làm ấm người vào thời điểm đầu năm, khi tuyết rơi nhiều nhất và gió rét buốt nhất.

Trong hộp gỗ có thêm vài món ăn kèm, như kim chi, cải bẹ muối chua và dưa chuột ngâm tương. Dù lưỡi không cảm nhận được bao nhiêu vị, nhưng Kye-sook vẫn cố gắp vài miếng ăn cùng cháo, cốt để vương tử an tâm.

“Thi thoảng ta vẫn không tin nổi.” Soo-won chợt lên tiếng.

“Ngài ăn xong hẵng nói kẻo nghẹn bây giờ.” Vị quân sư nhắc nhở theo phản xạ.

Soo-won hớp một muỗng cháo nữa, “Thi thoảng ta vẫn không tin nổi, rằng mình lại một lần nữa có thể cùng ăn khuya với Kye-sook trong dinh thự thế này, giữa đêm tuyết thế này. Hai năm qua mùa đông nào cũng dài như bất tận.”

“Nhưng thần đã trở về rồi mà. Trở về thật.” Kye-sook dừng một nhịp. “Không đi đâu nữa. Ngài vẫn nói muốn có thần ở bên, vậy từ nay thần sẽ ở bên ngài suốt đấy. Sẽ có ngày ngài chán ngấy thần cho xem.”

“Kye-sook dùng từ đáng sợ quá. Làm sao ta lại chán ngài-”

“Nào ai nói trước được điều gì.”

Tương lai khi họ phải ném đi mọi cảm xúc cá nhân, khi giữa họ chẳng còn lại gì ngoài nghĩa quân thần, chẳng còn bao xa.

Kye-sook bưng tô cháo lên, đột nhiên đầu lưỡi đã tê dại vì thuốc của anh lờ mờ cảm nhận được vị mặn, chẳng rõ là từ muối nêm trong cháo, từ loại rau nào đó, hay từ những nỗi niềm vừa dâng lên khoé mắt.

Ăn xong bữa cháo Thất Thảo thì đã quá nửa đêm. Mưa tuyết mịt mù không ngớt, gió thốc mạnh dần, cả dãy phòng như rung lên từng chập. Kye-sook hướng mắt ra ngoài, thầm mong trời đừng nổi bão tuyết ngay ngày vương tử khởi hành.

Thu dọn xong chén bát, Soo-won vẫn ngồi nguyên một chỗ, hơ tay trên lò sưởi, bộ dạng như rất không muốn rời đi.

Kye-sook cũng không muốn cậu rời đi. Không chỉ vì anh ngại để cậu băng qua hành lang tối mịt đầy tuyết lạnh.

“Ngài nên nghỉ sớm mai còn lên đường. Ngồi lâu ngoài này chỉ thêm cóng người.” Anh khẽ nhắc.

“Ta ngủ lại đây được không?”

Bình thường Soo-won luôn nói câu đó thật dõng dạc kèm nụ cười toả nắng, làm Kye-sook không tránh khỏi khó xử. Nhưng lúc này cậu nhóc lại hạ giọng thật thấp. Suốt từ lúc đến phòng anh, vẻ trầm ngâm u buồn vẫn lẩn quất trong từng nét biểu cảm, từng cử chỉ, từng lời lẽ, tựa như làn sương xám mỏng bao lấy vương tử.

“Thần còn lạ gì. Dẫu thần từ chối, ngài vẫn tìm cách chen vào bằng được.” Anh vội vòng ra sau tấm bình phong, sửa soạn nhanh giường chiếu. “Điện hạ cứ vào đây.”

Soo-won dĩ nhiên không khách sáo. Dưới lớp áo choàng, cậu nhóc đã mặc sẵn đồ ngủ. Cậu tháo dây buộc tóc đặt lên bàn, giở chăn chui vào. Ngay cả mùi thảo dược trị thương vốn nồng hắc nay cũng thật ấm áp và thân thuộc.

Kye-sook chuẩn bị thổi tắt đèn, bất giác liếc sợi dây buộc cũ sờn, “Dây này bạc màu rồi, lại còn như sắp đứt, sao điện hạ không thay sợi mới?”

“Ta không thích thay. Sợi dây đó vốn là Kye-sook tặng. Ta chưa từng quên cái đêm chúng ta cùng trèo cây hái hoa quế.”

“Chỉ có ngài trèo thôi.” Kye-sook đính chính. Kí ức còn mới nguyên, hôi hổi trong tâm trí, nhưng ngoài đời thực đã gần bốn năm trôi qua. Biết bao vật đổi sao dời. Lâu chưa đặt chân đến kinh thành, anh tự hỏi liệu ngôi đền bỏ hoang trên ngọn đồi, cây hoa quế đơm bông thơm ngát và cả sạp bán bánh bao chiên ngon tuyệt năm ấy có còn tồn tại không.

“Khi nào có dịp lên Kuuto, thần sẽ tìm cho ngài sợi dây mới.” Kye-sook thì thầm, khi cả hai đã lại đắp chung tấm chăn dày ấm sực. “Điện hạ, thần suy cho cùng vẫn chỉ là dân thường, xuất thân không cao quý, còn mang ơn ngài và cha ngài rất nhiều. Sao phải nhọc lòng vì những điều vụn vặt…”

“Kye-sook đúng là toàn làm ta đau lòng.”

“… Nếu thần lỡ làm ngài phật ý ở đâu, xin cứ nói thẳng với thần.”

“Không có gì. Thực ra cũng không phải lỗi của ngài, chỉ là vấn đề của riêng ta. Nhưng ta vẫn thấy đau lòng.”

“Điện hạ bắt đầu học kiểu nói giấu giếm úp mở này từ ai?”

“Từ Kye-sook đó.”

“…”

Vị quân sư nín lặng, Soo-won cũng không nói gì thêm. Cậu nhóc co mình, cuộn tròn lại như con mèo, mớ tóc tơ vàng quyện vào những lọn tóc đen trên gối. Kye-sook nhấc tay lên rồi lại hạ xuống, không dám ôm lấy người kia, sợ rằng cậu nhóc đang khó ở, đang giận mình thật. Con mèo này đã lớn hơn khá nhiều so với em mèo vàng nhỏ xíu luôn tìm cách bám rịt lấy anh thuở nào.

“Kye-sook, bỏ qua vụ đó đi.” Soo-won rì rầm. “Còn một chuyện...”

“Vâng, điện hạ?”

“Mùng ba tháng hai này ta sẽ tròn mười lăm tuổi.”

“Thần nhớ mà. Nhưng điện hạ lại vắng nhà… Lễ thành niên có lẽ nên dời lại, đợi ngài trở về.”

“Từ khi cha mẹ qua đời, không năm nào ta có sinh nhật, thậm chí còn không thể ở nhà vào ngày hôm đó.”

“Nếu điện hạ muốn…” Kye-sook dần nhìn ra vấn đề chính.

“Có những điều nằm ngoài ý muốn. Ta đâu thể bỏ lỡ một mối liên minh, một cuộc đàm phán chỉ vì sinh nhật mình. Khác nào đứa trẻ mè nheo hờn dỗi. Nhưng quả thực ta thấy rất tệ. Ta có cảm giác sau dấu mốc mười lăm tuổi này, cơ hội để đón một sinh nhật đúng nghĩa sẽ chẳng bao giờ quay lại.”

“Đối với thần, chỉ cần điện hạ muốn, chỉ cần là ý nguyện của ngài, công vụ gì cũng không quan trọng bằng. Ngài đừng chịu đựng tất cả một mình.” Kye-sook khẳng định. “Nếu ngài đã thấy tệ đến thế, hay ta đổi phương thức khác với mọi năm? Thay vì đến thăm họ, hãy để họ phải đến thăm ngài. Tổ chức một buổi tiệc lớn, gộp cả lễ thành niên và sinh nhật, gửi thiệp mời quan khách, nhân tiện thăm dò xem có bao nhiêu kẻ tin được.”

“Kye-sook, không phải ta cần tổ chức lễ lạc linh đình, chỉ là ta…” Giọng Soo-won nhỏ dần. “Thôi, xem như nãy giờ ta nói nhảm. Ngài đừng bận lòng.”

Kye-sook cau mày. Anh vẫn chưa chạm được tới căn nguyên vấn đề. Dường như cậu nhóc đang cố bày tỏ với anh một điều gì đó… Một điều hoàn toàn xa lạ với lối sống và quan điểm của cả hai người từ trước tới nay, một điều không thuộc địa hạt của lý trí. Thành thử người này diễn đạt khó khăn, người kia cũng khó lòng thấu tỏ.

E càng nói càng chẳng đâu vào đâu, nhiều khả năng còn khiến tình hình xấu thêm, Kye-sook toan xoay mặt vào vách vờ ngủ.

“Đừng quay lưng với ta. Chỉ đêm nay thôi. Kye-sook đừng quay lưng lại với ta.”

Nói đoạn Soo-won dịch lại, áp mặt mình vào vai anh, hơi thở nóng rực ngấm qua lớp vải. Đột nhiên cậu nhóc trông thật nhỏ bé, và như sắp bật khóc. Tình cảnh rất giống cái đêm đầu tiên họ ngủ chung với nhau – cái đêm mưa gió dữ dội sau lễ tang phu nhân.

Soo-won luôn điềm tĩnh, suy tính cẩn trọng, và rất giỏi che giấu cảm xúc tiêu cực khi ở trước mặt người khác. Nhưng Kye-sook là ngoại lệ. Đồng hành bên vương tử suốt sáu năm, cùng ngài kinh qua bao thử thách, anh biết tinh thần cậu nhóc vẫn có lúc kiệt quệ vì áp lực, nhất là khi chúng tích tụ quá lâu, không được trút xả hay bộc bạch với ai đó.

“Tướng quân Joo-doh vẫn mắng thần rằng không nói ra thì ngài ta biết đâu mà lần. Điện hạ có phiền muộn gì xin cứ trút lên thần.” Anh quyết định thử lần nữa.

“…”

“Chẳng lẽ sau từng đó năm, từng đó chuyện chúng ta trải qua, ngài vẫn không đủ tin tưởng thần sao?”

“… Kye-sook, suốt mấy tháng qua, đôi lúc ta vẫn mơ về cái đêm đó.”

“Ý ngài là?”

“Cái đêm ngài tìm thấy ta trong hang đá dưới dốc núi. Và cả cảnh…” Soo-won ngừng giữa chừng, khều khều mấy lọn tóc đen gần nhất, “Tóc ngài dài ra được một chút rồi nhỉ.”

“Thần đã bảo tóc mình dài ra khá nhanh. Điện hạ không cần phải cảm thấy có lỗi với thần, vì bất kì việc gì.”

Cậu nhóc bỗng níu chặt lấy áo anh, mười đầu ngón tay run rẩy như chính giọng cậu, “Là tại ta. Ta đã mất cảnh giác. Nếu ta chú ý hơn, nếu ta rút kiếm ra sẵn, thì ngài đã không...”

“Điện hạ đừng như vậy. Vết chém sắp liền sẹo, vai lưng không còn quá đau nhức. Suy nhược hay vết thương cũ tái phát cũng không thành vấn đề, trước giờ sức khoẻ thần có bao giờ ổn định đâu. Hết mùa đông là có thể trị liệu theo phương pháp trước đây thái y từng áp dụng.”

“Nhưng ngài sẽ lại phải chịu đau đớn. Nào thuốc đắng, châm cứu và đủ thứ. Ta luôn mong người đồng hành với mình được khoẻ mạnh bình an nhất có thể. Nhưng rồi chính ta lại phá hỏng hết.”

“Thần không sao. Thần chịu được.”

“Có thật là không sao không?”

“Thần nói thật.”

“…”

 “Điện hạ, thần hỏi câu này hơi thất lễ.” Kye-sook ngần ngừ, “Nhưng hình như ngài rất không muốn đi viếng thăm đồng minh thì phải.”

“Thực vậy. Lúc này ta không thích rời dinh thự, dẫu có là sứ mệnh bắt buộc đi chăng.” Soo-won lăn qua nằm ngửa, gác tay lên trán. “Suốt mấy năm ta lấy lòng họ, cười nói với họ, đưa họ đi thưởng hoa hết núi này sang núi kia, ròng rã hai tháng trời dầm mình trong gió mưa sương tuyết lạnh lẽo, chịu đựng bao chặng ngựa xe xóc nảy. Còn thời gian ta dành cho người thân lại chẳng được bao nhiêu. Năm mới vốn là để sum vầy, để toàn tâm toàn ý ở bên người thân, không phải sao?”

“Điện hạ…”

“Kye-sook đừng lo, ta chỉ than vãn chút đỉnh. Vì kế hoạch của chúng ta, ta bắt buộc phải gác tâm tư sang một bên. Nếu cứ giữ khư khư ý nguyện cá nhân, sẽ không bao giờ lo nổi việc lớn.” Soo-won đưa tay che một cái ngáp dài, từ từ chìm vào giấc ngủ. “Xin lỗi… nếu ta làm ngài khó chịu…”

“Không đâu.” Kye-sook thì thầm.

Ngôn từ không bắt kịp, cũng không chứa nổi cảm xúc trào dâng. Chẳng biết nói gì hơn, anh bèn vươn tay ôm lấy cậu nhóc như bao lần, và cũng dần thiếp đi.

Để rồi khi mở mắt thức giấc, đã thấy bên cạnh trống trơn, gối chăn lạnh ngắt, như thể chưa từng có ai ngủ ở đó.

Như thể mọi việc, mọi lời đêm qua chỉ là một giấc mơ.

Một giấc mơ rất buồn.

Kye-sook đặt tay lên khoảng nệm trống người kia để lại. Do thứ thảo dược an thần giảm đau nên độ nhạy của anh giảm hẳn, không phát hiện cậu nhóc ra khỏi phòng lúc nào. Dường Soo-won dậy từ tờ mờ sáng để kịp giờ lên đường, hoặc có khi cậu nhóc còn không ngủ trọn giấc. Bằng cách nào đó, cậu đã rời đi khẽ khàng yên lặng nhất có thể, tránh đánh động anh. Hẳn vương tử không muốn anh ra tiễn mình trong cảnh lạnh giá của tiết Đại hàn cuối đông.

Kye-sook áp mặt lên lớp vỏ gối còn vương mùi hương như nắng hạ từ tóc người. Giờ chắc đoàn của Soo-won đã sang tới bên kia núi. Anh bỗng ước gì có thể chạy một mạch ra cổng, phi ngựa đuổi theo vương tử, băng núi vượt sông, chẳng màng mưa giông bão tuyết, xin được tháp tùng ngài, đến bất kì đâu. Để ngài không phải cô độc suốt hai tháng mùa xuân – quãng thời gian lẽ ra ngài phải được nghỉ ngơi, được thong thả tận hưởng, được ở bên người thân.

Tuy nhiên, tất cả những gì anh làm được, vẫn là ở lại thấp thỏm ngóng chờ, như ngày xưa không đổi.

Đây là vị trí của anh. Của một quân sư. Của một phế nhân. Từ đây đến mãi mãi về sau. Chỉ có thể ngồi sau lớp mành trướng ở dinh thự, ở cung điện, ở lều chỉ huy, nhìn quân vương mình phụng sự dấn thân vào chiến địa hung hiểm, khắc khoải đợi ngài quay về.

Kye-sook tự cho phép bản thân gặm nhấm những nỗi niềm ảm đạm thêm chừng hai phút, rồi gượng dậy, bôi thuốc, sửa soạn nghiêm chỉnh, bước ra mở cửa cho thứ ánh sáng nhợt nhạt cuối đông ùa vào phòng. Trong hơi tuyết lạnh thấu xương, anh ngửi thấy hương hoa mơ thanh thanh phảng phất.

Vị quân sư dọn bớt giấy tờ, chờ quản gia đến báo cáo và thái y đến kiểm tra, chuẩn bị những mệnh lệnh cần ban bố, sẵn sàng bắt đầu một ngày mới. Một ngày không có vương tử ở bên.

Và sẽ còn rất nhiều ngày như thế.

***

Năm đó xuân đến sớm. Từ trước lễ đón năm mới, hoa mơ đã nở trắng vườn. Tới giữa tháng một thì tuyết dần tan, thời tiết ấm hẳn lên, cư dân Kouka không cần phải nhóm lò sưởi cả ngày lẫn đêm. Những cành đào, anh đào, lê mới đó còn trơ trụi, xám đen dưới trời tuyết, nay đã đơm đầy những nụ li ti hồng thắm, hồng tươi và trắng muốt. Luồng gió bấc lạnh lẽo nhanh chóng nhường chỗ cho ngọn gió Đông đượm mùi hương ấm áp của nắng xuân và hoa dại.

Trong bầu không sực nức hương mùa mới, vị tướng quân Không tộc ghìm cương trước cổng dinh vương tử, tóc rối bời sau chặng phi ngựa qua khoảng đồng hoang lộng gió. Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ tiễu trừ lũ sơn tặc chuyên xuống đường cái cướp bóc. Thay vì lên đường hồi kinh, ngài lại tới thẳng chỗ vương tử Soo-won. Ngài muốn báo tin vui càng sớm càng tốt cho hai tên nhóc, rằng ngài đã thay chúng trả được mối thù hồi cuối thu.

Tuy nhiên, ra nghênh đón Joo-doh lại chỉ có gia nhân. Ông ta bối rối thông báo rằng vương tử theo lệ hằng năm đã lên đường đi thăm “họ hàng” từ sau lễ mừng năm mới.

Joo-doh có hơi mất hứng, vì khá mong đợi phút hội ngộ sau ba tháng đông dài. Gọi là thăm “họ hàng” cốt để tránh tai mắt, thực chất là thăm viếng những đồng minh bí mật và âm thầm lập liên minh với các quý tộc ôm lòng bất mãn trên khắp Kouka. Nghe nói chừng tiết Thanh minh vương tử mới về.

Nhưng nếu Soo-won đi vắng, đón tiếp ngài lẽ ra phải là người đang thay mặt cậu ta cai quản dinh thự.

“Kye-sook đâu?” Joo-doh hỏi ngay, lòng gợn lên nỗi bất an quen thuộc. Lần gần nhất ngài gặp quân sư, cậu ta đang như cọng hành héo, thậm chí còn chẳng tỉnh được quá vài phút để ngài nói lời tạm biệt trước khi bắt đầu chiến dịch tiễu trừ sơn tặc. Mùa đông vừa qua, Soo-won có sai Gulfan đưa thư cho ngài vài lần, tháng đầu vừa mừng rỡ báo rằng vết thương của quân sư đã khá hơn nhiều, tháng sau đã rầu rĩ than rằng tên nhóc ấy lại trở bệnh. Rốt cuộc ngài chẳng rõ tình hình Kye-sook tốt hay xấu nữa.

“Quân sư đang nghỉ ngơi, thưa tướng quân. Không ai dám quấy rầy ngài ấy. Cảm phiền ngài chờ ít lâu.”

“Ngủ giờ này ấy hả?” Vị tướng quân nhướng mày. Vầng dương mới lên đến nửa trời, đáng lí phải là giờ hoạt động tích cực nhất của kẻ cuồng việc như Kye-sook. Nhưng Joo-doh không cần đi sâu vào chi tiết. Ngài thừa biết lí do của lịch sinh hoạt bất thường này. Mối lo trong lòng lại được củng cố, rằng người kia vẫn chưa hoàn toàn bình phục.

Từng lui tới dinh thự không biết bao nhiêu lần, năm ngoái còn giúp vương tử cai quản cả tháng trời, Joo-doh rành rẽ từng viên gạch, từng ngóc ngách, từng gốc cây ngọn cỏ. Ngài phất tay bảo gia nhân cứ tiếp tục làm việc, ngài sẽ tự về phòng – căn phòng rộng rãi Soo-won dành riêng cho vị khách chuyên nghỉ lại dài ngày. Gia nhân quá quen với sự hiện diện của vị tướng quân, chỉ hỏi ngài có yêu cầu gì không, sau đó để ngài tự do đi lại trong dinh thự.

Nơi đầu tiên Joo-doh hướng đến là phòng tên nhóc tóc đen chuyên gây rắc rối và không bao giờ khiến người ta yên tâm nổi.

Đúng như gia nhân nói, Kye-sook đang nghỉ ngơi, theo cách của cậu ta. Thay vì vào phòng nằm đàng hoàng, cậu ta lại ngủ luôn ngoài hiên, bên chiếc bàn thấp chất đầy sách vở giấy tờ, kê đầu lên tấm đệm vuông, mặt xoay vào vách. Cũng may sáng nay trời ấm và lặng gió, hiên cũng có nắng chiếu vào.

Joo-doh ngồi bên thềm, không dám thở mạnh, nhìn người kia ngủ say, chẳng khác nào con mèo nằm dài sưởi nắng. Nếu vương tử Soo-won ở đây, hẳn sẽ mê mẩn ngắm không rời mắt.

Quang cảnh khá bình yên, song mối lo ngại trong ngài vẫn chưa tan. Mọi khi Kye-sook rất nhạy, cậu ta có thể bắt được tiếng bước chân từ tận đầu kia hành lang. Nay ngài ngồi ngay bên cạnh mà vẫn ngủ im, đủ biết cậu ta kiệt quệ đến mức nào. Đi xa hơn hai năm, sức khoẻ chưa ổn định đã phải một mình lo việc dinh thự, quá sức là lẽ đương nhiên. Sui-mei đã trở về căn nhà nhỏ dưới chân núi, vương tử lại đi vắng, chẳng còn ai quản nổi cậu ta.

Joo-doh quan sát Kye-sook, cảm giác hơi là lạ, mất một hồi mới nhận ra lạ ở đâu. Mái tóc đen bóng mượt dài quá thắt lưng, vốn như biểu tượng của quân sư, đã không còn nữa. Chắc mới cắt chưa lâu, đuôi tóc lởm chởm ngắn chấm vai, nhìn vô cùng không quen mắt, cũng chẳng hợp với cậu ta. Theo kinh nghiệm, Joo-doh đoán Kye-sook cắt tóc cho dễ chăm sóc vết thương. Vốn dĩ vết kiếm chém kéo một đường dài sâu từ vai trái đến giữa lưng, để tóc dài như trước thay băng sẽ rất vướng. Quyết định bỏ đi thứ mình trân quý bấy lâu, có lẽ cậu ta đã sầu muộn không ít.

Vị tướng quân không dám di chuyển người kia, cũng không nỡ để cậu ta ngủ chèo queo một mình ngoài hiên, bèn đắp cho cậu ta áo choàng của mình, sau đó xuống nhà bếp gần đó nhờ người pha hộ ấm trà, để có thứ uống đỡ buồn trong khi chờ đợi. Suốt quá trình Joo-doh đi đi lại lại, trao đổi với người này người kia, Kye-sook vẫn nằm nguyên một tư thế, không mảy may biết đến sự có mặt của ngài, cũng chẳng hay gió đã đem cánh hoa lê trắng gieo đầy trên sàn, trên áo và trên mái tóc đen.

Joo-doh ngỡ cậu ta cùng lắm ngủ nửa giờ, không ngờ đến hai giờ sau, mặt trời gần lên đỉnh, ngài đã uống cạn cả ấm trà và đang đói cồn cào, vị quân sư mới cựa mình thức giấc.

Kye-sook lăn qua, khó nhọc cất mình dậy, làm mấy cánh hoa lê rơi lả tả. Cậu ta mơ màng nhìn xuống tấm áo đắp trên người, rồi đăm đăm ngó ngài một lúc lâu, đôi mắt đen láy chớp vài lần, có vẻ vẫn chưa tỉnh khỏi cơn mộng.

Đến khi tầm nhìn rõ ràng trở lại, cậu ta mới giật thót như gặp quỷ, “Tướng quân Joo-doh? Ngài đến lúc nào…?”

“Cuối cùng cũng chịu dậy. Ta còn tưởng ngươi sẽ nằm vậy đến tối.” Vị tướng quân quay lại. “Ngươi ngủ say quá chẳng ai dám đánh thức, sợ ngươi gắt ầm lên.”

“Tôi… thất lễ…” Kye-sook dụi mắt, cuống quít gom mớ giấy tờ vung vãi khắp xung quanh, vuốt vội mấy lọn tóc lỉa chỉa qua mang tai. “Tướng quân thứ lỗi. Do vẫn còn dùng thuốc, đôi lúc cơn buồn ngủ kéo đến không cưỡng lại được.”

“Không cần xin lỗi, vốn dĩ ta đến để thăm ngươi, bắt người ốm phải dậy tiếp đón mình thì còn ra thể thống gì.” Joo-doh nhẹ giọng, âm thầm đánh giá người kia từ đầu đến chân, rồi thất vọng vì chẳng bói ra được dấu hiệu an lành khoẻ khoắn nào.

“Ngài đến đây tức là lũ sơn tặc chiếm cứ ngọn núi đã bị diệt sạch phải không?”

“Ừm.” Joo-doh gật đầu. Thực ra ngài còn có vài tin tức khá đau đầu, nhưng nhìn vẻ xanh xao mệt mỏi của quân sư, ngài thiết nghĩ chưa nên nói ngay. Chúng không quá cấp bách, đem ra bàn sớm chỉ tổ khiến Kye-sook căng thẳng, thể trạng lại tệ thêm.

“Tướng quân vất vả rồi. Mùa đông lạnh lẽo khắc nghiệt, hẳn đội quân Không tộc gặp không ít khó khăn. Trông ngài tàn tạ xơ xác hẳn, còn gầy đi nữa. Như già thêm mấy tuổi.” Kye-sook vẫn như muôn thuở, thẳng tuột đến phát bực.

Joo-doh nóng mặt, gân xanh nổi đầy bên thái dương, thiếu điều búng trán cậu ta. “Xem ai đang nói kìa. So về độ tàn tạ, ta còn chẳng bằng một góc ngươi. Vương tử chăm ngươi kiểu gì không biết. Lần nào ta gặp ngươi cũng đang trong tình trạng héo queo héo quắt.”

“Rất lấy làm tiếc vì cọng hành héo này cứ đau ốm liên miên làm tướng quân không vừa lòng. Tôi sẽ biến khỏi tầm mắt ngài ngay đây.”

“Đừng có suy diễn lời ta rồi nói vớ vẩn. Vết thương thế nào rồi?”

“Nếu ngài hỏi vết kiếm chém thì lành rồi. Nhưng thái y bảo… di chứng để lại cộng thêm ảnh hưởng từ mấy vết thương cũ… e là phải mất một thời gian nữa.”

“Ta hiểu.” Joo-doh lầm bầm. Nghe cách Kye-sook ngập ngừng, ngài biết thừa cậu ta chỉ đang nói giảm nói tránh. Tên nhóc này là chúa hay giấu bệnh và âm thầm chịu đựng một mình.

Kye-sook hướng mắt sang khay trà gia nhân pha cho ngài, khẽ chau mày, “Xin ngài uống hết trà đi. Ngửi mùi trà tôi không nhịn nổi, lỡ uống lại phải nghe thái y cằn nhằn.”

“Quân sư chuyên cằn nhằn kẻ khác mà cũng biết sợ sao?”

“Tốt nhất không nên tranh cãi với các y sư.” Kye-sook đáp gọn, trông hơi sầu thảm. “Tôi bị cấm dùng trà đặc. Nó làm giảm tác dụng của thảo dược.”

“Ra thế.” Joo-doh vội dốc cạn ly trà rồi đặt xuống bậc thềm thấp nhất, lòng đầy thông cảm cho vị quân sư nghiện trà kia. “Chuyện năm ngoái, thứ lỗi cho ta. Ta đã hứa sẽ đưa ngươi đi đến nơi về đến chốn, rốt cuộc lại chẳng thể bảo vệ ngươi.” Ngài hạ giọng, nhớ về cảnh tượng vẫn ám ảnh những giấc mơ chớp nhoáng, khi thân người vô lực đổ vào lòng ngài, máu tuôn ra nhuốm đỏ cả vạt áo, cả tay ngài lẫn khoảng đất bên dưới.

Kye-sook thở hắt ra, giọng đượm khó chịu, “Hết vương tử lại đến ngài. Tất cả đều là tôi tự nguyện. Người như tôi không xứng để ai đó phải thấy có lỗi, phải dằn vặt suốt mấy tháng.”

“Vẫn cái kiểu xem nhẹ bản thân đó. Rốt cuộc lời ta bao năm qua chẳng thấm vào đầu ngươi được mảnh nào, khác gì nước đổ lá khoai.” Joo-doh nhăn nhó. “Mà khoan, nghe giọng điệu này… hình như ngươi mới cãi nhau với ai đó thì phải.”

“Nào có.” Kye-sook ngoảnh đi, lập tức đổi chủ đề, “Tướng quân định nán lại bao lâu?”

“Đến khi vương tử Soo-won trở về. Ta có vài vấn đề cần bàn bạc với cả hai người.” Joo-doh đáp. “Nhìn ngươi héo queo như này muốn đi cũng chẳng đành. Ở lại giúp được gì thì giúp.”

“Khô…” Vị quân sư dợm từ chối, rồi nghĩ sao đó đổi giọng. “Tôi chỉ toàn gây rắc rối cho ngài và vương tử.”

“Sao ngươi không nhìn nhận theo hướng ta thích ở lại đây nghỉ xuân? Ta không có hứng về Kuuto. Việc luyện binh trong doanh trại đã bị hạn chế từ năm ngoái, vũ khí bị cấm sử dụng trên khắp Kouka. Chẳng có công vụ gì cần ta trực tiếp chỉ đạo, cũng chẳng ai mong ngóng ta. Sau mấy tháng phơi mình ngoài trời tuyết truy đuổi sơn tặc, ta muốn tìm một chốn yên tĩnh và có người mình tin tưởng được.”

“…”

Joo-doh liếc sang. Kye-sook ngồi lặng thinh, tựa lưng vào vách, giống như đang để tâm trí trôi xa tít tắp. Trông cậu ta ủ rũ hơn thường nhật, một vẻ rầu rĩ trái khoáy tựa cỏ úa giữa ngày xuân. Đồng hành gần sáu năm, tuy chưa thể gọi là hiểu thấu, song ngài đã nắm bắt được kha khá tâm tính của Kye-sook. Ngài có thể nhận ra khi nào người kia có tâm sự ẩn giấu, khi nào chỉ đơn thuần là nổi cơn xấu tính gắt gỏng.

Lúc cần, Kye-sook sẽ đeo lên chiếc mặt nạ quân sư lạnh lùng, sắc sảo, kiên định và đáng tin cậy. Song những lúc chỉ có hai người thế này, cậu ta hầu như chẳng thay đổi mấy so với lần đầu họ gặp nhau, vẫn là một thanh niên khó chiều tính khí thất thường.

“Ngươi với vương tử… lại có chuyện gì rồi?” Joo-doh không nhịn được hỏi thẳng, lòng thầm rủa hai tên nhóc đúng là chưa bao giờ bớt lộn xộn. Ngài những tưởng sau hai năm rưỡi xa nhau triền miên, sau biết bao sóng gió trắc trở, chúng sẽ càng gắn bó hơn trước và ngài sẽ được yên thân. Nào ngờ vẫn phát sinh đủ thứ phiền phức cần ngài tháo gỡ.

“Tôi đã bảo là không có gì.”

“Ngươi dễ đoán quá đấy. Bao năm nay mỗi lần ngươi nói ‘không có gì’ thì phải hiểu theo nghĩa ngược lại.”

 “Tướng quân đường xa vất vả, hẳn ngài đói rồi. Để tôi gọi người dọn bữa trưa cho ngài. Ngài muốn dùng bữa ở nhà ăn hay ở phòng riêng?” Kye-sook vén áo đứng dậy, rõ ràng không muốn bàn thêm.

“Ta muốn dùng bữa ở đây.” Joo-doh đáp, rồi vội thêm, “Với ngươi.”

“Vài tháng không gặp ngài hành xử lạ quá thể. Thôi thì chiều nay tôi cũng không bận mấy.” Kye-sook miễn cưỡng gật đầu, cúi mình kéo cửa phòng ra. “Ngài vào trong đi. Làm sao có thể để tướng quân Không tộc ngồi dang nắng ngoài thềm. Tôi sẽ pha thêm trà.”

Joo-doh nhanh chóng nối gót vị quân sư. Sau sáu năm quen biết, đây là lần đầu tiên ngài được Kye-sook mời vào phòng riêng. Trước giờ nơi này giống như cấm địa, không ai được phép đặt chân vào trừ vương tử Soo-won. Lần ngài đến thăm bệnh cũng chỉ toàn đứng ngoài nhìn. Kye-sook nói ngài hành xử lạ quá thể, song cậu ta cũng bất thường chẳng kém. Hẳn phải có căn nguyên gì đó, nên Kye-sook mới chịu hạ bớt hàng rào phòng vệ, để ngài bước vào chốn riêng tư.

Trong khi người kia rửa khay trà, Joo-doh giúp cậu ta nhóm hoả lò, nhắc ấm nước lên, rồi đánh mắt một lượt. Nơi chốn bí ẩn, cứ địa tuyệt mật của quân sư, hoá ra cũng bình thường như mọi căn phòng khác, thậm chí giản dị hơn ngài tưởng, không có những thứ ghê rợn treo đầy trần nhà hay những thùng hộp mờ ám chất trong góc.

Chiếm phần nhiều nhất trong phòng là thư tịch đủ loại, sắp xếp ngăn nắp đâu vào đó, khác xa bãi chiến trường ở phòng vương tử, nơi chỉ cần sơ ý là sẽ vấp trúng rương hòm ngã chỏng gọng hoặc bị một chồng cổ thư đổ ụp lên đầu. Sàn nhà sạch bong, trải thảm dày rất êm, chăn gối xếp gọn gàng sau tấm bình phong. Không gian thoang thoảng mùi đàn hương, dầu hoa trà, mùi giấy mực cùng mùi thảo dược đăng đắng.

Đây tính ra là một thư phòng đúng chuẩn. Yên bình, gọn gàng, sáng sủa và ấm áp. Trái ngược một trời một vực với vị chủ nhân u ám tiều tuỵ đến bản thân cũng không màng chăm sóc kia.

“Ngài sao thế? Cứ nhấp nha nhấp nhỏm. Nếu ở phòng tôi không thoải mái thì chuyển về phòng ngài.” Kye-sook quay ra, đặt hũ trà ô long xuống bàn, xúc một lượng vừa đủ bỏ vào ấm sứ bên cạnh. Khi được làm công việc yêu thích, vẻ uể oải của cậu ta bớt đi đôi phần, ánh mắt và biểu cảm linh hoạt hơn hẳn.

“Ở đây được rồi.” Joo-doh đáp ngay, để ý tay người kia cử động hơi cứng, dưới ống tay áo thụng thấp thoáng lớp băng dày. Có lẽ những vết thương cũ tái đau vì đợt rét dài, nhưng cậu ta vẫn làm mọi việc chỉn chu đâu vào đó. Không có ấm chén nào rơi vỡ hay vụn trà nào vung vãi ra bàn, song cũng có vài pha trượt tay nhẹ khiến ngài thót tim.

“Trà nước để gia nhân pha cũng được. Câu nệ lễ nghi làm gì.” Ngài buột miệng.

“Đây là trách nhiệm của tôi. Lúc nãy đã thất lễ không ra nghênh đón ngài.”

“Nhưng ngươi bảo hễ ngửi mùi trà sẽ lại nhớ, lỡ uống lại bị thái y mắng.”

Kye-sook ngẩng lên. Đôi mắt đen nheo lại, khoé môi khẽ cong, vẽ một nụ cười đầy ám muội. “Trong này cửa đóng then cài chỉ có tôi và ngài, lén nhấp một, hai chén thì có sao. Miễn đừng để thái y bắt gặp.”

“Nói năng cái kiểu gì…” Joo-doh suýt thì toát mồ hôi lạnh. Vẫn biết cậu ta xưa nay cũng như vương tử, muốn gì là phải làm bằng được, nhưng ngài vẫn chưa chuẩn bị tinh thần để thấy một Kye-sook phiên bản quân sư đầy yêu mị này. Độ yêu nghiệt tăng quá nửa so với ngày xưa. Ấy là cậu ta còn đang trong tình trạng tàn héo sau đợt ốm dài và tóc tai ngắn lởm chởm. Đợi khi khoẻ lại, tóc dài ra như cũ thì còn đến bậc nào.

Joo-doh bóp trán, tự hỏi ngoài binh pháp cùng những tri thức cần thiết của quân sư, lão tham mưu già Ji-hyeon còn dạy Kye-sook cái gì không biết.

Với trách nhiệm của người giám sát, lẽ ra ngài phải nổi nóng, phải đập bàn quát mắng, phải ngăn cản bằng được toan tính vi phạm lệnh cấm. Vậy mà không hiểu sao ngài lại nhắm mắt làm ngơ cho tên nhóc kia uống trà. Vì một phút yếu lòng nào đó, vì cảm giác tội lỗi còn đọng lại sau sự cố với đám sơn tặc, hoặc do việc đối ẩm cùng Kye-sook đã trở thành nghi thức không thể thiếu mỗi lần gặp mặt.

Xong một tuần trà thì gia nhân dọn bữa trưa lên. Vừa liếc mắt, Joo-doh đã thấy bất ổn. Khay của ngài chất đầy ắp, đủ mọi món chiên, xào, hấp, canh, bày biện đẹp đẽ, hương thơm nức mũi, thịnh soạn vô cùng. Nhưng khay của người kia chỉ có độc bát cháo trắng cùng một dĩa kim chi nhỏ.

“Ngươi gọi đây là bữa trưa đấy hả? Bảo sao mãi không lành bệnh. Vương tử kể trong thư rằng ngươi ghét ăn cháo trắng lắm cơ mà?” Joo-doh không chịu được, lớn giọng hơn bình thường.

Mấy gia nhân vừa quay ra và đám đầu bếp ở nhà ăn gần đó thảy đều nghe hết, liền muôn phần cảm khái tướng quân đã nói to điểm khúc mắc họ chỉ dám giữ trong lòng. Ai nấy đều khấp khởi mừng thầm, rốt cuộc cũng có người thay vương tử nghiêm trị nếp sinh hoạt bất ổn của quân sư.

Vì đã nghe Joo-doh mắng suốt từ năm mười sáu tuổi nên Kye-sook vẫn điềm nhiên, “Hồi đầu tôi thậm ghét cháo trắng. Nhưng ăn ròng rã ba tháng đâm quen. Lại thêm thảo dược làm mất vị giác, giờ không thấy nhớ cơm, cũng không có cảm giác đói. Mỗi bữa chừng này là đủ.” 

“Đủ ấy à…?” Joo-doh trân trối nhìn tên nhóc gầy trơ xương trước mặt. Ngài từng nghe ở đâu đó, rằng có những bậc cao tăng đắc đạo, đến tuổi gần đất xa trời, trong vòng ba năm sẽ từ từ giảm phần ăn, từ cháo xuống canh rau, xuống rễ cây, nước lã suông, rồi tuyệt thực hẳn. Khi nhập am viên tịch, họ chỉ còn da bọc xương, nhục thân khô lại thành xác ướp, gọi là Tức Thân Phật(*).

Gai ốc nổi cùng người, Joo-doh kinh hoàng nhận ra hình như Kye-sook cũng đang tự biến mình thành xác khô theo kiểu âm thầm chậm rãi đó.

Không thể để chuyện kinh dị nhường ấy xảy ra.

Tuyệt đối không thể.

(*) Tức Thân Phật (Sokushinbutsu): một hình thức “tự ướp xác” của các cao tăng Nhật Bản ngày xưa.

“Có thật ngươi không nhớ cơm hay bất kì thứ gì khác không?” Joo-doh hỏi lại. “Là thân tín của vương tử, ngươi muốn yêu cầu sơn hào hải vị, món ngon của hiếm gì chẳng được, miễn đừng là đồ trái mùa.”

Kye-sook im lặng lắc đầu.

Joo-doh nhăn mày, vận đến từng mảnh kí ức trong đầu, cố tìm cách chặn đứng tiến trình hoá xương khô này lại. Ngài nghĩ đến mấy lần họ cùng vương tử Soo-won đi cắm trại, có vẻ Kye-sook cũng khá thích những món nấu vội của ngài.

“Ngươi muốn ăn gì ta nấu cho. Ta đang rảnh rỗi, không phiền đâu.”

Thêm một đợt lắc đầu nữa.

Joo-doh cận kề tuyệt vọng, vô tình hướng mắt vào dĩa kim chi, chợt nhớ về một sớm lâm râm mưa phùn nơi núi thẳm xa xôi, khi người kia ngồi uống rượu gạo với một bàn đầy những món đỏ tươi sắc ớt.

“Món cay thì sao? Trời vẫn còn se lạnh, ăn với cơm nóng rất hợp.”

“…”

Đáp lại ngài, thay vì lắc đầu thì là im lặng.

Một dấu hiệu khả quan. Joo-doh chỉ chờ có thế. Ngài biết Kye-sook vốn lười ăn, cũng lười cả nói ra suy nghĩ thật. Chẳng gia nhân nào đủ kiên nhẫn hay dũng cảm (như ngài) để bỏ công truy hỏi và cố hiểu cậu ta muốn gì.

Lòng nhẹ nhõm đôi phần, ngài giải quyết sạch bữa trưa ngon lành, đầu thầm lên kế hoạch nấu nướng trong mấy ngày tới, quyết tâm giúp tên nhóc kia lấy lại khẩu vị bình thường, mà theo ngôn ngữ của vương tử là vỗ béo.

Xong bữa, Kye-sook lèm bèm bảo mình còn vài bản thống kê cần xem qua, ngài cứ về phòng nghỉ trưa hoặc làm gì tuỳ ý. Biết cậu ta muốn ở một mình, nên Joo-doh rời đi không thắc mắc.

Ngài bưng khay xuống trả nhà bếp, tiện thể xem qua vườn rau và kho lương thực để lên thực đơn riêng. Đám đầu bếp không những không tỏ ý bất bình vì bị chiếm mất công vụ, mà còn tích cực ủng hộ ngài, nhờ cậy ngài thay họ giúp quân sư chịu ăn cơm trở lại, bằng không khi vương tử Soo-won trở về họ sẽ bị cho nghỉ việc hết. Joo-doh thở dài, thấu hiểu sâu sắc nỗi sợ hãi của gia nhân trong dinh thự. Sống với tên nhóc như mèo hoang trái nết kia đúng là chẳng ai thoải mái an lòng nổi.

Dạo quanh xem xét một vòng, thấy vẫn còn sớm nên Joo-doh định về phòng chợp mắt. Bỗng ngài sực nhớ mình đã quên áo choàng ở chỗ Kye-sook, bèn quay lại lấy.

Cửa vẫn mở rộng như lúc ngài rời phòng. Joo-doh đánh tiếng rồi bước vào, sẵn sàng chịu đựng vài câu móc mỉa, rằng ngài già đãng trí hay đại loại thế. Nhưng Kye-sook không phải đang duyệt bản thống kê, mà đang nằm dài ra bàn, gục đầu vào hai cánh tay, chẳng phản ứng gì với sự hiện diện của ngài.

“Ơ hay…?” Joo-doh tái mặt, vội thụp xuống kiểm tra. Không sốt, cũng không có dấu hiệu đau đớn khó chịu. Kye-sook chỉ đang ngủ, ngủ rất say, hệt như lúc ngài mới tới. Tuy nhiên, diễn biến quá ư bất thường này làm ngài bắt buộc phải gọi thái y.

Nghe ngài gấp gáp trình bày xong, thái y vẫn điềm tĩnh quạt lò sắc thuốc, “Tướng quân đừng lo, đây đâu phải lần đầu. Cơ thể suy nhược dài ngày, lại thêm tác dụng phụ của thảo dược nên ngài ấy luôn buồn ngủ, có thể bất ngờ thiếp đi bất cứ lúc nào. Thú thực thần muốn cho quân sư ngừng thuốc từ lâu rồi, uống nhiều dễ sinh ảnh hưởng xấu. Nhưng ngài ấy không chịu nghỉ ngơi ăn uống tử tế, còn rầu rĩ phiền muộn suốt từ khi vương tử vắng nhà, làm quá trình hồi phục chậm hẳn.”

“Ngươi bảo ta ‘đừng lo’ kiểu gì đây?” Joo-doh gắt um. “Giờ có cách nào giúp cậu ta khá lên không?”

“Việc ngài có mặt ở đây đã là giúp rồi, tướng quân. Vương tử Soo-won trước khi đi có bảo, ở Kouka ngoài ngài ấy ra chỉ có tướng quân mới đủ khả năng đưa quân sư trở lại nếp sinh hoạt bình thường. Đành trăm sự nhờ ngài. Chỉ cần quân sư chịu ăn ngủ đầy đủ là ổn ngay, không cần dùng thuốc nữa.”

“Vốn dĩ ta đến dinh vương tử để nghỉ xuân. Thế mà từ bao giờ ta lại trở thành bố-” Joo-doh nhăn nhó, ngừng một lát để lựa lời. “À đâu, người giám hộ của tên nhóc tuỳ tiện kia, phải lo cho cậu ta từ miếng ăn đến giấc ngủ thế hử?”

“Vương tử Soo-won cũng bảo ngài chắc chắn sẽ không bỏ mặc quân sư tự hành hạ bản thân.”

“Cái tên nhóc…” Ngài ôm đầu, có thể mường tượng ra dáng vẻ cụ non đầy nghiêm trang của Soo-won khi nói câu trên. “Chừng nào vương tử về ta sẽ tính với ngài ấy sau. Giờ phải lo cho quân sư trước. Chỉ cần ăn ngủ đầy đủ là được chứ gì?”

***

Lúc Kye-sook tỉnh dậy, trời đã ngả về chiều. Bóng cây ngoài cửa nhập nhoà in lên tấm bình phong dát đỏ ánh tà. Anh trở mình, đưa một tay day trán, nhìn bóng chiều hắt chập chờn trên sàn gỗ. Cảm giác uể oải cả người nặng trịch này, chỉ có thể là anh lại lỡ thiếp đi lần nữa trong lúc đang làm việc. Từ khi anh bị thương, những cơn ngủ thường xuyên kéo đến không kiểm soát. Ngoài gây gián đoạn công việc, nó còn làm đầu anh lúc nào cũng mông lung mơ hồ, khó tỉnh táo hoàn toàn, gần đây còn chuyển thành chứng đau nửa đầu âm ỉ.

Vị quân sư nhớ sau bữa trưa với Joo-doh, anh đang ngồi bên bàn duyệt mấy bản thống kê mà gia nhân trình lên lúc sáng. Sau đó ý thức như bị ngắt ngang, mở mắt ra đã thấy chiều buông. Có điều anh không ngủ ngoài bàn, mà lại đang nằm sau bình phong, giữa đống nệm ấm chăn êm. Rõ ràng có ai đó đã đưa anh vào đây.

Vô thức, trong bộ óc mờ mịt vụt qua dòng kí ức về ngày giữa xuân ba năm trước, lúc anh ngủ quên ở phòng vương tử và ngài âm thầm đem chăn nệm ra “xây một cái ổ” ấm áp cho cả hai. Dư vị ngọt ngào xưa cũ dâng lên, khơi chút niềm khấp khởi trong lòng. Kye-sook chợt mong rằng Soo-won đã nghĩ lại, đã đưa ra quyết định khác, đã quay về dinh thự trong lúc anh ngủ.

“Điện hạ?” Kye-sook khẽ gọi, vén chăn và ló đầu nhìn ra.

Chẳng có ai bên ngoài.

Giọng anh vọng qua khoảng trống đẫm nắng đỏ, thoắt chốc vỡ vụn, tan biến trong ánh chiều.

Thần người một hồi, Kye-sook ôm đầu, tự cười mỉa bản thân. Đau ốm kéo dài nên tinh thần không được cứng cỏi như trước, suy nghĩ uỷ mị hão huyền cũng theo đó nảy sinh. Vương tử tuy rất không muốn đi chuyến này, nhưng một khi ngài đã quyết, sẽ không bao giờ quay đầu lại. Theo lịch trình, giờ này hẳn Soo-won đang trên đường đến một tư dinh ở Chishin.

“Ngươi dậy rồi.” Joo-doh thình lình đẩy cửa. Kye-sook giật bắn, liền đưa tay vuốt tóc, lấy lại vẻ lãnh đạm cố hữu.

“Làm ta hết hồn, cái kiểu lăn ra ngủ bất thình lình ấy. Ngủ lâu ngoài bàn không tốt, nên ta đành đưa ngươi vào giường.” Ngài ta tiếp tục, trong khi anh chỉnh trang và rót nước ra chậu rửa mặt cho tỉnh.

“Làm phiền tướng quân.” Kye-sook ái ngại nói, lòng đầy khó chịu vì phải để Joo-doh chăm sóc từng li từng tí, lại còn đưa vào tận giường sửa gối đắp chăn cho. “Tôi sẽ không để chuyện này tái diễn.”

“Ờ.” Trái với dự đoán, Joo-doh không mắng mỏ gì thêm. “Trong lúc ngươi ngủ, ta đã giải quyết hết sổ sách thống kê, cũng đã sắp xếp lính gác và gia nhân. Cứ thong thả dưỡng bệnh đi. Lúc này ngươi không nên ôm đồm nhiều quá, phải ưu tiên khoản bình phục. Nghỉ ngơi cho tốt, có sức khoẻ mới suy nghĩ thông suốt được.”

“Nhưng tôi là quân s-”

“Còn ta là tướng quân Không tộc, cũng từng thay mặt vương tử cai quản nơi này. Để ngươi tuỳ tiện mãi thành thói. Hồi ở với Ji-hyeon ngươi sống kiểu gì vậy hả?” Người kia đanh giọng. Kye-sook nhăn mặt. Anh đồ rằng thái y và gia nhân đã mách hết với ngài ta.

“… Tôi luôn phải tháp tùng Ji-hyeon nên tuân theo lịch sinh hoạt của ngài ấy. Vả lại ở đó khác, ngày qua ngày tôi chỉ cần tập trung biên soạn binh thư là đủ. Còn giờ tôi có nguyên một dinh thự cần đưa vào nề nếp.”

“Ngươi đưa cả dinh thự vào nề nếp mà lại không đưa nổi bản thân mình, giỏi thật.” Joo-doh nói giọng nửa đùa nửa trách. “Chắc ngươi vẫn không chịu biết đâu, ai cũng lo cho ngươi, từ cư dân trong dinh thự cho đến vương tử. Ngươi tự ngược đãi mình tàn đến mức này có phải phụ lòng họ rồi không?”

“Ngài đến đây cốt để thuyết giáo tôi sao?”

“Không, chỉ để nói cho ngươi rõ những chuyện ngươi cố tình bỏ qua.” Joo-doh nhún vai. “Đến giờ ăn tối rồi. Từ đây đến khi vương tử về, ta sẽ luôn ăn chung với ngươi, để mắt tới ngươi mọi lúc, chuẩn bị đi.”

Nói đoạn ngài ta xăm xăm đi lấy bữa tối. Kye-sook ngẩn người, còn chưa kịp phản đối câu nào. Có vẻ Joo-doh đã dần luận ra cách đối phó với anh.

Trong vòng một tuần sau đó, Kye-sook đành ngoan ngoãn chịu đựng sự giám sát và nỗi lo lắng thái quá của vị tướng quân suốt ngày suốt đêm. Joo-doh không chừa cho anh một khắc tự do nào. Công việc, kế hoạch, giấy tờ, thư từ đều do ngài ta duyệt trước, ai muốn gặp anh cũng phải thông qua ngài ta, nhưng có được cho phép gặp không lại là chuyện khác. Và cả thực đơn do ngài ta tự lập tự nấu, đủ ba bữa mỗi ngày, đưa đến tận phòng, bắt ăn tới khi ngài ta cho là “tạm đủ” mới thôi.

Với người bị mất vị giác thời gian dài như Kye-sook, mỗi bữa quả là đau khổ khôn xiết. Phải ăn trong tình trạng ép buộc, lại không cảm nhận được hương vị của món người kia đích thân nấu cho mình. Soo-won vẫn tán thưởng tay nghề của Joo-doh sánh ngang đầu bếp cung đình. Kye-sook đã sớm được trải nghiệm, tuy không nói ra nhưng lòng cũng nghĩ hệt vương tử. Mất vị giác lúc này quả là đáng tiếc, song dù nhai như nhai rơm anh cũng cố sức ăn đủ tiêu chuẩn. Không được để người kia thất vọng. Anh còn một chuyện tối quan trọng cần ngài ta trợ giúp.

Joo-doh mọi khi hở tí là nóng nảy quát tháo, không ngờ trong việc chăm sóc người bệnh lại kiên nhẫn lạ thường. Theo lời tư vấn của thái y, ngài ta không bắt anh chuyển từ cháo loãng sang cơm ngay, mà mỗi ngày tăng độ đặc của cháo lên một chút, từ từ thêm những nguyên liệu khác như rau củ, các loại đậu, thịt và nấm, tất cả đều được băm nhuyễn hoặc xắt hạt lựu. Cứ thế, từ cháo đặc đến cơm nát, và cuối cùng khi chuyển sang cơm bình thường, vị quân sư đã lấy lại gần trọn vẹn vị giác, dạ dày cũng hết khó chịu.

Vị tướng quân giành hết công vụ, lại không cho phép Kye-sook giam mình đọc sách cả ngày trong phòng, lúc nào cũng lải nhải rằng phải ra ngoài đi dạo, có nắng ấm khí trời mới tốt. Sáng nay không mệt lắm, nên anh quyết định tới hoa viên, xem xét những luống hoa sau mùa rét. Anh không giỏi trồng cây chăm hoa như Soo-won, nhưng có thể thay vương tử kiểm tra tình hình, xem có cây nào bị sâu bệnh không, để còn báo cho người làm vườn giải quyết sớm.

Trong hai năm rưỡi Kye-sook vắng mặt, Soo-won đã dành khá nhiều tâm sức cải tạo hoa viên. Thong dong tản bộ trên lối đi lát đá xanh, anh cảm nhận được sự hiện diện của cậu nhóc rõ ràng hơn bao giờ hết. Ngắm hoa xuân đua nở khắp xung quanh cũng giúp anh khuây khoả phần nào.

Tuy nhiên, vừa đến chỗ đám hoa nhài, tâm trạng mới manh nha tốt lên của Kye-sook lập tức tụt thẳng xuống đáy.

Trong trí nhớ của anh, nơi này từng có sáu bụi nhài lớn, trồng từ lúc dinh thự mới xây, lá xanh um tùm, mỗi mùa đều đơm bông trắng xoá, thơm ngát một góc hoa viên. Nhưng giờ chỉ sót lại hai bụi èo uột rụng gần hết lá, nhìn như sắp không trụ được quá tuần này. Nơi bốn bụi còn lại từng mọc là bốn hố đất sâu hoắm, còn rất mới.

Kye-sook đứng sững, dụi mắt vài lần mới tin mình không bị ảo giác. Vừa đúng lúc người làm vườn đi ngang, anh bèn túm ông ta lại hỏi ngay, tại sao vườn hoa nhài vương tử trân quý lại ra nông nỗi.

Bị quân sư gặng hỏi bất ngờ, lại thêm luồng khí đen lạnh thấu xương áp đảo, người kia hồn xiêu phách lạc, ấp úng một hồi mới cất nổi lời. Từ đầu đông năm ngoái mấy cây nhài bỗng dưng nhiễm bệnh lạ, lá cứ vàng đi rồi héo tàn dần, thử đủ mọi cách cũng không chữa được, còn lây ra. Ông ta buộc phải đào trốc gốc những cây hoa chết, vét sạch phần đất ở đó, hi vọng căn bệnh không lan sang cây khác trong vườn. Nhưng có vẻ nó chỉ xuất hiện trên loại hoa nhài này.

“Khi nào vương tử Soo-won trở về, thần sẽ xin phép ra ngoại thành tìm giống nhài khác khoẻ hơn, ít tốn công chăm hơn. Giống này đã cũ, hoa nhỏ, nhanh tàn còn lắm bệnh, bỏ công chăm sóc mấy cũng vẫn xảy ra sự cố.” Người làm vườn kết lại.

“Ra thế…” Kye-sook lẩm bẩm và quay đi. “Tuỳ ý ngươi.”

Bỏ lại người kia ngẩn ngơ vì không nghĩ mình được buông tha quá nhanh, vị quân sư lẳng lặng hướng đến lối ra, chẳng còn lòng dạ ngắm cảnh thưởng hoa.

Có thể với mọi người đám nhài kia không mấy quan trọng, chết cây này thay cây khác khoẻ hơn, đẹp hơn. Nhưng anh chưa quên những lần tự tay hái từng đoá hoa trắng còn nhuốm sương, đem vào phơi ráo nước rồi ướp trà, sau đó nhìn vương tử vừa uống vừa tấm tắc khen. Khi Kye-sook vắng nhà, Soo-won vẫn tiếp tục truyền thống ấy, tự tay ướp trà nhài theo cách cậu thấy anh làm, tuy không đúng chuẩn lắm nhưng vẫn đủ thơm.

“Giống này đã cũ, hoa nhỏ, nhanh tàn còn lắm bệnh, bỏ công chăm sóc mấy cũng vẫn xảy ra sự cố.”

Chỉ vài lời bâng quơ về hoa cỏ, lại khiến lồng ngực anh siết chặt lại. Tay bất giác chạm vào lớp băng dày, bên dưới là từng đường sẹo cũ chạy dài, mỗi mùa đông đều tấy lên nhức nhối.

Bất kể đang ở địa vị nào, Kye-sook cũng chưa từng ngưng chán ghét bản thân.

Nhưng điều làm anh sợ hãi nhất, là một ngày nào đó chính vương tử, và cả Joo-doh cũng sẽ phát ngấy cơ thể tàn tật này, sức khoẻ bất ổn này. Họ sẽ lại đưa ra những lí do anh không sao phủ nhận được, sẽ khuyên anh ở yên một chỗ, sẽ không ngừng lo lắng nhắc nhở anh chớ nên quá sức, sẽ bắt anh ở lại hậu phương trong khi họ xông pha nơi tiền tuyến.

Những năm qua, nào học hành, dùi mài, thi cử, rèn luyện, thị sát, biên soạn, Kye-sook đã cố gắng hết sức, đã làm mọi cách để hoàn thiện mình. Để không trở thành gánh nặng của vương tử. Để không còn ai nhìn anh bằng ánh mắt ái ngại, lo âu, thương hại. Để có thể trở thành một quân sư xứng đáng sát cánh bên quân vương của mình, cùng ngài kinh qua mọi sự, dẫu có là núi đao biển lửa.

Nhưng đôi khi, trên cõi trần muôn vàn bất công, dù cố gắng đến mấy cũng vẫn không đủ.

Mãi mãi không đủ.

“Kye-sook, chờ ngươi nãy giờ. Lên đây.” Joo-doh gọi vọng sang. Chẳng biết tự bao giờ, vị tướng quân đã yên vị trong ngôi đình bên hồ, cùng bữa trưa bày sẵn trên chiếc bàn tròn. Có lẽ ngài ta nghe gia nhân báo rằng anh vào hoa viên.

Kye-sook không muốn gì hơn là được về phòng đóng chặt cửa và đắm chìm trong nỗi sầu muộn của riêng mình. Song giờ anh đang bị Joo-doh giám sát chặt chẽ, chỉ cần vài lời nói cử chỉ bất thường cũng đủ làm ngài ta nghi ngờ, và sẽ gặng hỏi như hỏi cung đến khi một trong hai người phát điên lên mới thôi.

Vậy là vị quân sư đành đổi hướng, lê bước sang đình, đeo lên chiếc mặt nạ vô cảm, tạm cất đi mọi ẩn ức.

“Trông ngươi khá hơn rồi đấy. Đi dạo vừa phải thôi, chớ nên quá sức.” Joo-doh nhìn Kye-sook từ đầu đến chân, gật đầu vẻ hài lòng. “Thái y vừa nhắn có thể giảm lượng thuốc. Ngươi sẽ đỡ bị đau đầu buồn ngủ. Ta đã bảo mà, cứ ăn ngủ đầy đủ là khoẻ lại thôi.”

“Ừm…” Kye-sook uể oải thả mình xuống bên bàn đối diện, không muốn bình luận nhiều. Vẻ đắc ý lồ lộ trong cách Joo-doh nói làm anh có cảm giác như mình bị thua cuộc thảm hại – cảm giác của một em mèo hoang ương bướng bị con người thuần hoá. Lại còn là thuần hoá bằng đồ ăn ngon.

“Nghe bảo dạ dày ngươi đã ổn định, thái y cho phép được uống trà và ăn đồ cay mặn. Dĩ nhiên trà không được quá đặc và đồ ăn không được cay xé lưỡi như cái đống ngươi đãi ta bữa đó.” Joo-doh nói, với tay giở nắp nồi ra. “Vừa hay hôm nay trở gió lạnh. Ăn thử món này xem.”

Kye-sook nhìn hỗn hợp bốc khói thơm lự đặt chính giữa khay, nhíu mày, “Đậu phụ hầm cay à?”

“Hơi giống thôi. Ở chỗ ta gọi là đậu phụ Mapa(*). Ta đã gia giảm lượng tương ớt và hành, thịt lợn cũng băm thật nhỏ cho dễ ăn.” Người kia múc đậu phụ vào bát cơm trắng, rưới phần nước sốt đỏ nâu sánh mịn lên phủ kín mặt cơm, thêm vài miếng hành, rồi đưa sang cho anh.

(*) Tên gọi quen thuộc hơn là đậu hũ Ma Bà. Ở đây sử dụng công thức kiểu Hàn, đã được biến tấu so với nguyên gốc.

Kye-sook đón lấy bát, dè dặt ăn thử một thìa, rồi một thìa nữa.

Vì đã lấy lại đầy đủ vị giác, lại ba tháng không được ăn đồ cay mặn, anh chưa từng thấy món nào ngon đến thế. Tới khi bắt buộc phải xin Joo-doh bát thứ hai, cảm giác thua cuộc thảm hại một lần nữa dâng lên. Đường đường là quân sư của dinh vương tử lại không thể kiềm chế bản thân, chịu thua một bát đậu phụ hầm. Tất cả chỉ tại cái tài nấu ăn chết tiệt của Joo-doh.

“Nhìn ngươi thế này đúng là kì quan ngàn năm có một. Muốn ăn thêm bao nhiêu cũng được, ăn cho béo ra tròn vo cũng chẳng sao, ta càng mừng.”

“Đừng có trêu tôi.” Kye-sook gắt.

“Nếu là vương tử Soo-won, ngài ấy cũng nói tương tự.” Joo-doh đưa bát thứ hai sang, chất còn đầy hơn bát đầu. “Chậc, nếu vương tử ở đây, hẳn ngài ấy sẽ vừa ăn vừa tán thưởng không ngớt. Nấu cho tên nhóc khó ưa nhà ngươi suốt cả tuần chẳng nhận được lời khen nào, toàn bị gắt gỏng.”

“Điện hạ…” Kye-sook cúi mặt lẩm bẩm. Nỗi niềm chất chứa nơi đáy lòng cuộn lên, cảm giác thèm ăn cũng vơi bớt. “Biết đâu điện hạ… không còn như trước nữa...”

“Cấm nói chuyện buồn lúc ăn. Nuốt hết rồi ngươi muốn kể lể gì cũng được.” Joo-doh chặn ngay. “Chờ mãi mới chịu khai. Ta quá biết mỗi lần ngươi tự dưng tỏ ra ngoan ngoãn vâng lời, mười phần chắc chín là đang giấu giếm gì đó.”

“Ngài đừng nói kiểu đi guốc trong bụng người khác như thế.”

“Ta không dám nhận là đi guốc, nhưng ta đã cùng ngươi trải qua đủ thứ rắc rối suốt sáu năm qua, cũng tạm nắm được vài điểm.”

“…”

Kye-sook nín lặng ăn hết bữa trưa, vừa ăn vừa dàn xếp điều cần nói trong đầu, cẩn thận lựa từ sao cho Joo-doh không nổi nóng. Có điều anh không mấy hi vọng ngài ta sẽ chấp thuận ngay lần đầu nghe.

Joo-doh gọi người dọn khay đi và rót trà ủ trong ấm ra. Chẳng biết vô tình hay cố ý, hôm nay ngài ta chọn cho anh trà ướp hoa quế, hoa hái từ cây quế nhỏ vương tử trồng trong hoa viên. Hương hoa quế thanh ngọt toả khắp, gọi về một trời kỉ niệm của đêm xuân trong trẻo thuở nào, vô tình làm lồng ngực nhức lên, tê buốt.

“Tướng quân Joo-doh, tôi có chuyện cần ngài giúp.” Kye-sook bắt đầu, cố gắng thật nhã nhặn trong khả năng.

“Ừm?”

“Vương tử Soo-won hiện đang ở đâu đó trên đường cái quan dẫn từ Chishin đến Suisen của Thuỷ tộc.”

“Ta có xem qua lịch trình. Hôm nay là hăm ba tháng một, có lẽ ngài ấy mới đi được nửa đường, đang nghỉ lại lữ quán hoặc dịch trạm. Lát ta sẽ gửi thư hỏi cho chắc. Dạo này ngài ấy có hay sai Gulfan về dinh thự không?”

Kye-sook lắc đầu, “Đừng gửi thư. Tôi không muốn điện hạ biết.”

“Biết cái gì? Ngươi lại mưu toan mờ ám hử? Kiểu vòng vo úp mở này không lầm vào đâu được.”

“Ở khía cạnh nào đó thì có thể xem là mờ ám, tuỳ ngài. Nhưng…” Kye-sook siết tay thật chặt. “Từ giờ đến mùng ba tháng hai còn một tuần. Chỉ ngài… mới có thể giúp tôi.”

“Hiếm khi nghe ngươi xuống nước nhờ vả. Lần cuối cùng hình như là từ bốn năm trước.” Joo-doh nghiêm nét mặt, hoàn toàn tập trung, hiểu đây không phải chuyện đùa. “Ngươi cần gì?”

Kye-sook khép mắt lại.

Điều anh ước gì mình đã nói vào cái đêm trước khi vương tử lên đường.

Điều luôn cháy rực trong tâm trí anh, kể từ giây phút thức dậy nhìn sang thấy nơi người kia từng nằm chỉ còn một khoảng lạnh tanh trống hoác.

“Tôi muốn đến bên điện hạ.”

***

Tiếng bánh xe lăn dường như bất tận.

Lọc cọc, lọc cọc.

Một chuỗi âm thanh khô khốc, buồn tẻ cực độ đeo bám từ ngày này sang ngày khác, chẳng hợp với cảnh xuân tươi đẹp rộng mở hai bên đường, lấn át hết thanh âm trong trẻo từ cây cối, gió, thác và chim rừng.

Lần cuối cùng Joo-doh ngồi xe ngựa là thuở ngài lên tám, đi cùng mẹ và bà. Gia đình vốn theo nghiệp võ, ngài đã cưỡi ngựa thuần thục từ rất sớm. Du hành, ngoạn cảnh, thi thố, làm nhiệm vụ, tháp tùng, hành quân, chiến đấu, tất thảy đều diễn ra trên lưng ngựa, băng qua bao dặm đường, bao quãng đồng, bao xứ sở xa xôi, tóc lúc nào cũng rối bời vì gió, đất trời thênh thang trước mặt, tự do tuyệt đối.

Đối với vị chiến binh đã dành hơn hai mươi năm thanh xuân tung hoành cùng vó ngựa, việc ngồi trong xe kéo màn kín bưng chẳng khác nào nhà giam, ngột ngạt buồn chán khôn xiết, mất cả tuần cũng không quen nổi. Nhưng lần này là bắt buộc.

Ngài phải đắn đo rất lâu mới quyết định được. Song ngài biết đối với người kia, mọi sự còn khó khăn hơn nhiều.

Joo-doh liếc sang bên.

Kye-sook, quân sư của dinh vương tử, tên nhóc phiền toái nhất thế gian, đang ngủ chập chờn, đầu chúi hẳn vào vai ngài, hầu như chẳng bị tiếng bánh xe tẻ ngắt hay không khí tù đọng ảnh hưởng.

Suốt chặng đường dài, không dưới hai mươi lần ngài toan lệnh cho phu xe đổi hướng, vậy mà rốt cuộc vẫn không đành lòng. Ngài dư sức ép Kye-sook quay về, trói cậu ta lại, giam luôn cậu ta trong dinh thự nếu cần. Nhưng nếu làm vậy, lương tâm ngài sẽ cắn rứt không yên. Tên nhóc chưa từng mở miệng xin ai ấy, đã hạ mình mong ngài giúp đỡ.

Mà điều quân sư thỉnh cầu, thậm chí còn không dành cho bản thân cậu ta.

“Ưm…” Kye-sook hé mắt ra, thấy đầu mình đang đặt trên vai Joo-doh, vội dội ngược lại, nép sát vào góc sát cửa sổ, bộ dạng như con mèo xù lông sợ hãi. Cậu ta phản ứng mạnh quá làm vị tướng quân cũng hết hồn theo.

“Tôi vô phép, mong tướng quân bỏ quá. Tôi ngủ bao lâu rồi…?” Vị quân sư ráo hoảnh nhìn quanh, như thể cậu ta vừa có vài giấc mơ khó chịu, mà ngài là một phần rất lớn trong đó.

“Khoảng vài giờ. Ngươi cứ tựa thoải mái, ta chẳng phiền.” Joo-doh chỉ nói thật một nửa.

Thực ra ngài thấy khá phiền, nhưng không phải vì ngài ghét bỏ gì Kye-sook. Chủ yếu do mấy lọn tóc lỉa chỉa chích vào cổ ngài mỗi lần xe xóc (ngài bỗng tiếc mái tóc bóng mượt lúc trước hơn bao giờ hết) và mùi hương trên áo cậu ta – hỗn hợp từ đàn hương, thảo dược cùng mấy loại tinh dầu gì đó – khiến ngài thi thoảng nảy ra những suy nghĩ nhảm nhí lẽ ra không bao giờ nên nghĩ.

Biết người kia từ hồi cậu ta mới mười lăm tuổi, Joo-doh luôn có cảm giác dù Kye-sook có ở địa vị nào, thay đổi ra sao thì vẫn là đứa trẻ ốm o chỉ cao tới ngực ngài. Song dạo gần đây cảm giác trên đang âm thầm lung lay.

Đứa trẻ năm đó đã lớn thật rồi, đã bước qua tuổi hai mươi hai, đã là một học giả hoàng tộc, một quân sư được đào tạo bài bản, và chỉ còn đứng thua ngài nửa cái đầu.

Ngài khó thể nhìn cậu ta như trước được nữa.

Kye-sook vén mành liếc ra, không mảy may biết đến khối cảm xúc rối bời trong lòng vị tướng quân, “Tôi lỡ ngủ quên, ngài nãy giờ có để ý đường không đấy? Cẩn thận kẻo đi lố. Nhưng cũng không thể đi quá chậm, hôm nay đã là ngày cuối cùng của tháng một, rủi không kịp thì…”

“Dĩ nhiên ta có. Lắm điều quá.” Joo-doh cáu tiết. “Chẳng lẽ đến việc vặt vãnh ấy ngươi cũng không tin tưởng ta sao?”

“Không phải, nhưng tôi…”

Kye-sook bỏ lửng câu nói, buông mành xuống lại và nghiêng người tựa hẳn vào chồng gối, nét mặt sa sầm.

“Ngươi sợ không gặp được vương tử Soo-won đúng thời điểm chứ gì. Yên tâm, chúng ta đã tính toán chu toàn. Nếu không có sự cố, nội chiều nay là đuổi kịp đoàn của ngài ấy.” Joo-doh khẽ trấn an. “Tranh thủ nghỉ được lúc nào thì nghỉ. Nhìn sắc mặt ngươi tệ quá. Thấy không khoẻ phải báo ta ngay.”

Người kia ậm ừ, chẳng mấy chốc đã lại thiếp đi. Cỗ xe khá nhỏ, giữa hai người hầu như không có khoảng cách, nên Joo-doh nghe rõ từng hơi thở nặng nề. Mỗi nhịp thở nóng rực phả vào tai, nỗi lo âu trong tim ngài lại trĩu thêm một chút. Đường xa nhọc nhằn, tiết trời nóng lạnh thất thường, sức khoẻ cậu ta mới chỉ hơi hồi phục, nay lại bắt đầu chuyển xấu. Công sức ngài chăm sóc từng li từng tí suốt một tuần đang có nguy cơ tiêu tan.

Rủi ro đã được tính từ trước, trong xe cũng chất đủ thuốc do vị thái y (bất lực) nhờ ngài đem theo. Song Joo-doh vẫn không cách nào chịu được. Ngài nhớ Kye-sook lúc chưa bị thương vì đám sơn tặc, lúc cậu ta còn có thể cưỡi ngựa cạnh ngài, nhớ những lời châm chích không thương tiếc, nhớ cả độ phiền phức và sự cứng đầu của cậu ta.

Xe đi qua một quãng dốc gập ghềnh. Joo-doh đẩy chồng gối xô lệch vào lại vị trí, ước gì Kye-sook chịu tựa vào vai mình, thế sẽ đỡ mỏi hơn.

Nhưng bờ vai của ngài không phải thứ cậu ta cần lúc này.

Vị tướng quân thở dài, đăm mắt nhìn con đường đất chạy thẳng vào khu rừng âm u phía trước, thầm mong chuyến hành trình buồn tẻ này kết thúc nhanh nhanh, và mọi chuyện sẽ được giải quyết ổn thoả ở đích đến.

***

Soo-won cùng đoàn tháp tùng nghỉ lại trong một dịch trạm hai lầu đơn sơ, xung quanh toàn đồng ruộng và rừng hoang, thị trấn gần nhất cách nửa ngày cưỡi ngựa. Màn đêm buông xuống rất nhanh, hoàng hôn chỉ như một cái chớp mắt đỏ rực.

Đoàn người kéo vào chia nhau chăm sóc ngựa, quét dọn, lau bàn, trải thảm, nhóm lửa rồi ăn qua loa bữa tối toàn lương khô. Vì cả ngày rong ruổi trên đường nên trừ nhóm gác ca đầu, ai cũng đặt mình xuống là ngủ ngay. Mọi người chen chúc trong căn phòng dưới trệt và trên hành lang, còn vương tử ở riêng một phòng trên lầu, là phòng duy nhất có giường gỗ.

Soo-won cũng khá kiệt sức sau bao ngày rong ruổi xa nhà, nhưng lạ thay cậu khó thể vào giấc, dù nến đã tắt một lúc lâu. Lòng cậu cuộn lên nỗi bồn chồn kì quái, tuy không tới mức sốt ruột nghi có điềm, nhưng cũng đủ khiến cậu hoang mang. Xưa nay với giác quan nhạy bén của mình, Soo-won chưa từng linh cảm sai chuyện gì.

Trằn trọc một thôi một hồi, cậu nhóc quyết định ra ngoài đi dạo cho thoáng, biết đâu sẽ dễ ngủ hơn. Cậu trở dậy khoác áo choàng, giắt kiếm, rón rén mở cửa ra hành lang. Vốn có đôi mắt tinh tường như chim ưng, cậu nương theo ánh trăng mờ tỏ, cẩn trọng bước xuống cầu thang và lẻn ra khỏi dịch trạm bằng đường cửa sau, không đánh động những thuộc hạ đang ngủ say cũng như nhóm lính gác ngoài hiên.

Cậu nhóc khoan khoái thở ra một hơi, chưa kịp tự hào về tài rón rén của bản thân, quay lại đã thấy Hyoo-ri sừng sững sau lưng.

“Ngài Hyoo-ri.” Soo-won cười trừ. “Ta không ngủ được nên đi dạo chút đỉnh.”

Vị chiến binh gật đầu, lẳng lặng theo sau cậu một quãng. Từ sau lần bị lũ sơn tặc truy sát, hễ Soo-won ra ngoài, Hyoo-ri sẽ không rời cậu nửa bước, theo dõi thật sít sao, không nhận thêm bất cứ việc gì khác làm ông phân tâm khỏi nhiệm vụ cận vệ của mình.

Soo-won thả bước dọc con đường đất vắng ngắt rậm rì cỏ dại, nhìn xuống những vườn cây, đồng ruộng phủ lớp mạng trăng bàng bạc và những ngọn đồi, cánh rừng đen kịt chạy mãi về phía chân trời. Tuyết đã tan hết, nông phu bắt đầu làm đất, cày xới và vun luống chuẩn bị gieo hạt. Không trung ám đượm mùi đất ẩm sương, nồng nồng ngai ngái, mùi hương chỉ có thể tìm được trong tiết xuân ở nơi thôn dã.

Cách một đoạn lại có một thân cây vươn ra đường, xoà bóng tối sẫm, nhìn từ xa hơi giống bóng người xoã tóc, ai yếu bóng vía hẳn sẽ khựng lại không dám đi tiếp. Song vị vương tử trẻ cứ thế dấn tới, dù chẳng có đích đến cụ thể nào. Bóng cậu hoà cùng bóng của muôn vật, đổ dài trên mặt đường lổn nhổn sỏi đá. Câm lặng, lạnh giá.

Dưới khung trời tối thẳm, miền đất hoang trải ra mênh mông vô tận. Bốn bề hư ảo, cô tịch như giấc mơ hoang hoải nào đó, về một cõi xám ngoét thê lương nơi cậu chỉ có một mình, chạy hoài vẫn không tìm được điểm cuối, gọi mãi cũng chẳng ai đáp lời.

Những đêm trước trời khá ấm, thậm chí có thể khoác áo mỏng ra ngoài giữa đêm. Song đêm nay trở lạnh bất thường, càng về khuya nhiệt độ càng hạ thấp. Cậu nhóc trùm mũ áo choàng lên, khẽ rùng mình khi băng qua vạt cỏ ướt sương, hơi thở hoá thành làn khói trắng mờ.

Cậu không muốn đi quá xa dịch trạm, sợ rằng mọi người sẽ tá hoả cả lên khi phát hiện vương tử biến mất tăm. Nhưng chân cậu, hồ như đã kế thừa một mảnh ý thức thầm kín nơi đáy lòng, cứ tiếp tục tiến về phía trước, đi mãi, đi mãi, xa thật xa, ngược lại con đường ban sáng, hướng về nơi cậu đang nghĩ tới – đúng hơn là luôn nghĩ tới kể từ ngày khởi hành.

Soo-won mím môi, tự nhắc rằng dinh thự sẽ không có chuyện gì cần cậu về sớm. Cách đây hơn một tuần, tướng quân Joo-doh có gửi thư báo mình đã xong nhiệm vụ, sẽ tới dinh vương tử nghỉ xuân, tiện thể giúp Kye-sook xử lí công vụ. Ngài ấy chắc chắn sẽ chăm lo cho Kye-sook, như mọi khi, và sẽ có cách giúp người kia khuây khoả trong quãng thời gian cậu vắng nhà.

Nghĩ thì nghĩ vậy, song trong tâm trí luẩn quẩn hoài một chữ “nhưng.” Dành cho tâm nguyện cậu chọn dằn lòng không nói với Kye-sook. Dành cho mong muốn mà cậu ép mình phải đặt dưới công vụ. Dành cho người thân mà cậu không thể chăm nom được tử tế.

Trước mắt Soo-won hiện ra một ngọn đồi đỉnh bằng, sườn dốc thoai thoải. Ban sáng đi qua cậu đã không để ý vì mải ngắm khu rừng phía đối diện. Trên đỉnh đồi dựng một ngôi trường đình, lợp ngói xám đã điểm rêu phong, cột kèo bạc phếch vì mưa nắng.

Khác với loại đình nhỏ để nghỉ ngơi vãn cảnh, trường đình giống như gian nhà dài không vách, là nơi chốn dành cho những hồi đưa tiễn, những cuộc biệt ly. Soo-won nhìn ngôi trường đình chìm khuất trong bóng cây trùng điệp, tự hỏi đã bao nhiêu người từng chia tay bằng hữu, thân quyến, thậm chí nhân tình ở đây.

Cạnh cầu thang đá dẫn lên đồi, ngay sát mé đường có một cây anh đào lớn, khai hoa sớm hơn những cây khác quanh vùng. Hoa anh đào bung cánh nở rộ, được ánh trăng chiếu rọi càng thêm diễm lệ mê hồn, từng cánh toả sáng lung linh, trong suốt tựa thạch anh. Quanh gốc cây và trên dải bậc thang nứt nẻ đã phủ hồng một khoảng hoa rơi.

Ngẩn ngơ ngắm tán anh đào hồi lâu, chân cậu từ từ theo từng bậc thang lên trường đình. Trên đồi gió thổi mạnh hơn hẳn, vầng trăng non mảnh tựa lá lúa cùng muôn sao như gần sát lại, không xa vời vợi như lúc cậu thả bộ dưới đường. Nền đình xây cao bằng đá tảng, lác đác vài phiến lá khô cong và dăm cánh hoa đã úa màu.

Soo-won nãy giờ đi suốt không dừng, lại còn leo nguyên dải cầu thang dài dốc đứng, cả người nóng bừng túa mồ hôi, cảm giác lạnh cóng đã sớm tiêu biến. Cậu ngồi bệt xuống nghỉ lấy hơi. Sương giá chớm buông, rỏ tí tách từ mái ngói, âm thầm thấm ướt vạn vật, khơi lên làn hương thơm mát của đất đai, cỏ cây và hoa anh đào.

Soo-won bỗng có cảm tưởng rằng trong lúc dạo bước, cậu đã vô tình lạc vào cõi nào đó tách biệt hẳn với thế giới mà cậu biết. Trong chốn biệt lập này, dòng mùa tháng như vĩnh viễn ngưng đọng, tứ phương huyền ảo, tĩnh lặng, song cũng vô cùng tịch liêu.

Trải bao mất mát, bao sinh ly tử biệt, Soo-won vốn đã quen với cô độc. Vậy mà thời khắc này, khi chỉ có một mình nơi trường đình quạnh vắng, trên đỉnh đồi ngập gió đêm hoang lạnh, nghĩ tới việc phải đơn độc quay về dịch trạm như khi xuất phát, cậu bỗng vẩn vơ ước có ai đó sẵn sàng đồng hành cùng cậu, trên con đường buốt giá mịt mùng kia.

Người duy nhất có thể đáp ứng điều ước ấy, hiện đang ở xa, rất xa cậu. Hơn nữa, sau những gì họ trải qua năm ngoái, sau tất cả những đau đớn ngài ta phải chịu đựng, nếu còn cố chấp kéo ngài ta đi cùng, Soo-won sẽ không cách nào tha thứ cho bản thân.

Soo-won từng nói muốn có Kye-sook ở bên, cùng nhìn về một hướng, bước cùng một con đường. Đó là lời thật lòng. Cậu không phủ nhận rằng mình nhớ sự đồng hành của vị quân sư, muốn tiếp tục đi bên ngài ta, như hai người họ đã từng suốt bốn năm dài, trước khi Kye-sook đến biệt phủ biên soạn binh thư.

Nhưng tình thế hiện tại đã khác xưa rất nhiều.

Thuở đó cậu trẻ dại ngây thơ, dễ dàng thốt ra những lời hứa hẹn lớn lao, tự tin mình dư sức thực hiện vẹn toàn.

Còn bây giờ, cậu không biết một khi tiếp tục đưa Kye-sook theo, trên con đường nghiệt ngã hướng về tương lai đầy nguy cơ, liệu cậu có đủ khả năng bảo vệ người thân duy nhất không, hay lại bất lực giương mắt nhìn ngài ấy ngã xuống như năm ngoái.

Tự thâm tâm, Soo-won không muốn Kye-sook bị thương nữa. Không muốn ngài ta liều mạng vì cậu nữa. Không muốn gieo rắc thêm bất kì ám ảnh hay mặc cảm nào nữa. Cả cơ thể lẫn tâm trí của quân sư đều đã nhận quá đủ vết thương, và có những vết vĩnh viễn không lành.

Nhưng…

Soo-won đưa tay bóp trán, nghe nỗi sầu muộn nghẹn lên cổ, lan ra khắp lồng ngực, đượm vị mặn chát như nước biển.

Vừa muốn giữ rịt người đó bên mình, lại vừa muốn đẩy người ra thật xa. Hai luồng suy tưởng mâu thuẫn giằng xé tâm trí cậu, mãi chưa thể quyết định rạch ròi.

Đúng lúc đó, chợt có tiếng bánh xe lọc cọc, nổi bật giữa đêm xuân tịch mịch chỉ có âm vọng từ làn gió luồn qua mái ngói.

Cậu nhóc đứng bật dậy, nheo mắt quan sát. Một cỗ xe ngựa đang đủng đỉnh đi xuôi đường đất, sau đó dừng lại ngay chân đồi. Cậu tự hỏi là ai có công chuyện gấp đến độ phải đi suốt đêm như thế, lại còn dừng nghỉ đúng chỗ. Chắc chủ nhân cỗ xe cũng có hứng thú với cây anh đào nở sớm hoặc ngôi trường đình lẻ loi.

Nỗi bồn chồn lúc ở dịch trạm bất ngờ quay lại, thậm chí còn tăng cao hơn. Luồng cảm xúc kì lạ trào lên như suối phun, nhanh chóng xâm chiếm cậu, thúc giục cậu phải xuống đó ngay. Soo-won sau này ngẫm lại, giây phút đứng trên trường đình nhìn thấy cỗ xe ngựa ấy quả là bất thường. Lần đầu tiên, sau rất nhiều năm, cậu phó mặc cảm tính lấn át.

Cậu không phân tích, không cảnh giác dè chừng, cũng không đặt câu hỏi, mà vô thức lao theo tiếng gọi bí ẩn nơi đáy tim, hướng thẳng xuống đường, nhảy hai bậc một.

Và cậu thấy người đó.

Mũ trùm đã giở ra, người thanh niên lặng lẽ đứng dưới gốc anh đào mãn khai, trên thảm hoa phớt hồng lấp lánh sương. Cánh hoa mềm mại như lụa, se sẽ chao nghiêng, đáp lên vai áo xanh sẫm và mái tóc đen ngắn chấm vai mới cắt chưa lâu.

Nghe động, ngài ta chầm chậm quay đầu lại, đôi mắt đen láy sáng lên trong khoảnh khắc.

“Điện hạ.”

Kye-sook rất ít cười, cũng hiếm khi tỏ ra dịu dàng. Nhưng lúc bấy giờ, dưới bóng trăng suông, khoé môi nhợt nhạt tựa cánh anh đào dường đang vẽ một nụ cười hư ảo.

“Thần đến đón ngài đây.”

Giọng ngài ta vốn đã mỏng, nay càng mơ hồ như khói như mây, lẫn cùng tiếng gió thở dài và tiếng cỏ rạp mình xao xác. Nhưng Soo-won vẫn nghe rõ từng câu từng chữ, như thể ngài ta kề sát tai cậu mà nói vậy.

Bấy nhiêu từ, đủ hoá thành ngọn sóng ùa tới nhấn chìm mọi ranh giới, mọi lý trí, mọi khoảng cách, mọi lí lẽ cậu tự đặt ra.

“Tại sao…” Soo-won dụi mắt, bỏ tay xuống đã thấy lệ đẫm một khoảng. Giọng cậu nghẹn ứ cùng khối cảm xúc bất trị vừa thoát khỏi chiếc hộp đóng chặt. “Tại sao Kye-sook lại ở đây…?”

“Thần đến đón ngài.” Quân sư của cậu – người thân duy nhất của cậu – điềm tĩnh nhắc lại. “Thần đã hứa rồi, điện hạ nhớ không? Dù bất kì chuyện gì xảy ra, thần cũng sẽ tìm ra ngài… cũng sẽ đến bên ngài.”

Nói đoạn ngài ta bước tới, vạt áo khuấy tung thảm xác hoa, nhẹ nhàng ôm lấy cậu. Vẫn không quá chặt, như mọi lần.

Soo-won thần người, thiết nghĩ đây chỉ có thể là mơ, nhưng mùi hương và hơi ấm toả ra từ người kia thảy đều rất thật. Thật đến đau đớn. Lồng ngực buốt lên, cậu ngỡ tim mình sắp ngừng đập, không rõ vì hạnh phúc hay khổ đau.

Cậu nhóc vẫn luôn tự hào về tài ăn nói của mình. Trong mọi tình huống, với mọi đối tượng đều có thể lựa lời chính xác. Vậy mà giờ đây, trước con người này, cậu không sao cất nổi một câu.

“Ngài phải nói với thần chứ, điện hạ. Thần đã bảo không gì quan trọng bằng ý nguyện của điện hạ, vậy mà…” Kye-sook rì rầm, mười ngón tay đặt trên tóc và trên lưng cậu khẽ run lên. “Sao ngài lại lẳng lặng rời đi? Sao ngài lại chịu đựng một mình? Sao ngài không nói thật với thần? Rằng ngài muốn…”

Những từ cuối cùng trượt vào thinh không, cùng cánh anh đào tứ tán theo gió khuya.

Muốn ở lại dinh thự. Ở lại với một người.

“Làm sao ta có thể, Kye-sook…? Làm sao ta có thể tuỳ tiện từ bỏ trách nhiệm và công vụ chỉ vì vài cảm xúc nhất thời...?” Soo-won rốt cuộc cũng tìm được giọng mình. Lòng dạ rối bời, cậu cố gom góp từng mảnh bình tĩnh còn vương sót, nắm chặt lấy áo người kia, “Vả lại… nếu ta nói rằng mình muốn ở lại với Kye-sook, rằng ta không muốn rời dinh thự đến khi nào ngài bình phục, đời nào ngài chấp nhận. Ngài sẽ lại nghĩ… bản thân ngài… là gánh nặng của ta… Ngài sẽ lại ghét bỏ bản thân… sẽ lại nói những điều, làm những chuyện đau lòng…”

Soo-won dừng khựng. Cơn thổn thức vượt ngoài tầm kiểm soát, phũ phàng chặn ngang lời cậu. Áp mặt vào vạt áo choàng sẫm màu ám mùi đàn hương, cậu nhóc sụt sịt một lúc, cố không phát ra quá nhiều âm thanh gây sự chú ý. Cậu không muốn bất cứ ai ngoài vị quân sư nghe được tiếng mình khóc. Cũng may cỗ xe dừng cách gốc anh đào một quãng, khá xa nơi họ đứng.

“Điện hạ bình tĩnh. Chúng ta đang ở giữa đường đấy.” Kye-sook trầm giọng. “Thần cảm thấy thế nào khi ngài khóc, chắc không cần phải nói ra.”

“Nhưng…”

“Ngài đừng nghĩ nhiều. Thần đã đến đây rồi. Ngài sẽ không phải cô độc vào mùng ba tháng hai.”

“Chỉ vì chuyện đó… chỉ vì vài lời bâng quơ trong lúc mơ màng mà Kye-sook vượt bao dặm đường đến chỗ ta?” Soo-won ngước lên. Lệ vừa tạm ngưng lại vô thức trào ra. “Ngài đang ốm kia mà.”

Đợt kích động lặng xuống, lý trí dần quay về, đủ để Soo-won nhận ra người Kye-sook nóng bừng, đến mức cậu thấy như đang tựa mặt vào lò than, nhưng hai bàn tay đặt trên người cậu lại giá ngắt hơn băng. Khổ nỗi họ đang đứng ngược sáng, dưới bóng anh đào, cộng thêm đôi mắt nhoè nước nên Soo-won khó thể nhìn ra sắc diện của đối phương.

“Thân thần có sá gì. Đừng lo cho thần.” Kye-sook bắt được ánh mắt Soo-won, vội buông cậu ra, lùi lại vài bước. “Chỗ ngài nghỉ qua đêm ở đâu? Bất kể chuyện gì, sáng mai chúng ta sẽ cùng về dinh thự.”

“Ta nghỉ ở dịch trạm cách đây không xa lắm. Ta bị mất ngủ nên đi dạo một chút.” Soo-won chùi sạch nước mắt, phất tay về phía con đường chạy hút vào những đồng ruộng và rừng hoang.

“Điện hạ đi một mình? Trong đêm khuya khoắt thế này?”

“Không, ta có Hyoo-ri.” Soo-won liếc sang bụi cây thấp dưới chân đồi, nơi người thầy dạy kiếm đang giấu mình. “Chuyện gì tính sau, Kye-sook không nên đứng ngoài trời lâu, hôm nay sương đổ nhiều và gió lạnh lắm. Làm sao ngài đến đây được?”

“Thần… nhờ tướng quân Joo-doh.” Kye-sook đánh mắt về phía cỗ xe ngựa, giọng nghe còn hụt hơi hơn ban nãy, làm Soo-won hết mực quan ngại. Ngài ta thậm chí còn không cằn nhằn cậu vụ đi lung tung một mình giữa đêm. “Điện hạ mau lên xe đi, trăng bắt đầu xế… cũng khá muộn rồi…”

“Được, được, không nấn ná ở đây nữa. Ta có khối chuyện cần hỏi và cần kể với Kye-sook. Khi nào đến dịch trạm ta sẽ-”

Soo-won không nói được hết câu.

Cậu cứ đinh ninh Kye-sook theo sát mình, vội rảo chân bước về phía cỗ xe. Bỗng cậu nghe một tiếng động cực kì bất ổn vang lên sau lưng.

Soo-won vội ngoảnh lại. Chỉ thấy người kia vừa đổ gục bên gốc anh đào, vạt áo choàng và những lọn tóc đen trải ra giữa lớp cánh hoa lả tả đọng ánh trăng, im lìm, bất động, như nằm trên tuyết trắng.

Vị quân sư hẳn là đã bất chấp cơn bệnh, thu hết sức tàn đi một quãng đường rất dài từ dinh thự đến đây, để đứng chờ cậu, để nói chuyện với cậu, để ôm lấy cậu. Mục đích chính vừa đạt thành, ngài ta không còn trụ nổi, từ tinh thần đến thể chất đều tới giới hạn, cứ thế mất ý thức ngã xuống, không kịp nói thêm lời nào.

***

Trong lúc phát sốt, Kye-sook có rất nhiều cơn ác mộng kì dị, song cảnh tượng bày ra trước mắt khi anh tỉnh lại mới là quái nhất.

Vị quân sư chớp đôi mắt đau nhức, cố làm quen lại với thế giới thực. Cảnh trí trước mặt chập chờn nhoè nhoẹt, mất kha khá thời gian mới nhận ra mình đang nằm trong một căn phòng vuông có trần gỗ thấp, khá giống kiểu phòng ở các lữ quán, trên người đắp tấm chăn dày. Ánh sáng hắt từ bên phải vào, suy ra cửa sổ nằm ở hướng đó. Vì được lọc qua một tầng giấy dán nên không rõ là ánh trăng hay ánh ngày. Không gian hơi hẹp nhưng ấm áp, phảng phất mùi thuốc sắc và mùi gỗ thông.

Kye-sook chầm chậm nhích người. Mình mẩy nặng trịch, bải hoải, đổi tư thế thôi cũng khó khăn, may mắn tay chân vẫn cử động được. Anh thử co duỗi những khớp ngón, nâng tay lên rồi hạ xuống, thấy gân cốt chưa đến nỗi cứng đờ, dù những vết sẹo cũ đau ê ẩm. Xem ra đây không phải đợt tái phát nặng như mấy năm trước.

Vừa buông tiếng thở phào xong, Kye-sook liền hối hận vì đã nhẹ nhõm quá sớm.

Cơ thể anh không vấn đề, tình hình xung quanh mới thực sự là có vấn đề.

Anh không ở một mình. Cả hai bên đều có người, đang ngủ say, căn cứ vào tiếng thở đều đặn. Họ lại còn nằm sát rạt, quay lưng lại, gần như kẹp anh ở giữa.

Kye-sook xoay cần cổ mỏi nhừ sang trái, lỡ làm tuột mất tấm khăn ướt đặt trên trán. Đập thẳng vào mắt anh là mái tóc vàng óng xoã dài, chỉ có thể là vương tử. Tim nện như trống dồn, anh vội ngoảnh sang phải, liền thấy ngay tấm lưng rộng và mái tóc ngắn rối bời, chỉa ra tứ phía của tướng quân Không tộc. Giống như anh, cả hai đều khoác đồ ngủ mà lữ quán cung cấp. Bộ của Soo-won còn có hoa văn cánh anh đào.

Cơn sốt vốn đã rút đi trước đó, nhưng giờ Kye-sook nghĩ mình đang phát sốt trở lại. Anh kéo chăn đến nửa mặt, không dám ngó nghiêng hay thở mạnh. Thành thực mà nói, cảnh này khá ấm cúng dễ chịu, giống những lần ba người đi cắm trại ngủ chung lều. Kiểu gì cũng tốt hơn là thức dậy trong căn phòng vắng ngắt, chẳng thấy ai bên cạnh. Có điều so với hạnh phúc, phần bối rối khó xử vẫn chiếm nhiều hơn, bởi anh không ý thức được chuyện gì đã, và đang xảy ra.

Trong đầu quay cuồng ngàn vạn câu hỏi “vì sao”, “bao giờ” và “như thế nào”, vị quân sư cố gắng nhặt nhạnh từng mẩu kí ức rời rạc. Anh mất hết khái niệm về thời gian, chỉ hồi tưởng được tới khúc gặp Soo-won dưới gốc anh đào nở sớm, sau đó mọi thứ tối sầm trước mắt. Hình như anh có ôm lấy vương tử, có nói những lời như là…

Kye-sook vội trùm chăn kín đầu, chỉ muốn rên lên.

Càng hồi tưởng những gì đã làm, càng muốn bốc khói nổ tung tại chỗ. Quả nhiên khi sốt cao người ta khó thể cư xử bình thường. Nào là tự tiện ôm vương tử, nào là thốt ra những điều uỷ mị (chắc chắn không đời nào nói lúc tỉnh táo), đã thế còn ngất trước mặt ngài, mất hình tượng không sao tả xiết. Chắc Soo-won đã thấy vô cùng kì quặc, biết đâu còn nghĩ anh bệnh đến phát điên. Vương tử vốn nhớ dai, đảm bảo từ nay về sau sẽ bị ngài lôi chuyện cũ ra trêu ghẹo suốt đời.

“Ừm, Kye-sook.”

Người thanh niên giật bắn, bèn hé chăn ra quan sát tình hình. Soo-won vừa trở mình, quay sang phía anh, nhưng mắt vẫn nhắm tít. Có vẻ cậu nhóc chỉ đang nói mơ.

“Ngài ngốc ngốc ngốc vừa thôi…” Cậu nhóc tiếp tục, vừa mấp máy vừa dịch sát hơn, rúc đầu vào tấm chăn anh đang trùm. Khoảng cách thu gần hết cỡ, tới mức anh nghe rõ từng tiếng thở, tiếng tim đập khe khẽ, nhìn rõ từng lọn tóc tơ vàng và hàng mi dài phủ bóng lên đôi gò má trắng hồng.

“Kye-sook là đồ ngốc…”

Vị quân sư nhướng mày, theo phản xạ bắt đầu nhẩm đếm số chữ “ngốc” phát ra từ miệng vương tử, tự hỏi ngài ấy (lại) đang mơ giấc mơ quái đản gì. Anh bất giác nhớ đến lần Soo-won uống nhầm rượu mận say không biết trời trăng, lúc đó ngài cũng luôn miệng gọi anh ngốc. Chuyện tưởng như mới đây, mà đã hoá dĩ vãng xa muôn trùng.

“Ngài chẳng biết gì hết, cũng chẳng chịu nói gì với ta.” Người kia lẩm bẩm, bấu chặt tấm chăn như mèo giương vuốt. “Kye-sook tàn nhẫn nhất trần đời…”

Kye-sook hết làm ngơ nổi. “Phải đấy, là thần vô tri, vô cảm, ác ôn, tàn nhẫn, được chưa. Ngài cũng có chịu nói gì với thần đâu.” Anh buột miệng đáp lại, dù không chắc câu trên sẽ lọt vào giấc mơ của vương tử.

Người nằm bên phải anh đột nhiên hắng giọng rõ to. Kye-sook hết hồn, cuộn mình nằm im thin thít.

Một hồi sau anh mới hay tướng quân cũng chưa tỉnh giấc. Làu bàu vài lời rủa xả, anh tự nhủ may mà ngài ta không có thói ngáy vang nhà. Việc anh còn thức trong khi hai người kia ngủ khá lạ lẫm, bởi trước nay toàn ngược lại. Trong những chuyến du hành hoặc cắm trại, một trong hai người Soo-won và Joo-doh luôn thức sau cùng. Anh đoán cả hai đều đã mệt nhoài vì việc gì đó… hoặc vì đối tượng nào đó.

Đầu anh nhức buốt trở lại. Thiết nghĩ giờ thức cũng chẳng làm được gì, tốt nhất nên nhắm mắt ngủ tiếp, chờ hai người kia cùng dậy rồi hỏi chuyện sau. Chỉ hiềm sau bao cố gắng, đôi mắt bất trị vẫn mở thao láo, không sao vào lại giấc. Kye-sook đoán do mình đã ngủ quá nhiều. Ngoài ra, anh thấy khá khó chịu, một cảm giác quái lạ khó tả, cứ bồn chồn mãi không yên.

Mùi đồ ăn thơm phức chợt len lỏi vào phòng, có lẽ là từ bếp của lữ quán. Canh tương đậu, thịt nướng và thứ gì đó xào hành.

Giờ anh đã nhận ra nguồn cơn của cảm giác khó ở kia.

Hình như thiên hạ gọi đây là “đói” thì phải.

Kye-sook đưa tay ôm mặt. Cơn nóng rát lan từ má ra tai như lửa cháy. Bình sinh chưa từng có vụ này. Bỏ bữa một, hai ngày, chỉ sống bằng trà và nước cũng không thành vấn đề. Ăn cháo trắng ba tháng trời cũng chẳng sao. Hẳn là do cái chế độ ăn uống đều đặn mà Joo-doh ép anh phải theo từ khi ngài ta đến dinh thự. Bằng cách nào đó, anh đã dần quen nạp đủ ba bữa một ngày.

Thật là mất mặt quá đi.

Mùi chiên xào càng nồng, dạ dày càng biểu tình dữ dội. Nếu đây đúng là lữ quán, anh chỉ cần rời phòng xuống sảnh chung gọi đồ ăn là xong.

Nhưng rời phòng kiểu gì thì Kye-sook chưa biết.

Trong tình trạng kẹt cứng giữa hai con người ngủ tỉnh, giờ chỉ cần cử động mạnh là lôi cả họ dậy theo, kèm cả đống phiền phức sau đó. Cơ thể anh không được như người thường, di chuyển khá chậm và khó khăn, việc rón rén thực hiện đủ quy trình bôi thuốc, thay áo, kéo cửa hầu như bất khả, cố mấy cũng vẫn gây tiếng động.

Vị quân sư nằm gác tay lên trán, cố lờ đi cơn đói cồn cào, vận đến từng thiên binh pháp và tất cả những gì đã đọc, đã học để vạch chiến lược giải quyết tình trạng nan giải này. Tuy nhiên, vắt óc một hồi chẳng nảy ra kế hoạch nào khả quan. Đã thế Joo-doh còn vừa gác một tay qua gối của anh, và Soo-won thò tay vào chăn túm lấy áo anh chặt cứng.

Đối phó với hai người họ còn mệt hơn cả thiên binh vạn mã nữa.

***

Soo-won vốn có khứu giác thính nhạy, nên cũng bị mùi xào nấu thơm lự đánh thức. Cậu chớp mắt, nhận ra bụng mình đang réo ầm ĩ, giục chủ nhân dậy xuống nhà ăn ngay lập tức. Nguyên ngày hôm qua tất bật đủ đường, mải lo cho bệnh tình của người nhà, nên cậu và Joo-doh chỉ ăn quấy quá vài miếng cho có, dù lữ quán này nấu khá ngon.

Vị vương tử nhìn ánh nắng đỏ chiếu qua cửa sổ trên tường, ước chừng bình minh vừa rạng. Đây rõ là khung giờ ăn sáng, đói cồn cào là rất đỗi bình thường, không cần xấu hổ.

Cậu dời mắt xuống, bắt gặp một khuôn mặt u ám khủng khiếp ló ra từ tấm chăn bên cạnh, đôi mắt đen láy đăm đăm nhìn lại cậu. Không rõ ngài ta mới dậy đây hay lâu rồi. Thái y họ mời đến hôm qua nói chỉ bị suy nhược, nhưng đợt sốt cao liên miên không dứt đủ khiến cậu và Joo-doh lo ngay ngáy. Hai người không dám rời mắt khỏi ngài ta, thay nhau thức canh và thay khăn ướt, đến nửa đêm chẳng hiểu sao cả hai lỡ ngủ quên mất. Kye-sook dậy thấy mình bị ép như nhân bánh hẳn đã ngại vô cùng, nên mới có vẻ nhăn nhó khó coi cỡ này.

“Chào buổi sáng, Kye-sook ~” Soo-won mỉm cười, hạ giọng thật khẽ, “Ngài tỉnh rồi, may quá. Ngài thấy trong người thế nào?”

“Thần ổn. Nhưng điện hạ…” Quân sư của cậu trông như muốn tự đào hố chôn mình. “Đây là… và hôm nay là ngày mấy…?”

“Suỵt, ngài nhỏ giọng thôi, kẻo ảnh hưởng đến gấu ngủ đông.” Soo-won đưa ngón tay lên môi, cảnh giác liếc sang Joo-doh. “Chỗ này là một lữ quán nhỏ trong thị trấn. Còn hôm nay là mùng hai tháng hai. Ngài ngủ suốt một ngày một đêm rồi đấy. Để ta xem còn sốt không.”

Nói đoạn cậu nhóc rướn tới, áp tay lên trán người kia, rồi lại tự áp lên trán mình, kiểm tra cho chắc. “Tốt quá, chỉ còn âm ấm. Ngài có bị lạnh, khó chịu hay đau ở đâu không? Mấy vết thương cũ…”

“Thần không sao. Thần thấy đỡ hơn rồi. Đỡ hơn nhiều so với lúc chôn chân ở dinh thự.” Kye-sook lẩm bẩm. “Thần xin lỗi. Làm ngài và tướng quân Joo-doh phải nhọc lòng.”

“Đừng xin lỗi. Ta…” Soo-won thoáng ngập ngừng. Người kia chỉ vừa tỉnh lại sau trận sốt, tốt nhất không nên khơi những vấn đề gây đau đầu phiền muộn. “Ngài có cần gì không? Nằm yên đấy, giờ ta xuống lầu tìm gì đó cho ngài ăn sáng rồi mượn bếp sắc thuốc.”

“Thần dậy được.” Kye-sook chống tay cất mình lên. “Để thần đi với ngài.”

“Từ từ thôi.” Soo-won vội tới giúp ngài ta, để người kia vịn vào mình. Những vết thương cũ không bị sưng tấy, Kye-sook vẫn cử động bình thường, nên cậu cũng tạm yên lòng.

 “Khoan đã.” Kye-sook đột nhiên đổi giọng, phảng phất chút gì đó như sợ hãi. “Hành trang của thần… hai người cất đâu rồi?”

“Chỗ góc phòng kia kìa.” Soo-won chỉ, nơi những đồ đạc của ngài ta được xếp ngay ngắn. Cậu cũng nhờ người giặt sạch bộ thường phục và áo choàng đi đường, phơi khô, gấp lại cẩn thận. “Kye-sook yên tâm, không ai tò mò tọc mạch tư trang của ngài đâu.”

Tuy cậu nói vậy, nhưng Kye-sook vẫn nhào tới lục lọi kiểm tra một hồi rồi mới quay ra, tỏ vẻ nhẹ nhõm trông thấy. Soo-won lại nổi cơn tò mò chết được, bởi dấu hiệu “tàng trữ đồ mờ ám” lồ lộ thế kia. Sợ lỡ chọc giận ngài ta, cậu đành cố làm như không nghe không biết gì. Xưa nay vị quân sư chẳng giấu được quá lâu, sớm muộn rồi cũng lộ ra.

Soo-won không dám đả động thêm về chuyện bệnh tật, hay chuyện đêm đó dưới gốc anh đào. Phần vì xấu hổ, phần vì tội lỗi. Cậu nở nụ cười rạng rỡ mọi khi, tận tình giúp Kye-sook xoa thuốc, chải tóc và khoác thêm áo. Tóc ngài ta cắt ngắn nên không tốn thời giờ chăm chút như trước. Mọi việc đều được tiến hành hết mực nhẹ nhàng cẩn trọng, tránh làm Joo-doh thức giấc.

Xong đâu đó, cả hai kéo cánh cửa trượt hé ra một khoảng, ép mình chui ra (gần như bò toài) rồi nhẹ tay đóng lại. Vị tướng quân vẫn không hay biết gì.

“A ~ Thoát nạn.” Soo-won khoan khoái vươn vai duỗi người, khi hai người đã ra đến hành lang chung. “Tướng quân không quen thức trắng, cứ để ngài ấy ngủ bù. Ngài ấy lo cho Kye-sook lắm đó.”

“Thần biết.” Kye-sook trả lời nhát gừng. “Thần đã bị ông bố già giám sát đến từng miếng ăn giấc ngủ cả tuần rồi.”

Soo-won ậm ừ. Cả ngày hôm qua cậu và Joo-doh không nói gì nhiều với nhau, họ còn bận chăm Kye-sook, chỉ trao đổi khi cần thiết. Song cậu nhóc biết Joo-doh đang tích tụ rất nhiều bức xúc, dồn thành một khối đen kịt âm ỉ như mây giông, chuẩn bị giáng sấm sét xuống đầu cậu trong nay mai.

Cậu không ngại đối mặt với cơn giận của vị tướng quân, bởi chính cậu đã khơi ngọn ngành cho nó. Nhưng cậu không muốn ảnh hưởng đến Kye-sook. Nếu ngài ta biết giữa cậu và Joo-doh có xung đột, cũng như nguyên do chính của xung đột ấy, tất sẽ đâm nghĩ quẩn. Phải giúp ngài ta hồi phục trước, rồi hẵng tìm một chỗ kín đáo nghe Joo-doh mắng té tát sau.

“Điện hạ, ở đây chỉ có mấy người chúng ta thôi sao?” Kye-sook nhìn những cửa phòng khép im ỉm xung quanh. Chưa có khách trọ nào dậy vào giờ này. “Đoàn tháp tùng ngài…”

“Họ rời dịch trạm về dinh thự từ chiều hôm qua. Là ta nhắn họ cứ về trước.” Soo-won giải thích. “Ta lấy lý do dinh thự có công chuyện gấp cần ta ra mặt xử lí, nên quân sư và tướng quân mới đích thân đến báo. Bởi phải lo cho ngài nên ta sẽ tự về sau.”

Kye-sook lộ vẻ khó chịu, “Thế ra mọi người đều đã thấy thần trong tình trạng đó…”

“Đâu có. Ta chỉ bảo ngài bị cảm lạnh cần vào thị trấn tìm thái y. Đêm đó sẵn xe ngựa, bọn ta đưa ngài thẳng đến đây thuê trọ luôn, không ghé dịch trạm. Lữ quán này hơi nhỏ, được cái nằm ngay cửa ngõ và mở cửa thâu đêm. Chỉ còn đúng một phòng, thành thử mới có tình trạng chen chúc chật chội như ngài thấy.”

“Ra vậy.” Người kia thở phào. “Không rõ tại sao, nhưng giờ thần thấy khoẻ hẳn. Ít nhất là không còn buồn ngủ hay mụ mị mông lung nữa.”

“Chắc do gặp được ta đó ~” Soo-won cười tươi như hoa nở, dang rộng hai tay. “Để ta truyền cho ngài ít năng lượng tích cực, sẽ chóng bình phục thôi ~”

“…”

Kye-sook im lặng nhìn cậu, sau đó quay đi, tiếp tục xuống cầu thang. “Có lẽ.” Ngài ta trầm giọng, như tự nói với mình.

Soo-won thoáng ngẩn người, rồi cũng nối bước quân sư, lòng có chút băn khoăn. Theo lẽ thường, mỗi khi cậu đùa kiểu đó, Kye-sook sẽ đốp một câu “ghê quá” hoặc “ngài thôi ngay cho thần nhờ” mới phải.

***

Chủ lữ quán đang đốc thúc gia nhân quét dọn sảnh chính và chuẩn bị bữa sáng cho khách trọ, vừa thấy hai vị khách xuống lầu vội tới hỏi han đôi câu, sau đó mời họ đến chiếc bàn lớn nằm gần cửa sổ, nhìn ra khoảnh vườn rộng sau nhà. Ông ta ân cần bưng khay, rót trà nóng mới pha ra chén, bảo họ cảm phiền chờ một chốc sẽ có đồ ăn ngay, rồi lại tất tả quay xuống bếp.

“Ông chủ quan tâm tới thần hơi quá mức cần thiết. Lo lắng cũng phải, lữ quán đang ăn nên làm ra mà tự dưng có người ốm sốt mê man, rủi có chuyện gì thì ai dám thuê phòng nữa.” Kye-sook bình luận thẳng tuột.

Soo-won hết hồn, vội ngó quanh đề phòng ngài ta vạ miệng. Khi đã đảm bảo lời không lọt tới tai ai, cậu nhóc xua tay cười trừ, “Nào, mới sáng sớm ra Kye-sook đừng dùng mấy câu giật mình thế. Nhưng quả thực ngài làm mọi người một phen mất vía. Tự dưng chẳng nói chẳng rằng cứ vậy ngất luôn, còn sốt cao như lò lửa.”

“Trà ướp hoa nhài.” Kye-sook nhấp thử một hớp trà nóng và buột miệng. Soo-won thoáng mỉm cười, chắc mẩm ngài ta sắp chuyển chủ đề sang trà nước. Dè đâu con người kia chỉ đơn thuần nhảy từ chuyện ảm đạm này sang việc u ám nọ, “Điện hạ, vườn hoa nhài của chúng ta ở dinh thự chết sạch rồi.”

“Chết sạch…?” Soo-won ngẩn người, không biết nên trưng ra vẻ mặt gì. Kye-sook vào thẳng trọng tâm với vẻ nghiêm trang tuyệt đối, như thể đây là sự vụ tối quan trọng ám ảnh ngài ta suốt hành trình đến đây.

“Gia nhân bảo chúng bị nhiễm bệnh gì đó vô phương cứu chữa, cứ thế lây lan, héo tàn tiêu tán không còn một mống.” Người kia được thể phát huy hệ thống từ ngữ ghê rợn của mình. “Năm nay thần không thể ướp trà nhài cho điện hạ nữa rồi.”

Soo-won quan sát biểu cảm của đối phương. Ngài ta rõ ràng đang có tâm sự, mà mấy bụi nhài xấu số chỉ đóng vai trò khơi nguồn. Lúc trước hai người họ khá tương đắc, dễ dàng luận ra suy nghĩ của nhau. Tuy nhiên, sau hai năm rưỡi xa cách, cậu không dám liều đoán bừa, lỡ đâu người kia đã ít nhiều thay đổi quan điểm. Cậu bèn chọn cách an toàn, “Ta mải bận công vụ, không biết chuyện này sớm. Ta cũng tiếc vạt hoa nhài đó, chúng được trồng từ ngày dinh thự mới xây. Nhưng biết làm sao được, ta nghĩ các gia nhân đã cố hết sức. Hoa nhài vốn phổ biến, để ta tìm cây giống trồng lại. Độ cuối năm là có hoa.”

“Gia nhân nói giống nhài đó đã cũ, hoa nhỏ, khó trồng còn lắm bệnh, điện hạ nên thay giống mới.” Kye-sook hướng mắt ra cửa sổ, hai bàn tay đan chặt vào nhau. “Còn bảo… bỏ công chăm sóc cỡ nào cũng vẫn gặp sự cố.”

Soo-won căn bản đã nắm được tình hình. Rốt cuộc Kye-sook cũng chẳng thay đổi mấy. Cậu nhấc ấm châm thêm trà nóng cho người kia, vì ngài ta đã uống gần cạn chén. “Giống mới cũng hay. Ta từng thấy ở kinh đô, là loại cánh kép, thơm đậm hơn, ngọt hơn, hình như du nhập từ nước Kai rồi lai ghép với cây địa phương. Nhưng nói về nhài để ướp trà, ta vẫn thích giống cũ nhất, chỉ hương thơm êm dịu thanh tao ấy mới hợp.”

“Nhưng căn bệnh…”

“Ta nghe thúc Ogi kể ngoài ngoại thành Kuuto, chỗ giáp lãnh địa Thuỷ tộc có một thôn toàn hoa nhài. Họ trồng thành từng vườn, từng đồng, thu hoạch số lượng lớn, cung cấp cho các tư dinh quý tộc và thương nhân nước Kai. Nếu căn bệnh trên cây thực sự vô phương, đời nào thôn ấy còn tồn tại nghề trồng nhài. Chắc chắn họ có bí quyết phòng trị bệnh.” Soo-won cam đoan. “Chừng nào có thời gian, chúng ta thử đi tìm thôn ấy hỏi xem. Biết đâu còn mua được cây giống khoẻ nữa. Kye-sook cứ yên tâm, kiểu gì cũng có cách.”

“Thần hiểu. Chỉ là chuyện nhỏ nhặt, nhưng ngài đã uỷ thác cho thần cai quản dinh thự, thiết nghĩ cũng nên báo với ngài.”

Soo-won nghĩ quân sư của cậu còn muốn nói thêm, nhưng người của lữ quán đã dọn bữa sáng lên. Khi nãy cậu gọi hai suất lớn nhất, có cháo trắng cùng bánh gạo hấp, ăn kèm canh tương đậu, kim chi củ cải, rau rừng xào và thịt nướng phết sốt ớt. Vì mới nhắc từ trên bếp xuống nên nóng hôi hổi, khói toả thành một quầng mù mỏng.

Cậu nhóc vốn đã đói meo từ lúc thức giấc, lập tức không chần chừ, ăn liền một hơi tới khi lưng lửng dạ mới tạm ngừng đũa uống trà. Trà ướp bằng hoa nhài tươi, hương còn vẹn nguyên chưa phai, ngan ngát nơi cánh mũi và trên đầu lưỡi, tươi mát sảng khoái vô cùng.

Cơm nước xong xuôi, Soo-won mới phát hiện một chuyện động trời. Nãy giờ bận tập trung tấn công đồ ăn nên cậu không để ý.

Kye-sook mọi khi ốm dậy sẽ cực kì biếng ăn, lần nào cũng than miệng đắng lưỡi nhạt, được vài miếng là gác đũa, phải bỏ công dỗ dành ép buộc mãi mới chịu ăn tầm một bát cháo hoặc nửa cái bánh hấp. Vậy mà hôm nay ngài ta tích cực ăn uống không thua kém cậu, giờ vẫn chưa ngưng, sắp chén hết phần mình, chẳng cần ai dụ dỗ hay đe doạ.

Soo-won tái mặt, sống lưng lạnh toát, đầu nảy ra trăm ngàn giả thiết kinh dị.

Người kia xử nốt miếng cuối cùng, bát dĩa thảy đều sạch bong, sau đó rót trà uống, ra chiều thập phần mãn nguyện. Ngước lên bắt gặp biểu cảm rất ư kì dị của Soo-won, ngài ta nhíu mày, “Điện hạ nhìn thần kiểu gì thế? Có vấn đề gì sao?”

“Có, đầy vấn đề. Ta hỏi này, trên đường đến đây Kye-sook có đi ngang bãi tha ma hay nhà hoang miếu cổ nào không?”

“Hình như có. Thần ngủ chập chờn nên không nhớ mấy. Điện hạ lại muốn nghe chuyện ma quái à? Ngài nên hỏi tướng quân Joo-doh, ngài ấy mới là người thức suốt.”

“À…” Soo-won toát mồ hôi, cố tìm dấu hiệu nào đó cho thấy đây không phải là Kye-sook cậu biết. Nhiều khả năng có con yêu quái nào đó giả dạng ngài ta, hoặc tệ hơn, “Kye-sook có bị ma đói nhập không…?”

Kye-sook mở to mắt, tặng cho cậu một ánh nhìn nửa kinh hoàng nửa kì thị. Hai người cứ thế im lặng chơi trò đấu mắt (tuy không chủ ý) một lúc, bốn mắt nhìn nhau qua khoảng không hãy còn ám mùi thịt nướng quyện mùi tương đậu.

Vị quân sư cụp mắt xuống trước, “Thần không rõ lắm… nhưng chắc là vậy.” 

“Từ bao giờ…?” Soo-won kinh hoàng hỏi lại.

“Từ lúc tỉnh lại thần đã tự dưng thấy đói kinh khủng. Chính thần cũng không hiểu mình bị sao. Chuyện chưa từng có trong tiền lệ.”

Soo-won đăm chiêu nhìn vị quân sư. Ở một khía cạnh nào đó, cậu nghĩ việc Kye-sook bị ma đói nhập cũng không đến nỗi. Như vậy ngài ta sẽ chịu tự giác ăn uống, có điều nghe nói loại ma ấy hình dạng thực khá rùng rợn. Cậu băn khoăn không biết nên chọn bộ xương khô hay ma đói. Bên nào nghe cũng đáng sợ như nhau.

“Đó gọi là ăn trả bữa, hai tên nhóc vớ vẩn này. Cậu ta ốm suốt mấy tháng, ăn uống nghỉ ngơi không đầy đủ nên giờ cơ thể cần bù lại.” Giọng cáu gắt vọng đến. Hoá ra Joo-doh xuống lầu đúng ngay khúc cậu hỏi Kye-sook có đi qua mấy chỗ kinh dị không, và đã nghe trọn phần ma đói phía sau. Vị tướng quân ngoắc tay gọi người mang thêm đồ ăn, sau đó kéo ghế ngồi xuống, “Mà thôi, lâu rồi mới được nghe hai người đồng lòng nói nhảm. Dậy thấy phòng chẳng còn ai ta suýt rụng tim. Cũng may lúc đó giọng điện hạ vọng lên.”

Soo-won vội rót thêm trà, “Tướng quân thứ lỗi. Bọn ta thấy ngài ngon giấc nên không tiện gọi. Kye-sook bảo mình dậy được nên ta rủ ngài ấy xuống ăn sáng chung.”

“Quân sư, ngươi thấy sao rồi? Hết sốt chưa?” Joo-doh quay sang Kye-sook. “Mới tỉnh lại mà đã đi lung tung thế này liệu có…”

“Tôi đỡ nhiều rồi, không còn sốt nữa. Đa tạ tướng quân quan tâm.” Vị quân sư cúi thấp đầu. “Tôi chỉ toàn gây phiền phức cho ngài. Còn để ngài thấy cảnh không mấy hay ho.”

“Thôi khỏi, từ lúc chấp thuận thỉnh cầu của ngươi, ta còn chuẩn bị tinh thần cho nhiều tình huống động trời hơn cơ. Lăn ra bất tỉnh hay sốt mê cả buổi tính ra vẫn còn đỡ chán.” Joo-doh phất tay. “Ngươi ăn được là tốt, nhìn đỡ vật vờ tiều tuỵ hơn hồi ở dinh thự. Cứ để ma đói nhập thoải mái đi. Muốn ăn lúc nào cứ nói, càng trả đủ bữa càng chóng hồi phục.”

“Ma đói gì chứ…” Kye-sook bực bội ra mặt, chuẩn bị đốp thêm vài câu, may mà kịp thời ngậm miệng khi bắt gặp cái lắc đầu rất nhẹ của Soo-won.

Lúc gọi món, cậu nhóc có nhờ người nhóm lò nấu thuốc hộ, lượng thuốc và cách sắc giống như hôm qua. Gia nhân dưới bếp đã quen, ra báo rằng độ nửa giờ nữa là dùng được.

Trời sáng hẳn. Khách khứa từ các phòng lục tục kéo xuống lầu. Sảnh chung dần trở nên náo nhiệt, tiếng cười nói lao xao ồn ã dấy lên như ong vỡ tổ. Soo-won thấy Kye-sook nhăn mày, đưa tay xoa thái dương, dường bắt đầu bị tiếng ồn ảnh hưởng.

“Điện hạ dẫn quân sư lên phòng nghỉ đi. Có thể cậu ta thấy khá hơn trước, song một ngày chưa đủ bình phục hoàn toàn, phải giữ gìn cẩn thận, đừng để cảm giác đánh lừa. Lát thuốc sắc xong sẽ có người bưng lên cho.” Joo-doh vội giục cả hai, “Chỗ này chỉ là ở tạm, phòng ốc chật hẹp còn đông đúc ồn ào, không hợp tĩnh dưỡng. Ăn xong ta sẽ tranh thủ hỏi xem quanh đây có lữ quán nào rộng rãi vắng khách hơn không.”

“Phiền tướng quân quá.” Cả Soo-won và Kye-sook cùng nói một lúc.

“Hai người quấy nhiễu ta suốt bao năm còn gì. Vả lại ta đã hứa với thái y của dinh thự sẽ trông nom tên nhóc kia đến khi khoẻ hẳn.” Joo-doh đáp đơn giản, tiếp tục xử lí phần ăn sáng đầy vun có ngọn, cố tình lờ đi mấy tiếng suýt soa cảm thán với nội dung quen thuộc “ôi chiến binh đẹp trai phong độ” từ ba thiếu nữ ngồi bàn gần đó.

Nghe lời Joo-doh, Soo-won liền cùng Kye-sook về lại phòng. Tuy phòng ở cuối dãy trên lầu, nhưng tiếng ồn dưới sảnh bằng cách nào đó vẫn vẳng lên, cộng thêm âm thanh người qua kẻ lại ngoài đường cái, thành một tổ hợp âm khó chịu không ngớt dội vào tai.

“Ngài ổn không?” Soo-won lo lắng hỏi.

“Thần hơi chóng mặt, nhưng không đến nỗi.” Kye-sook thả mình xuống giường, “Với cả ăn xong tự dưng buồn ngủ lại. Chắc giờ thần phải chợp mắt một lúc. Điện hạ đang ở đây, vậy mà thần thất lễ…”

“Ăn ngủ được là tốt. Như tướng quân nói, ngài vẫn còn bệnh, cứ nghỉ khi nào đủ thì thôi. Không cần bận tâm đến ta, cũng không cần cố thức tiếp chuyện ta.” Soo-won vỗ nhẹ vào tay người kia và kéo lại chăn. “Ngài vất vả nhiều rồi. Giờ đến lượt ta chăm ngài. Thoải mái thả lỏng đi nào-“

“Điện hạ.”

“Ừm, Kye-sook?”

“Mấy tháng qua… dù đã trở về dinh thự, nhưng thần chẳng có mấy cơ hội trò chuyện cùng ngài. Không thương tật thì cũng ốm đau, khi ngài công du lại chẳng thể tháp tùng.” Đôi mắt đen nhìn lên cậu đã vô thức phủ một quầng lệ mờ. “Thần ghét cơ thể này.”

Soo-won cúi xuống, đến khi trán cậu chạm vào trán người kia. “Ngài đừng nói vậy. Vốn chẳng ai muốn bị thương hay bệnh tật, sao phải tự đổ lỗi cho bản thân. Trò chuyện thì lúc nào chẳng được, sức khoẻ mới là quan trọng. Sáng giờ chúng ta vẫn trò chuyện đấy thôi. Ta từng bảo mỗi lần ngài muốn ghét bỏ hay hành hạ mình, hãy nghĩ đến cảm xúc của ta, ngài nhớ không?”

“Thần nhớ. Nhưng thần vẫn… không sao ngăn được cảm giác đó.” Kye-sook vùi mặt vào gối, từ từ thiếp đi. “Thần sợ…”

Soo-won ngồi lặng, nhìn xuống Kye-sook rồi lại nhìn vào khoảng không ngập nắng xung quanh. Dư âm của hai chữ “thần sợ” hãy còn lơ lửng trên không trung như bụi xám, tuy nhỏ bé nhưng đủ khiến mắt cay xè. Kye-sook vốn có sức mạnh tinh thần rất lớn, đã kinh qua đủ phong ba, bước qua đủ mọi trắc trở để có được vị trí quân sư ngày hôm nay. Phải là nỗi sợ hãi lớn lao nhường nào mới có thể khiến ngài ta thốt ra thành lời hai tiếng ấy.

Và Soo-won, hơn ai hết, hiểu thấu sự bất an trong lòng Kye-sook, biết rõ những lời ngài ta chưa kịp nói là gì.

“Ta cũng sợ.”

Cậu nhóc thì thầm, đặt tay mình lên bàn tay chỉ còn da bọc xương, giữ yên như thế tới tận lúc gia nhân bưng thuốc lên.