Work Text:
Nơi Gió Dừng Lại
Chương 1: Thức Dậy
Tiếng không khí đến trước cả ý thức, đẩy vào miệng theo từng nhịp nhỏ và đều đặn của thứ máy móc không biết mệt mỏi là gì.
Không phải tiếng người. Không phải ánh sáng trắng quen thuộc trên trần. Không phải mùi cồn y tế mà cô đã ngửi đủ lần để không còn nhận ra nó như một mùi riêng nữa. Chỉ là không khí, đi vào cuống họng, xuống đến tận điểm dừng quen thuộc ở phần trên lồng ngực, rồi dừng lại ở đó như không biết đi tiếp về đâu.
Cô vẫn nằm yên trong đó.
Có giọng người. Hai người đàn bà đang nói chuyện với nhau, giọng thấp và bằng phẳng, từng câu gọn ghẽ cắt qua nhau theo nhịp của người đã quen làm việc ở nơi này từ khi nào.
Rồi một trong hai giọng đó thay đổi.
Không hẳn là khóc, không phải tiếng nức nở quen thuộc mà cô đã nghe nhiều lần trước đây và có thể nhận ra ngay cả khi đang ngủ. Không. Đây là thứ gì khác. Một âm thanh bị nén xuống rồi trồi lên không đúng lúc, như nước bị giữ trong lòng bàn tay mà vẫn rịn qua từng kẽ ngón. Có gì đó ở trong đó, nằm dưới lớp đau và lớp lo sợ, nặng hơn cả hai thứ đó cộng lại.
Cô mở mắt, phần dưới của chiếc mặt nạ thở đang ép vào mặt cô. Đường viền nhựa mềm tì vào xương hàm dưới theo cách không đau hẳn nhưng cũng không thể nào lờ đi được, một vệt ấn liên tục và chẳng hề xê dịch dù chỉ một lần khỏi chỗ của nó. Bên phải xiết chặt hơn bên trái một chút, một điểm ngay phía đuôi hàm nơi nhựa cắm nhẹ vào da và không chịu nhả ra, như cái kẹp nhỏ ai đó quên tháo. Cô muốn đưa tay lên điều chỉnh nhưng tay cô chẳng thể nào di chuyển được.
Mắt cô nhìn lên trần trước. Màu trắng cùng ánh đèn huỳnh quang dài không chớp vẫn ở đó. Rồi cô nhìn sang.
Người phụ nữ mặc đồ trắng đứng cạnh màn hình máy theo dõi, người cúi nhẹ xuống chiếc bàn bên cạnh, chiếc mũ vải trắng trên đầu không lệch một ly. Bên cạnh bà là người đàn ông lớn tuổi, áo blouse trắng dài qua đầu gối, ống nghe vẫn còn thòng trước ngực ông. Cô nhìn hai người một lần rồi nhìn đi chỗ khác. Không cần nhìn lâu hơn.
Ở phía bên kia phòng là hai người không mặc trang phục màu trắng như họ.
Người đàn ông đứng thẳng, tay quàng qua lưng người phụ nữ bên cạnh, ngón tay nắm nhẹ vào vai áo bà như giữ một thứ gì đó khỏi rơi xuống. Người phụ nữ đang khóc. Vai bà rung theo nhịp quen thuộc, hơi thở hắt ra khe khẽ theo cách bà đang cố không để ra tiếng. Cô nhận ra cả hai thứ đó. Cô biết cách vai bà rung. Nhưng lần này trong tiếng khóc đó có thêm một lớp mà cô chưa nghe trước đây, hoặc có nghe mà lúc đó cô chưa đủ tỉnh để nhận ra. Thứ gì đó nằm ở đáy của âm thanh, phía dưới nước mắt ấy.
Người đàn ông không khóc. Mặt ông hầu như không cử động. Nhưng khi cô nhìn vào khóe miệng ông thì thấy, một đường cong nhỏ, nhẹ đến mức người không chú ý sẽ không bao giờ thấy, một nụ cười mà không giống bất kỳ nụ cười nào cô biết được tên gọi.
Người đàn ông trong áo blouse đang nói. Tay ông vẽ những hình không rõ hình thù trong không khí trước mặt, mỗi từ một cử chỉ, lòng bàn tay mở ra rồi lật ngược lại. Môi ông mở và đóng. Cô nhìn nhưng chưa nghe. Âm thanh đến chậm hơn hình ảnh theo cách mà cô không còn buồn tự hỏi tại sao, phải thêm một nhịp thở nữa thì tai cô mới bắt kịp được. Và rồi cô nghe.
“Tôi xin phép hỏi lại lần cuối, anh chị đã chuẩn bị hoàn toàn chưa? Nếu trên bàn mổ hoặc tại phòng hồi sức, cơ thể bệnh nhân từ chối tiếp nhận phổi mới và rơi vào trạng thái chết não, suy đa tạng không thể cứu vãn, gia đình có muốn chúng tôi tiếp tục dùng các biện pháp ép tim, sốc điện kéo dài đau đớn hay không?”
Người phụ nữ dừng khóc. Không phải dừng dần mà bà dừng hẳn, như ai đó vừa tắt một công tắc, và trong khoảng trống đột ngột đó cô nghe rõ hơn bao giờ hết tiếng máy thở vẫn đang đẩy không khí vào miệng mình đều đặn, không ngừng, không quan tâm đến bất cứ điều gì vừa được nói ra trong căn phòng này.
Bàn tay người đàn ông siết chặt hơn vào vai áo bà. Chỉ một chút. Đủ để thấy.
Rồi bà ngẩng đầu lên. Miệng bà mở ra và cô nhìn môi bà hình thành từng chữ. Nhưng lần này cô không còn nghe được nữa. Nhịp thở vẫn đến. Từng nhịp, từng nhịp. Điểm nhỏ phía bên phải của mặt nạ vẫn đang ấn nhẹ vào xương hàm cô, kiên nhẫn như mọi khi. Rồi cô không còn cảm thấy gì nữa.
Không biết bao lâu sau, cô lại mở mắt. Trần nhà vẫn vậy. Nhưng ánh sáng thì khác, không còn là ánh đèn huỳnh quang trắng lạnh nữa mà là thứ sáng mờ đục lọt qua khe mành, vàng và dài vẽ nên những vệt chéo trên tấm rèm vải nhạt màu. Có thể là buổi chiều, hoặc buổi sáng.
Tiếng ồn bây giờ đã khác hẳn.
Không còn là nhịp đẩy khẽ của máy BiPAP nữa. Bây giờ là thứ tiếng lớn hơn và nặng hơn, tiếng xì dài của máy thở cơ học bơm không khí vào theo từng nhịp đều đặn rồi xả ra, lấp đầy phòng như nhịp thở của ai đó to lớn hơn cô rất nhiều đang thở hộ cô.
Cô thử cử động ngón tay.
Chúng đáp lại, nhưng chậm. Như thể tín hiệu mất lâu hơn bình thường để đến nơi. Như có thêm thứ gì đó đè từ bên ngoài xuống. Nó không đau, cũng không thấy tê hoàn toàn mà chỉ là nặng và kỳ lạ như ai đó đã tháo từng phần cơ thể cô ra rồi gắn lại vài chỗ không đúng chỗ cũ. Lồng ngực cô cũng vậy, và hai bên hông cô cũng vậy, mỗi nhịp thở máy đẩy vào cô lại cảm được thứ gì đó phía dưới sườn nhắc cô rằng có nhiều thứ hơn cô nghĩ đang neo cô xuống tấm nệm này.
Cô thử xoay đầu. Có thứ gì đó giật nhẹ lại từ phía sau, ống hay dây hay cả hai, cô không rõ. Cô dừng lại.
Cạnh giường, một người phụ nữ mặc đồng phục trắng đứng xoay lưng về phía cô, đầu cúi xuống bảng kẹp hồ sơ. Tay bà viết gì đó theo nhịp thong thả của người không biết có ai đang nhìn mình. Rồi cô nhận ra thứ gì đó đang ở trong miệng mình.
Không biết tại sao lại mất lâu đến vậy. Có thứ gì đó nằm trong cổ họng cô, đi thẳng vào bên trong theo một đường không có góc cua, to và cứng. Mỗi khi máy bơm vào một nhịp cô cảm thấy được không khí đi qua thứ ống đó chứ không qua bất cứ thứ gì cô tự có. Cô cố khép miệng. Không được. Thứ ống giữ hàm cô hé ra đúng một khoảng không nhiều không ít và không chịu nhả dù cô dùng hết lực ở cằm.
Lưỡi cô đẩy nhẹ vào thành ống nhưng nó không nhúc nhích lấy một lần. Tay cô giơ lên một cách chậm và vụng về, chạm vào lưng người phụ nữ đứng cạnh. Bà ấy giật nẩy người một cái nhẹ. Bảng kẹp hồ sơ lật một góc trên tay bà khi bà quay lại, mắt mở to trong đúng một giây rồi thu lại ngay. Bà đặt ngón tay lên nút gọi trên thành giường và nhấn xuống.
Không đến hai phút, thêm hai người nữa bước vào, đồng phục trắng, bước nhanh nhưng không chạy. Người đứng phía đầu giường cúi xuống nhìn thẳng vào mặt cô.
“Em nghe thấy chị nói không?”
Cô chớp mắt một cái.
“Tốt lắm.”
Giọng cô bình tĩnh và rõ từng chữ.
“Ca mổ của em đã xong và thành công rồi. Bây giờ em đang được máy thở hỗ trợ, cái em đang cảm thấy trong miệng là ống thở, em không được cố rút ra hay đẩy ra bằng lưỡi nhé.”
Cô nhìn người phụ nữ ấy, lắng nghe từng lời mà cô ta nói.
“Em chưa nói được trong khi ống còn đó. Gật đầu là có, lắc là không. Em hiểu không?”
Cô gật một cái nhẹ.
“Em có muốn chị cho ba mẹ vào không?”
Cô lại gật ngay một cái. Sau một lúc cửa phòng mở ra và người phụ nữ bước vào trước. Bà dừng lại ở ngưỡng cửa. Chỉ một nhịp thở, nhưng cô nhìn thấy. Thứ âm thanh nhỏ thoát ra từ cổ họng bà không phải khóc và không phải kêu lên, chỉ là hơi thở hít vào mà không hoàn toàn vào được.
Người đàn ông đứng sau đặt tay lên vai bà. Bà bước tiếp vào.
Bà kéo ghế sát lại và ngồi xuống, chân ghế chạm khung thành giường một tiếng kêu nhỏ bằng kim loại. Tay bà đặt lên mặt ga trắng, không chạm vào cô ngay, như bà đang tự hỏi chỗ nào là chỗ an toàn để đặt tay lên con gái mình lúc này.
“Con cảm thấy thế nào?”
Giọng bà khàn hơn cô nhớ. Cô gật đầu một cái nhẹ.
Người y tá đứng bên giải thích nhỏ, từng bước một, rằng phổi mới đang bắt đầu làm quen với cơ thể, rằng ống thở sẽ còn đó thêm một thời gian, rằng trong lúc này có cách khác để nói chuyện. Người y tá đặt vào tay người phụ nữ một tấm bảng nhỏ bằng nhựa cứng, trên đó là bảng âm tiết tiếng Nhật in trong từng ô vuông đều nhau.
Người phụ nữ nhìn tấm bảng trong tay một lúc, ngón cái vuốt nhẹ lên góc nhựa. Rồi đầu ngón tay cô chạm vào đầu gối bà. Nhẹ một cái, đủ để bà nhìn xuống. Cô gật về phía tấm bảng. Bà đặt bảng lên mặt ga trắng giữa hai người. Ngón trỏ bà di chuyển từ ô này sang ô kia, chậm và cẩn thận, nhìn lên nhìn xuống sau mỗi ký tự. Bà nhìn lên sau mỗi chữ. Cô chớp mắt hai lần mỗi khi đúng ký tự. Sau một lúc ngắn dòng chữ "Chào Buổi Sáng" hiện lên trên giấy.
Ở hai khóe miệng cô, hai bên chỗ ống thở áp vào da, có thứ gì đó nhích lên rất nhỏ. Người đàn ông đứng sau lưng bà hắng giọng một cái. Không ai nói thêm gì. Nhưng khi cô nhìn lên thì cả hai người đều đang nhìn cô, và trên khuôn mặt cả hai là nụ cười đầu tiên cô nhìn thấy kể từ khi vào căn phòng này.
Hai ngày sau.
Người y tá giải thích trước khi làm. Rằng cô sẽ cảm thấy muốn ho. Rằng khi nghe hiệu lệnh thở ra thì thở ra và không dừng giữa chừng. Cô gật đầu một cái, rồi người y tá đỡ cô dậy và ngồi tựa lưng vào đầu giường được nâng lên. Bên ngoài cửa sổ nhỏ cuối phòng có ánh sáng trắng của buổi sáng.
“Hít vào thật sâu. Rồi thở ra, đừng dừng.”
Cô hít vào. Rồi có cảm giác tụt. Dài và kỳ lạ, thứ ống rời khỏi cổ họng cô theo chiều ngược lại với chiều nó đã vào, kéo theo thứ cảm giác không có tên gọi nào thật sự vừa. Cô đột nhiên ho lên một tiếng theo phản xạ.
Rồi miệng cô giờ đã trống hoàn toàn. Người y tá đặt nhẹ sợi dây oxy nhỏ vào hai lỗ mũi cô, buộc vòng qua hai tai, và cô để yên. Cô giơ tay lên, giữ lòng bàn tay trước miệng cách một khoảng nhỏ rồi thở ra, hơi ấm chạm vào da tay, lan ra rồi tan vào không khí của buổi sáng. Cô nhìn bàn tay mình trong ánh nắng sớm.
Vài ngày sau, một người bác sĩ phục hồi chức năng đến vào buổi sáng. Ông đặt chiếc ghế đẩu thấp sát mép giường, kiểm tra phanh bánh xe một cái rồi quay sang cô.
“Hôm nay mình thử ngồi dậy trước nhé, Kiyora.”
Cô gật đầu một cái nhẹ.
Sau cái gật đầu ấy, ông đỡ lưng cô lên từng chút một, đầu giường được nâng dần trước đó từ mấy hôm rồi nhưng hôm nay cô đã ngồi thẳng được hoàn toàn. Máu trong người cô di chuyển theo trọng lực xuống phía dưới và cô cảm thấy đầu mình chậm lại một nhịp.
Ông vẫn ngồi yên ở đó cùng cô.
Khi thứ cảm giác đó qua đi, ông giúp cô xoay người, hai chân thõng xuống mép giường. Bàn chân chạm sàn, vải tất bệnh viện mỏng không che được cái lạnh của gạch men truyền lên. Cô nhìn xuống. Hai bàn chân đặt trên sàn, các ngón chân nằm yên và không cử động gì lấy một lần.
“Cháu sẵn sàng chưa?”
Cô nhìn lên thanh tay vịn gắn vào tường bên cạnh giường. Ông đã giải thích trước, rằng cô sẽ đặt hai tay lên đó và dồn lực đẩy người lên, rằng chân cô sẽ run và chuyện đó là bình thường, rằng ông sẽ đứng ngay bên cạnh. Cô đặt tay lên thanh vịn. Nhựa cứng và lạnh, trên bề mặt có gân chống trơn in vào lòng bàn tay.
Cô đẩy hai tay. Đôi chân cô phản hồi lại, nhưng chậm, như tín hiệu phải đi qua thứ gì đó dày hơn bình thường trước khi đến nơi. Cô cảm thấy các cơ đùi cố siết lại và không siết đủ, lực từ chân đẩy lên không bằng lực từ tay kéo xuống và cô chỉ đứng được đến nửa chừng, lưng còn cong, hai khuỷu tay gần như chịu hết trọng lượng.
Cô dừng lại ở đó. Không xuống, không lên thêm được.
Hai chân cô run nhẹ, người bác sĩ vẫn đứng đó và hai tay ông ta vẫn để hờ gần cô.
Cô đẩy lần nữa. Lần này tay và chân cùng lúc, cô cố dồn thêm lực từ đầu gối, và người cô nhích lên thêm được một chút, rồi thêm một chút nữa, cho đến khi hai chân duỗi thẳng ra và cô đứng thẳng được.
Nhưng hai tay vẫn bám chặt vào thanh vịn, các khớp ngón tay giờ đã trắng khớp. Đôi chân cô vẫn run rẩy. Cô nhìn xuống sàn, xuống hai bàn chân đang đứng trên đó, và cô giữ nguyên như vậy không biết trong bao lâu. Khi người bác sĩ bảo cô có thể ngồi xuống rồi, cô ngồi xuống từ từ. Lưng chạm vào đệm giường, hơi thở ra theo. Hai bắp chân vẫn còn run khẽ một lúc sau đó.
Ông ghi chép gì đó vào bảng của ông và nói ngày mai họ sẽ làm lại. Cô nhìn hai bàn tay mình. Vệt đỏ từ thanh vịn vẫn còn in trên lòng bàn tay, mờ dần theo từng nhịp thở.
Buổi chiều cùng ngày, một người khác đến. Một người phụ nữ với giọng nói nhỏ nhẹ và chậm rãi, đặt ghế ngồi ngay cạnh đầu giường. Bà giải thích ngắn gọn. Dây thanh âm cô bị giữ mở trong thời gian dài. Cơ xung quanh yếu đi. Hơi thở và âm thanh chưa phối hợp được với nhau. Sẽ mất thời gian.
“Mình bắt đầu đơn giản thôi. Em thử kêu một tiếng ừm, giữ càng lâu càng tốt.”
Cô nhìn bà một lúc rồi thử,, thứ thoát ra khỏi cổ họng cô không giống với thứ cô định tạo ra. Mỏng. Như sợi chỉ căng đến mức gần đứt, rung nhẹ một cái rồi mất đi trước khi cô kịp giữ nó lại. Âm thanh đứt giữa chừng và phòng trở về im lặng.
Cô nhìn thẳng lên trần.
“Không sao đâu… lại lần nữa nhé?”
Cô thử lần hai. Kết quả gần như y hệt, có thể dài hơn một chút, có thể không. Lần ba cũng vậy. Lần bốn âm thanh bắt đầu được nhưng vỡ ra ở giữa như thứ gì đó bên trong không đủ sức giữ cho nó liền mạch. Cô nghe tiếng mình phát ra, nghe chỗ nó gãy, và biết đó là chỗ mình vừa không đủ.
Khóe miệng cô siết lại một chút. Người phụ nữ đã nhìn vào khuôn mặt cô từ nãy, khuôn mặt bà dãn ra rồi nói tiếp.
“Em thử hít vào trước. Hít thật sâu. Rồi mới tạo tiếng.”
Cô hít vào. Lồng ngực nở ra theo cách mà vài tháng trước không thể xảy ra và bây giờ vẫn còn khiến cô mất một nhịp mỗi khi nhận ra nó. Không khí xuống đến tận đáy, chỗ mà trước đây không khí không bao giờ tới được. Rồi cô kêu.
Lần này âm thanh kéo dài hơn. Vẫn mỏng, vẫn run rẩy nhưng nó không đứt ngay. Nó ở lại được thêm vài giây trước khi tan ra. Bà ghi vào quyển sổ của bà.
Cô nằm nhìn lên trần sau khi bà về. Cổ họng cô mỏi theo cách cô chưa từng biết cổ họng có thể mỏi. Cô nuốt nước bọt một cái, khẽ thôi, và cảm nhận từng lớp cơ ở đó đang cần được nghỉ ngơi.
Ngoài cửa sổ cuối phòng, ánh sáng buổi chiều bắt đầu đổi màu. Đêm đó lạnh thấm qua từng kẽ hở của chăn, len vào chỗ hai đầu gối chạm nhau và nằm yên ở đó. Cô co người lại, kẹp tay vào giữa đùi. Bàn chân vẫn lạnh. Ánh đèn hành lang hắt vào qua khe cửa, vàng và hẹp. Thỉnh thoảng có tiếng dép lê trên gạch men, tiếng bánh xe đẩy lăn qua rồi mất đi. Cô nhìn vệt sáng đó cho đến khi không còn nhìn nữa.
Sáng ra mẹ cô đến sớm hơn thường ngày.
Bà đặt túi xuống ghế rồi nhìn cô, ánh mắt đi từ mặt xuống tay rồi dừng lại ở chỗ hai bàn tay cô đang kẹp dưới chăn. Bà lấy trong túi ra một cái mũ len màu xám, loại mũ trùm đầu có gấu cuộn lên hai lần. Cô chưa kịp cử động thì bà đã đặt lên đầu cô, kéo xuống che hai tai, chỉnh một bên đang lệch sang phải.
“Đêm qua lạnh không con?”
Kiyora gật đầu một cái nhẹ. Bà ngồi xuống mép giường, tay bà kéo chăn sang một bên để lộ đôi chân cô dưới lớp tất len mỏng. Bà đặt hai lòng bàn tay lên bắp chân cô, ép sát xuống rồi xoa theo chiều dọc từ đầu gối xuống mắt cá rồi lại lên. Chậm và đều. Cô nhìn lên trần.
Hai bắp chân cô nằm gọn trong lòng bàn tay bà. Cô liếc xuống một lần rồi nhìn đi chỗ khác. Tay bà vẫn xoa. Bên ngoài cửa sổ trời bắt đầu sáng hơn, thứ ánh sáng ấm áp chạy qua căn phòng nhỏ và vào khuôn mặt cô.
Người bác sĩ gõ vào khung cửa. Bà đặt chân cô xuống, kéo chăn lên, rồi lùi vào góc phòng ngồi xuống chiếc ghế nhựa cạnh tường.
Hôm đó cô đứng được lâu hơn hôm trước.
Những ngày tiếp theo đến và qua theo cách của những ngày đó. Buổi sáng với thanh vịn và bàn chân đang học lại cách chịu trọng lượng. Buổi chiều với cái giọng mỏng cứ đứt ngang ở chỗ cô chưa dặn trước. Cô tập đứng thêm vài giây mỗi ngày. Tập kéo dài âm thêm vài nhịp thở mỗi buổi. Hai bắp chân vẫn run khi chịu sức, chạy theo nhịp nhỏ riêng của từng cơ. Giọng cô vẫn gãy giữa câu, chỗ gãy mỗi lần một khác. Cô đứng thẳng người nhìn vào điểm cố định trên tường và thử lại.
Một buổi sáng cô đi được đến tận cửa phòng. Cô dừng lại ở đó, tay vẫn trên thanh vịn di động, nhìn ra hành lang trắng và thẳng và dài theo hai chiều rồi lại quay vào.
Vài ngày sau người bác sĩ mang đến cho cô một cây nạng chống bốn chân. Ông đặt nó vào tay cô, chỉnh chiều cao một lần, bảo thử đi vài bước. Bốn chân nhôm chạm sàn theo bốn điểm riêng biệt, tiếng kêu nhỏ và cứng. Cô phả dồn đè người sang bên cầm gậy trước rồi bước chân còn lại theo sau. Bước đầu tiên vụng về. Bước thứ hai cũng như vậy.
Co cứ bước tiếp, mẹ cô ngồi đó những buổi sáng đó, quyển tạp chí mở trên đùi nhưng đã quên đọc từ khi nào.
Rồi một buổi sáng cô đi được đến cuối hành lang tầng này. Cô dừng lại. Cái gậy bốn chân đứng vững trên gạch men. Đầu gối cô muốn run nhưng cô vẫn đứng đó. Người bác sĩ đứng cách cô hai bước. Đèn huỳnh quang trên trần trắng đều từ đầu đến cuối. Cô đứng đó một lúc rồi quay người lại rồi đi về phòng.
Hành lang từ cuối trở về dường như xa hơn hành lang từ đầu đi ra. Bốn chân gậy chạm sàn theo nhịp quen thuộc, cô đặt từng bước một, mắt nhìn xuống chỗ gậy chạm gạch rồi nhìn lên rồi lại nhìn xuống. Cô về đến phòng và ngồi xuống mép giường, hai đầu gối vẫn còn run một lúc sau đó.
Đêm đó trời sáng hơn thường ngày, ánh trăng lọt vào qua khe màng cửa và vẽ một vệt sáng dài trên sàn gạch men từ cửa sổ đến chân giường cô soi sáng căn phòng một chút. Cô nằm nhìn vệt sáng đó, nhìn nó mà không nhúc nhích, nhìn cho đến khi đồng hồ trên tường chỉ ba giờ kém mười lăm.
Mẹ cô ngủ trên chiếc ghế nhựa cạnh tường, đầu nghiêng sang một bên, tay vẫn đặt trên quyển tạp chí gập lại trên đùi. Hơi thở bà đều và chậm. Cô nhìn mặt bà một lúc, nhìn cái cách bà ngủ trên ghế không phải giường theo kiểu người đã ngủ như vậy nhiều lần rồi và không còn thấy khó chịu nữa.
Cô dịch người sang một bên. Từ từ. Để hai chân xuống mép giường rồi dừng lại, lắng nghe. Tiếng thở của mẹ cô vẫn đều. Cô với tay lấy cái gậy bốn chân dựng cạnh đầu giường, ngón tay siết vào tay cầm.
Rồi cô đứng dậy.
Chậm hơn ban ngày một chút, đôi chân như vẫn còn đang ngủ, nó tê nhẹ từ mắt cá lên đến bắp chân. Cô đứng yên một giây cho người quen với thẳng đứng rồi nhích từng bước về phía cửa. Bốn chân gậy chạm sàn khẽ, cô cố giảm lực xuống từng chút một. Tay kia cô đẩy cửa phòng ra, chậm, dừng lại ở chỗ bản lề bắt đầu kêu, rồi lách người qua khe nhỏ đó.
Cô kéo cửa lại sau lưng.
Hành lang về đêm trắng hơn ban ngày. Đèn tiết kiệm điện gắn sát trần tỏa ra thứ ánh sáng xanh nhạt đều khắp cả hành lang, không có lấy một cái bóng. Giờ này chẳng có ai cả. Chỉ còn tiếng máy móc từ căn phòng nào đó vọng ra và tiếng nạng của cô chạm gạch theo từng bước.
Với mỗi bước đi đôi chân cô trở nên tê hơn một chút . Cô đi qua cửa phòng mình, qua mấy cửa phòng khác, qua bảng thông báo dán đầy tờ giấy không ai đọc về đêm, qua trạm y tá trống với màn hình máy tính sáng một mình. Hành lang rẽ sang trái ở phía trước. Hồi chiều cô đã đến đúng chỗ đó rồi quay lại. Lần này cô vẫn tiếp tục đi.
Đến gần góc rẽ thì chân cô nặng hơn. Cô dừng lại, tựa người vào tường, dồn lực xuống cái gậy. Lồng ngực cô lên xuống mấy nhịp. Ánh đèn trên trần vẫn xanh nhạt và đều. Cô hít vào một hơi, hít đến tận đáy theo cách cô vẫn còn đang quen với việc có thể làm vậy, rồi đẩy người ra khỏi tường và rẽ vào góc hành lang.
Cái gậy bốn chân của cô bay khỏi tay cô trước khi cô kịp hiểu chuyện gì xảy ra.
Có thứ gì đó đập vào chân gậy từ phía trước, một lực đủ mạnh để bẻ gãy điểm tựa duy nhất cô đang có, và người cô đổ về phía trước theo quán tính. Trong khoảnh khắc đó cô thấy sắc trắng của bộ đồng phục và bóng người cao hơn cô nhiều đang ôm một chồng hộp giấy, thấy chồng hộp đó bắt đầu rơi xuống theo từng cái một khi cậu ta thả tay ra, thấy bàn tay cậu ta vươn ra phía cô trong cùng lúc những cái hộp rơi, ngón tay xòe ra, khoảng cách giữa bàn tay đó và cánh tay cô thu lại trong một phần giây.
Bàn tay đó trượt qua vai cô.
Cô chộp được thanh tay vịn trên tường bằng tay phải. Lòng bàn tay cô siết chặt vào nhựa cứng, cả cánh tay cô giật lại theo lực, vai cô xoay vào tường. Cô đứng được. Hai tay bám vào thanh vịn, một tay rồi cả hai, đầu gối cô run theo nhịp nhanh và liên tục.
Cậu thanh niên đứng trước mặt cô giữa đống hộp vương vãi trên sàn, cậu ta nhanh chóng cúi xuống nhặt cái gậy bốn chân trước, đứng dậy rồi đưa về phía cô. Cậu đỡ một tay vào khuỷu tay cô và giúp cô vào đúng tư thế, bốn chân gậy chạm sàn theo bốn điểm dưới đất. Rồi cậu ta cúi xuống, cúi thẳng người, sâu đến mức cái thẻ tên đeo trên túi ngực chạm vào mặt sàn và kêu một tiếng nhỏ.
“Tôi thành thật xin lỗi, mong cô có thể tha thứ cho tôi!”
Cô nhìn xuống đỉnh đầu cậu ta.
“Không không, em không sao mà… anh đừng làm vậy chứ…”
Cậu ta ngẩng lên. Cô thấy mặt cậu ta lần đầu, còn trẻ, chắc chưa đến hai lăm, vầng trán còn hằn vết đỏ từ mấy cái thùng vừa chạm sàn. Cô liếc xuống cái thẻ đó. Chữ thực tập sinh in nhỏ bên dưới tên. Cô với tay về phía mấy cái hộp trên sàn. Cậu ta lùi lại một bước, hai tay xòe ra chặn ngang.
“Không, không. Cứ để tôi.”
Cậu ta cúi xuống thu lại từng chiếc hộp một cách vội vã, cậu xếp chồng chúng lên nhau rồi đứng dậy, cúi đầu thêm một lần nữa ngắn hơn lần trước rồi bước đi theo hướng cậu ta đến, bước nhanh đến mức gần như chạy, tiếng dép cậu ta đánh vào gạch men kêu dồn rồi tắt ở góc hành lang.
Cô đứng lại đó một mình.
Ánh đèn xanh nhạt trên trần vẫn vậy. Cô nhìn về phía góc hành lang cậu ta vừa mất hút. Rồi cô nhớ ra mái tóc đó, nhìn thấy nó đúng một giây trước khi cậu ta rẽ vào góc, kiểu tóc xoắn và bù xù theo cách của người không thèm chải hoặc không nhớ ra mà chải. Như một cái tổ chim vậy.
Khóe môi cô nhích lên, cô đưa một tay lên rồi đặt mu bàn tay vào miệng. Cô hắng giọng một cái nhỏ và nhìn về phía trước. Rồi cô tiếp tục đi.
Hành lang rẽ thêm một lần nữa ở phía sau trạm y tá, mở ra một khoảng rộng hơn với dãy ghế nhựa kê dọc tường. Cô đến đó và ngồi xuống một cái ghế ở giữa, đặt gậy tựa vào đùi. Ánh trăng không vào được đến đây nhưng cửa sổ cuối khoảng rộng đó nhìn ra khoảng sân trong của bệnh viện, cây trong sân đứng yên dưới ánh trăng.
Cô ngồi đó một lúc rồi lại đứng dậy và đi về.
Đồng hồ trên tường phòng cô chỉ bốn giờ ba mươi chín phút khi cô kéo cửa vào. Mẹ cô vẫn ngủ trên ghế, đầu vẫn nghiêng sang một bên, quyển tạp chí vẫn trên đùi. Cô nằm xuống, kéo chăn lên, nhìn vệt trăng trên sàn đã dịch sang một góc khác so với lúc cô đi.
Vài tháng sau.
Mẹ cô kéo dây kéo của chiếc túi nhỏ lên, hai tay giữ chặt hai đầu khóa rồi kéo dứt khoát một cái. Cô đứng ở ngưỡng cửa phòng, tay phải cầm cây gậy nhôm ấy, người mặc bộ đồ mà mẹ mua cho tuần trước, áo len mỏng màu kem và quần dài tối màu, thứ quần áo không phải đồng phục bệnh viện nhưng vẫn đủ rộng để không chạm vào bất cứ chỗ nào còn đang lành.
“Để con được không mẹ?”
Giọng cô vẫn còn khàn ở đuôi câu, loại khàn nhẹ của người vừa bước qua một thứ gì đó và chưa hoàn toàn ra khỏi nó. Mẹ cô quay lại nhìn cô một cái rồi lắc đầu.
“Không sao đâu, con nghỉ thêm tí đi. Đường về nhà xa lắm đấy.”
Cô gật đầu. Ngồi xuống mép giường, tay kéo con thỏ bông đang nằm trên chăn vào lòng, hai ngón tay cái đặt lên bụng nó. Vải bông đã mềm theo kiểu chỉ có thứ bị cầm nhiều lần mới mềm được như vậy. Cô ngồi yên trong khi mẹ cô tiếp tục đi lại giữa tủ và cái túi lớn trên sàn, gấp từng thứ một theo cách bà đã làm nhiều lần đến mức không cần nhìn nữa.
Khi ra đến cửa phòng, cô cầm cái túi nhỏ, móc con thỏ lên vòng đai, con thỏ lắc một cái rồi đứng yên. Cô đi ngang qua tấm bảng tên gắn ngoài cửa. Trên đó in hai hàng chữ nhỏ, hàng trên là số phòng, hàng dưới là tên cô. Mizushima Kiyora. Cô nhìn nó đúng một nhịp bước rồi đi tiếp.
Trên xe, cô ngồi ở ghế sau, vai tựa vào cửa kính. Bên ngoài cửa sổ, đường phố chạy qua theo chiều ngược lại. Biển hiệu cửa hàng, đèn giao thông, người đi bộ chờ sang đường, một người đàn ông dắt xe đạp đứng bên lề, một đứa trẻ kéo tay mẹ chỉ vào thứ gì đó trong tủ kính. Cô nhìn từng thứ đó như nhìn thứ gì đó lần đầu tiên dù cô biết mình đã từng thấy chúng trước đây. Mẹ cô ngồi bên cạnh, tay bà đặt lên tay cô và giữ yên ở đó.
Cô không rút tay lại.
Khi về đến nhà, cả căn nhà quen mà lạ theo cách cô không có từ nào cho nó. Căn bếp có hai chiếc ghế đẩu kê sát bàn ăn, mặt bàn còn vết khoanh tròn mờ của ly nước để lâu ngày. Trên kệ chỉ có tô lớn xếp chồng lên nhau, loại tô sâu lòng dùng để đựng cháo hoặc súp. Cái máy xay thức ăn vẫn đứng ở góc bếp, nắp đậy hé ra một bên, bên trong còn hằn vết trắng của thứ gì đó đã xay từ lâu và chưa được rửa kỹ.
Cô đứng nhìn cái máy đó một lúc rồi đi vào phòng mình.
Căn phòng nhỏ hơn cô nhớ, hoặc cô đã quen với khoảng rộng của hành lang bệnh viện rồi. Cái máy lọc oxy đứng ở góc tường, thân máy màu trắng ngả vàng theo thời gian, ống dẫn khí cuộn quanh thân máy và buộc lại bằng sợi dây vải nhỏ. Bên cạnh nó là cái giá treo túi dịch truyền đã được gấp lại, chân giá xếp khít vào nhau. Trên bàn cạnh giường có bình đun nước nóng, màn hình hiển thị nhiệt độ vẫn sáng dù không ai bật. Cô đặt túi xuống sàn, cạnh chân giường, rồi ngồi xuống.
Đệm mềm hơn cô nhớ.
Cô ngồi yên một lúc, tay đặt trên đùi. Rồi cô nằm xuống, để hai tay dọc theo người, lòng bàn tay ngửa lên trần. Cả căn phòng chìm vào sự im lặng. Cô lắng nghe hơi thở của mình lên xuống, nghe không khí vào và ra theo nhịp mà cô không cần điều khiển. Tay phải cô nhích lên, đặt lên ngực, rồi xuống thêm một chút, đến chỗ vạt áo che lại. Ngón tay cô đặt nhẹ xuống.
Cơn đau nhói lên ngay, không mạnh nhưng đủ để cô rút tay ra.
Cô để tay xuống bên hông, nhìn lên trần nhà. Trần nhà ở đây có một vết ố nước nhỏ ở góc trái mà cô không nhớ là đã ở đó từ bao giờ. Nắng chiều bắt đầu nghiêng vào qua khe rèm, vẽ một vệt vàng dài trên tường đối diện.
Bỗng từ bên ngoài cửa sổ có tiếng cười vọng vào.
Cô trở người ngồi dậy, một tay chống xuống đệm, tay kia với lấy thành giường. Đứng lên, bước đến cửa sổ theo từng bước ngắn, một tay chạm vào mặt bàn, rồi tay kia chạm vào tường, rồi đến khung cửa sổ. Cô đứng đó và nhìn xuống.
Trên vỉa hè phía dưới có ba đứa học sinh đang đi theo hàng ngang, đồng phục trắng xanh còn thẳng nếp của buổi sáng nhưng cà vạt của đứa con trai lệch sang một bên. Cậu ta đeo hai chiếc ba lô, một trên vai phải và một trên vai trái đang đi hơi nghiêng người sang một phía vì trọng lượng không đều. Đứa con gái đi cạnh đang cười, miệng mở to theo kiểu không cần giữ ý. Đứa còn lại đá một hòn đá nhỏ trên vỉa hè, theo dõi nó lăn đến rãnh thoát nước rồi mất hút.
Cô đứng nhìn cho đến khi cả ba rẽ vào góc phố và đường vắng trở lại. Cô quay vào, bước trở về giường theo đúng những điểm tựa cũ, thành giường rồi tường rồi mặt bàn. Nằm xuống. Nhìn lên trần.
Không có tiếng máy thở. Không có tiếng bánh xe đẩy lăn trên gạch men. Không có tiếng bước chân gấp gáp ngoài hành lang. Không có giọng người lạ vọng qua cửa.
Từ phía bếp có tiếng bố mẹ cô nói chuyện với nhau, giọng thấp và bình thường, câu nọ đáp câu kia theo nhịp của người đang làm việc gì đó mà không cần nhìn nhau. Mùi dầu ăn nóng và thức ăn bắt đầu lan vào đến phòng cô.
Kiyora nhắm mắt lại.
Mùi đậm dần rồi dịu xuống khi mẹ cô trở tay đảo chảo. Tiếng dầu xèo nhỏ lại. Ngoài cửa sổ bếp có tiếng xe chạy qua rồi xa dần. Cô nằm yên nghe những âm thanh đó cho đến khi không còn phân biệt được mình đang nghe hay đang ngủ nữa.
Chiều hôm sau cô ra đứng ở cửa bếp.
Không có chiếc ghế nào gần đó để ngồi xuống nên cô đứng đó, một tay giữ khung cửa, cái gậy bốn chân đặt sát vào tường bên phải. Mẹ cô đang thái rau ở thớt gỗ cạnh bồn rửa, tiếng dao đập xuống đều theo nhịp, từng nhát gọn và dứt khoát. Cô nhìn bà làm mà không nói gì. Khi bà với tay lên kệ lấy hũ muối thì cô đã với tay lên trước, đưa hũ muối qua. Bà nhận lấy, không nhìn lại, tiếp tục thái.
Lúc bà cần cái rổ trên móc thì cô lấy xuống đưa.
Lúc bà cần tô to thì cô lấy ra và chuyền cho bà.
Cô chỉ đứng đó và đưa thứ bà cần trước khi bà phải bước đến lấy. Hai người không nói chuyện nhiều trong bếp, chỉ thỉnh thoảng bà hỏi thứ này để đâu, thứ kia còn không và cô trả lời ngắn gọn với mỗi câu. Nhưng cô đứng đó từ khi bà bắt đầu nấu cho đến khi nồi đầu tiên lên bếp và mùi thức ăn bắt đầu lan ra khắp căn bếp nhỏ.
Tiếng chìa khóa lách cách ngoài cửa chính, rồi tiếng cửa mở.
“Bố về rồi đây.”
Cô với tay lấy cái gậy bốn chân, bước ra khỏi bếp, đi qua phòng khách đến chỗ nhìn ra cửa chính. Bố cô đang cúi xuống tháo giày, áo sơ mi còn nguyên ve cổ nhưng tay áo đã xắn lên đến khuỷu.
“Mừng bố đã về.”
Ông ngẩng đầu lên nhìn cô, miệng mím lại theo kiểu ông hay làm khi đang kiềm một thứ gì đó không để ra mặt, rồi gật đầu một cái. Mẹ cô từ bếp bước ra, lau tay vào chiếc khăn vắt trên vai.
“Kiyora, con vào đảo chảo một chút cho mẹ, lửa vậy là được rồi nên đừng đụng vào nhé.”
Cô quay vào bếp. Cầm cái giá lên, nghiêng người xuống nhìn chảo. Dầu đang sôi lăn tăn ở đáy, bên trên còn chút thịt vẫn chưa chín đều. Cô đảo một vòng theo thành chảo, rồi đảo thêm một vòng nữa.
Bỗng bên trong chảo nổ một cái.
Một giọt dầu bắn lên mu bàn tay phải cô, làm cô giật tay lại. Cái giá xúc rơi xuống sàn bếp, tiếng kêu bằng kim loại nghe to hơn cô nghĩ Cô đứng yên một giây, tay phải ôm vào ngực rồi nhìn xuống cái giá xúc nằm trên gạch men. Cô cúi xuống, đầu gối cô không muốn gập đủ, cô cúi thấp hơn một chút nữa, ngón tay chạm được cán của cái giá ấy nhưng không nhặt lên được vì góc người không đủ. Cô thử lại, lần này đổi tay, tay trái chống vào đùi và tay phải với xuống, ngón tay kẹp lấy cán cái giá ấy rồi kéo lên.
Cô đứng thẳng dậy, bước sang bồn rửa, mở vòi. Chảo vẫn đang xèo trên bếp. Cô rửa nó một cách nhanh chóng rồi lau vào khăn giấy rồi quay lại đảo tiếp. Mu bàn tay phải đỏ một chấm nhỏ, cô nhìn nó một lần rồi nhìn vào chảo.
Bữa tối dọn ra khi trời vừa sẩm tối.
Ba người ngồi quanh cái bàn ăn có hai chiếc ghế đẩu và một chiếc ghế có lưng tựa dành cho cô, hơi nước bốc lên từ nồi cơm. Bố cô xới cơm, mẹ cô múc canh ra từng chén nhỏ, cô ngồi yên chờ. Họ ăn mà không nói nhiều, chỉ thỉnh thoảng mẹ cô hỏi mặn không, có cần thêm không, bố cô gật hoặc lắc.
Gần cuối bữa, bố cô đặt đũa xuống, cúi người xuống dưới gầm bàn. Ông lấy ra một thứ gì đó dài, bọc trong giấy nâu quấn mấy vòng và buộc lại bằng sợi dây gai. Ông đặt lên mặt bàn, đẩy về phía cô. Cô nhìn ông một cái. Ông nhìn vào cái tô canh trước mặt.
Cô mở giấy ra. Lớp giấy ngoài bong ra từng mảng, lộ ra cái cán gỗ màu nâu sẫm bên trong. Cô kéo hết giấy ra, đặt lên mặt bàn. Cây gậy nằm trên nền giấy nhàu, nó được làm từ gỗ sồi tối màu, đầu cán cong vừa tay và có một sợi dây vải nhỏ buộc thành vòng ở cổ tay treo lủng lẳng dưới cán. Cô cầm lên bằng hai tay.
Gỗ ấm hơn cô tưởng. Nặng hơn cái gậy nhôm theo cách dễ chịu, nặng theo kiểu của thứ được làm để dùng lâu. Cô đặt ngón cái lên thân gậy, kéo nhẹ dọc theo chiều thớ gỗ, cảm nhận từng đường vân nổi lên dưới da. Sợi dây vòng cổ tay cô thử luồn vào một lần, để nó nằm quanh cổ tay, cây gậy lơ lửng theo.
Cô nhìn lên.
“Cảm ơn bố ạ.”
Bố cô gật đầu một cái nhỏ rồi cầm đũa lên.
Những ngày sau đó cứ thế nhanh chóng trôi qua.
Buổi sáng Kiyora thức dậy trước khi mẹ cô gọi, nằm nhìn trần nhà một lúc rồi ngồi dậy. Cây gậy sồi dựng cạnh đầu giường, cô cầm lấy theo thói quen đang dần hình thành, ngón tay khép vào cán gỗ theo chỗ quen dần mỗi ngày. Cô đi ra bếp, đứng ở cửa bếp cho đến khi có thứ gì cần đưa thì đưa. Buổi trưa cô ngồi ở bàn ăn với quyển sách hoặc không có gì, nhìn ra cửa sổ phòng khách. Buổi chiều đôi khi mẹ cô rủ ra ngoài, đi bộ một đoạn ngắn quanh khu phố, cô đi theo với cây gậy sồi chạm vỉa hè theo từng bước.
Khoảng cách cô đi được mỗi ngày dài thêm một chút, một hôm cô đi qua khỏi cái cột điện đầu ngõ rồi thấy còn đi được thêm thì cứ đi. Hôm sau cô đi đến đầu phố. Hôm sau nữa cô rẽ sang con đường bên cạnh. Chân cô không còn tê như hồi mới về nhưng vẫn mỏi sau khoảng nửa tiếng và luôn quay về trước khi cơ thể cô thấy mệt hơn.
Giọng cô dần ổn định hơn, không còn khàn ở cuối câu nữa, chỉ thỉnh thoảng vào buổi sáng sớm khi vừa thức dậy thì còn hơi mỏng. Cô hay nói chuyện với mẹ cô trong bếp, nói những thứ nhỏ, hỏi thứ này nấu bao lâu, thứ kia mua ở đâu.
Một buổi tối cô ngồi xem tivi với bố mẹ.
Chương trình đang chiếu là một bản tin du lịch, người dẫn chương trình đứng trước một cảnh quan nào đó với tuyết trắng phía sau. Cô ngồi trên ghế sofa, tay đặt lên đùi, mắt nhìn màn hình theo kiểu nhìn mà không thực sự xem. Rồi người dẫn chương trình nói một từ.
Hokkaido.
Cô không cử động.
Màn hình chuyển cảnh sang một con phố có đèn lồng đỏ treo hai bên, tiếng nhạc nền thay đổi, người dẫn chương trình tiếp tục nói. Bố cô nói gì đó nhỏ về thời tiết ở đó. Mẹ cô ừ một tiếng. Cô vẫn nhìn màn hình, hai tay vẫn đặt trên đùi. Một lúc sau cô nói mình hơi mệt và đi vào phòng.
Sáng thứ Bảy bố cô dậy sớm nhất.
Tiếng ông đi lại trong bếp vọng vào phòng cô từ trước khi cô mở mắt, tiếng tủ lạnh mở rồi đóng, tiếng cốc đặt xuống bàn. Kiyora nằm nhìn trần nhà nghe những âm thanh đó sắp xếp lại thành buổi sáng rồi ngồi dậy, cầm cây gậy sồi, bước ra ngoài. Bố cô đang đứng ở bếp uống trà, ông đã mặc áo khoác từ khi nào.
Họ ăn sáng xong trước tám giờ rồi xuống xe.
Con đường ra khu phố lớn quen thuộc theo kiểu của những con đường được đi nhiều lần, cô nhìn ra cửa kính và nhận ra từng khúc rẽ trước khi xe đến. Đèn đỏ ở ngã tư gần trường tiểu học. Tiệm bánh mì góc phố có tấm biển hiệu đỏ. Đoạn đường một chiều hẹp mà bố cô hay chửi khẽ mỗi khi có xe đậu sai làn. Kiyora nhìn những thứ đó qua kính và thấy mình đã không nhìn thấy chúng từ lâu lắm rồi mà không có cách nào biết là bao lâu.
Khu phố đông hơn cô nghĩ, đông hơn những gì cô thấy trên mạng.
Họ vào một tiệm đầu tiên bán đồ gia dụng, bố cô đi thẳng vào phía trong, mẹ cô đứng lại ở kệ gần cửa nhìn mấy cái hộp đựng thực phẩm. Kiyora đứng cạnh mẹ, cây gậy sồi chạm gạch men theo từng bước nhỏ khi bà đi từ kệ này sang kệ kia. Bà lấy một cái hộp lên xem, lật mặt dưới đọc xuất xứ, đặt xuống. Lấy cái khác. Đặt xuống. Kiyora đứng đó và đưa tay giữ mấy thứ bà cầm lên rồi đặt lại, không ai bảo, chỉ là khi tay bà đang bận thì tay cô ở đó.
Tiệm thứ hai bán quần áo trung niên, mẹ cô kéo cô vào theo.
Bà đi dọc theo thanh treo, tay vuốt qua từng cái móc áo, thỉnh thoảng rút một cái ra ngắm rồi đưa lên trước ngực Kiyora. Không phải để cô mặc thử, chỉ để áp vào xem màu với da cô có hợp không. Một cái áo khoác xanh đậm bà rút ra, giơ lên ngang vai cô, nghiêng đầu ngắm một lúc rồi lắc đầu trả lại thanh treo. Một cái áo len nâu nhạt, bà giơ lên, gật nhẹ rồi nhìn Kiyora.
Kiyora nhìn cái áo trong khi mẹ cô đặt nó vào giỏ.
Họ ra khỏi tiệm đó rồi đi dọc theo vỉa hè, bố cô đi trước một bước, mẹ cô đi cạnh Kiyora. Phố đông dần lên theo giờ, người đi ngược chiều đủ nhiều để Kiyora phải chú ý đến khoảng cách giữa mình và từng người một. Cây gậy sồi chạm vỉa hè theo nhịp của cô, cô giữ nó hơi nghiêng sang phải để không quệt vào chân người đi cạnh. Rồi cô nhìn thấy cái cửa tiệm đó.
Không to, không biển hiệu lớn, chỉ là một ô cửa kính với vài cái giá treo bên trong và ánh đèn vàng nhạt. Trên thanh treo gần cửa sổ có mấy cái váy yếm treo thành hàng, loại váy có quai chéo sau lưng, chân váy rơi đến dưới gối. Bên dưới mấy cái váy đó là một giá áo sơ mi dài tay xếp gọn theo màu.
“Mẹ, vào chỗ này được không?”
Mẹ cô nhìn vào cửa tiệm, nhìn cô, rồi gật đầu.
Bên trong nhỏ và yên tĩnh hơn ngoài phố, mùi vải mới và gỗ thoang thoảng. Kiyora đi dọc theo giá treo, ngón tay cô chạm nhẹ vào chân mấy cái váy khi đi qua, không dừng lại. Rồi cô dừng lại ở cái váy yếm màu xanh đậm gần cuối giá, chất vải dày và không bóng, đường may ở eo thẳng và gọn. Cô rút ra khỏi thanh treo, giơ lên ngang người.
Mẹ cô đứng phía sau nhìn.
Cô đặt váy vào giỏ rồi tiếp tục đi. Cô lấy thêm một cái áo sơ mi dài tay trắng từ giá áo, loại có cổ tay hơi phồng lên theo đường khâu vòng ở cổ tay. Cô giơ lên nhìn một lúc rồi đặt vào giỏ cùng với cái váy. Mẹ cô trả tiền ở quầy. Bố cô đứng ngoài cửa nhìn vào điện thoại.
Họ ra ngoài, túi giấy của tiệm đó mẹ cô cầm, tiếp tục đi dọc phố.
Trên đường về thì phố đông hơn lúc đi. Mẹ cô nắm tay Kiyora và đi cùng cô, cây gậy sồi ở tay kia chạm vỉa hè theo từng bước. Họ đi qua một tiệm bán đồ điện, một tiệm cắt tóc, một hàng bán bánh cuốn có khói bốc lên từ trong. Kiyora nhìn từng thứ đó đi qua mà không dừng lại.
Rồi cô dừng lại.
Mẹ cô giật nhẹ theo quán tính rồi quay lại nhìn cô. Kiyora đang nhìn vào cái sạp báo bên đường. Không phải toàn bộ cái sạp mà là một tờ tạp chí cắm nghiêng trên giá ngoài cùng, bìa in ảnh một con phố phủ tuyết, hai bên đường là những ngôi nhà mái thấp, phía xa có núi. Gió từ đầu phố thổi qua lật nhẹ mấy tờ bên trong, trang sách mở ra rồi khép lại rồi mở ra lần nữa, dừng lại ở một trang có ảnh chụp cảng biển sáng sớm, mặt nước phẳng và tối, vài chiếc tàu đánh cá đậu dọc theo bờ kè đá.
Kiyora nhìn vào trang giấy đó, cô nuốt nước bọt một cái khẽ. Mẹ cô nhìn tờ tạp chí rồi nhìn cô rồi nhìn lại tờ tạp chí. Bà bước đến sạp báo, rút tờ tạp chí ra, đưa cho người bán, trả tiền, nhét vào túi giấy của tiệm quần áo lúc nãy.
“Đi thôi con.”
Kiyora nhìn bà một cái rồi gật đầu. Họ tiếp tục đi. Tay mẹ cô vẫn nắm tay cô, phố vẫn đông, cây gậy sồi vẫn chạm vỉa hè theo từng bước. Kiyora nhìn thẳng về phía trước, hai má hơi lạnh vì gió, túi giấy đựng tờ tạp chí đung đưa theo tay mẹ cô ở phía bên kia.
Tối hôm ấy, cả căn phòng tối hoàn toàn trừ vệt sáng vàng nhạt từ đèn đường hắt vào qua khe rèm, vẽ một đường xiên dài trên sàn gỗ từ cửa sổ đến chân giường. Kiyora nằm nhìn lên trần, nhìn chỗ bóng tối đặc nhất ở góc phòng, nhắm mắt lại. Tiếng kim giây trên đồng hồ đầu giường chạy đều, từng nhịp một, nhỏ và liên tục trong cái im lặng của căn phòng.
Cô xoay người sang một bên.
Vệt sáng từ cửa sổ rơi vừa đúng lên mặt đồng hồ. Kim chỉ một giờ ba mươi bảy phút sáng. Cô nhìn nó một lúc rồi nhắm mắt lại, kéo chăn lên đến cằm. Tiếng kim giây vẫn chạy một cách đều đặn. Cô đếm nhẩm theo rồi thôi đếm rồi lại đếm, đôi mắt cô mở ra.
Kiyora với tay lấy đồng hồ, lật mặt sau, móng tay cô đẩy nắp pin ra. Viên pin trượt vào lòng bàn tay cô. Cô đặt cả hai thứ xuống bàn. Mặt đồng hồ dừng lại ở một giờ năm mươi ba phút.
Cả căn phòng im hơn trước.
Cô ngồi trên mép giường một lúc, hai bàn chân đặt xuống sàn gỗ lạnh. Rồi cô với lấy cây gậy chống, đứng dậy và đi từng bước ngắn qua vệt sáng của đèn đường về phía cái bàn nhỏ ở góc phòng. Hộp đựng thuốc tacrolimus nằm ở góc bàn, nắp nhựa đóng kín, bên cạnh là cái ly nước cô để sẵn mỗi tối. Tờ tạp chí nằm dưới hộp thuốc, bìa lật úp xuống mặt bàn.
Cô lấy tờ tạp chí ra.
Cô quay trở lại giường, không đi về phía cũ mà đi vòng sang phía bên kia, phía gần cửa sổ hơn. Ngồi xuống mép giường ở đó, lưng tựa vào thành giường, kéo chân lên. Vệt sáng từ đèn đường hắt vào vừa đủ để nhìn thấy trang giấy nếu cô nghiêng tờ tạp chí sang một góc nhất định.
Cô lật đến trang màhôm chiều đã dừng lại.
Là khung cảnh của cảng biển vài sáng sớm, mặt nước tối và phẳng lặng. Xa xa là những chiếc tàu đánh cá đậu dọc bờ kè đá theo hàng không thẳng hẳn, mỗi cái nghiêng một hướng nhỏ như thể đang thở. Phía xa là dãy nhà thấp ven cảng, cửa sổ còn tối, ống khói ai đó đã nhóm lên từ sớm. Bầu trời trong ảnh chưa sáng hẳn, cái màu giữa đêm và ngày mà không có tên gọi riêng.
Cô nhìn trang đó lâu hơn cần thiết.
Rồi cô lật thêm vài trang. Bài viết về Otaru, chữ nhỏ hai cột, ảnh minh họa là con kênh với những tòa nhà đá cũ hai bên. Một trang khác có lịch phà từ Niigata đi Otaru, in trong khung viền xanh nhạt, giờ khởi hành và giờ đến xếp thành hai cột dọc.
Cô nhìn cái bảng lịch đó.
Sau một lúc cô gấp tạp chí lại, ôm vào ngực, nằm xuống. Tờ tạp chí nằm trên ngực cô, gáy sách chạm vào cằm cô khi cô thở ra. Vệt sáng từ cửa sổ vẫn ở đó, nằm vắt ngang qua chăn. Cô nhìn lên trần nhà một lúc rồi mắt cô từ từ nhắm lại.
Năm giờ sáng cô đã ngồi ở bàn bếp.
Cây gậy sồi dựng vào thành ghế từ khi nào, tờ tạp chí đặt trên mặt bàn trước mặt cô, lật mở ở trang lịch của phà. Cô ngồi nhìn nó trong ánh đèn bếp vàng nhạt, hai tay đặt quanh cái ly nước ấm cô tự đun. Bên ngoài cửa sổ bếp trời còn tối, chỉ có ánh đèn đường chiếu qua cửa sổ.
Tiếng dép lê từ hành lang. Mẹ cô bước ra, tóc chưa chải, áo khoác mỏng mặc vội ra ngoài bộ đồ ngủ. Bà đi đến bếp, tay với lên công tắc đèn rồi dừng lại khi nhìn thấy cô ngồi ở bàn.
“Trời, con làm mẹ hết hồn. Ngồi đây từ lúc nào vậy?”
“Từ năm giờ sáng ạ”
Mẹ cô nhìn cô rồi nhìn xuống tờ tạp chí trên bàn rồi nhìn lại cô. Bà không hỏi về tờ tạp chí. Bà lấy ấm đun nước ra cắm điện, kéo ghế ngồi xuống đối diện với cô. Hai người ngồi yên trong tiếng ấm nước bắt đầu reo nhỏ, hơi nước mờ lên từ vòi. Kiyora đặt hai tay lên mặt bàn, ngón tay cô chạm nhẹ vào gáy tờ tạp chí gập.
“Mẹ, con muốn nói chuyện này với mẹ và bố ạ.”
Mẹ cô đứng dậy, lấy ấm nước xuống, rót vào hai cái ly, đặt một cái trước mặt cô. Bà ngồi xuống, tay quanh cái ly của mình, nhìn cô.
“Về chuyện gì?”
Kiyora đặt lòng bàn tay lên tờ tạp chí. Mẹ cô nhìn vào bàn tay cô một lúc rồi đứng dậy không nói gì, bước vào phòng trong. Cô nghe tiếng bà gọi khẽ, tiếng bố cô ừ một tiếng ngái ngủ, tiếng giường kẽo kẹt. Kiyora gập tờ tạp chí lại, để hai tay lên mặt bàn, nhìn ra cửa sổ bếp. Bầu trời ngoài đó đang chuyển từ xanh đậm sang xanh nhạt theo kiểu trời sắp sáng hẳn nhưng chưa sáng.
Bố cô ra sau, áo may ô và quần dài, đôi mắt ông vẫn còn hơi nhắm. Ông ngồi xuống ghế đối diện, kéo cái ly nước mẹ cô đặt sẵn lại gần. Mẹ cô đứng tựa vào mặt bếp, tay khoanh trước ngực.
“Con muốn đi Hokkaido ạ.”
Không ai nói gì. Mẹ cô quay sang nhìn bố cô. Bố cô nhìn cô, hai ngón tay gõ nhẹ một cái lên mặt bàn rồi dừng. Sau một khoảng lặng ngắn ông cất lời.
“Thế con định đi thế nào?”
Ngay khi bố cô còn chưa kịp nói hết câu, Kiyora đã ngay lập tức trả lời.
“Bằng xe và phà ạ. Con thấy người ta đi trên mạng rồi, mình đi từ từ cũng được. Con muốn đi cùng bố mẹ ạ.”
Bố cô gật đầu một cái chậm, kiểu gật của người đang sắp xếp thông tin trong đầu hơn là đồng ý. Ông nhìn sang vợ. Mẹ cô nhìn cô, hai tay vẫn khoanh.
“Kiyora, con vừa mới ra viện chưa được bao lâu.”
“Dạ, con biết mà mẹ.”
Từ đây đến Hokkaido xa lắm. Đường đi mệt. Lỡ giữa đường con có gì thì sao.”
“Thì mình dừng lại ạ. Mình đặt khách sạn dọc đường trước, mình đâu có cần đi một mạch đâu mà.”
Mẹ cô nhìn cô theo cách bà hay nhìn, ánh mắt đi từ mặt cô xuống tay cô đặt trên bàn rồi lên lại, như bà đang đọc thứ gì đó mà cô không nói ra. Căn bếp im, chỉ có tiếng tủ lạnh chạy đều và tiếng xe máy đầu ngõ thỉnh thoảng vọng vào rồi mất đi.
“Con có biết khi đi xa sẽ khó có thể canh giờ uống thuốc lắm không.”
“Dạ, con biết mà. Con sẽ để chuông báo.”
“Với lại con muốn đi làm gì ở đó mà nhất định phải đi như vậy?”
Kiyora nhìn tờ tạp chí gập trên bàn. Cô không mở ra, những đầu ngón tay cô co lại trrong khi đôi môi cô mím nhẹ rồi lại thả ra.
“Con muốn thấy chỗ đó ạ.”
Mẹ cô không nói gì. Bà nhìn tờ tạp chí rồi nhìn lên cô, miệng mím lại theo cách bà hay làm khi đang giữ một thứ gì đó chưa muốn để ra.
Bố cô đặt ly nước xuống.
“Bố hiểu rồi.”
Mẹ cô quay sang nhìn ông.
“Anh! Anh nói gì vậy?”
Ông nhìn thẳng vào mắt bà.
“Em thấy con đi lại thế nào mấy tháng nay rồi.”
Bà nhìn ông một lúc. Rồi bà nhìn xuống mặt bàn, tay bà với lấy cái ly của mình, xoay một vòng rồi để yên. Bố cô không nói thêm, chỉ ngồi đó, hai tay đặt trên đùi, chờ.
“Mẹ.”
Bà nhìn lên. Kiyora giờ đây nhìn thẳng vào mắt bà. Giọng cô không cao hơn bình thường, không có gì trong đó khác với mọi khi, không cứng và cũng không xin xỏ.
“Con muốn thấy thứ con chưa thấy bao giờ ạ.”
Mẹ cô nhìn cô. Nhìn lâu hơn mọi lần, ánh mắt bà đi qua mặt cô theo cách chậm và kỹ, như bà đang tìm thứ gì đó và đang tìm thấy nó. Căn bếp yên tĩnh. Bên ngoài cửa sổ trời đã bắt đầu sáng thật sự, màu xanh nhạt đổi sang vàng nhạt ở đường chân trời phía xa. Bà đặt tay xuống mặt bàn.
“Thôi được.”
Bà đứng dậy, bước đến tủ, lấy cái nồi ra đặt lên bếp. Giọng bà vẫn bình thường, tay bà mở vòi nước vào nồi, lưng quay về phía bàn.
“Mình đặt khách sạn loại tốt. Phòng phải rộng, không được lấy phòng chật. Con uống thuốc đúng giờ, không được quên dù một bữa. Ta sẽ đi tái khám trước rồi mới tính tiếp.”
“Dạ.”
Bà lại tiếp tục trong khi làm gì đó mà không quay lưng lại.
“Còn nữa, nếu đi dọc đường có mệt thì nói, không được cố nghe chưa?”
“Dạ, con biết rồi ạ.”
Tiếng nước chảy vào nồi lấp đầy căn bếp. Bố cô nhìn Kiyora. Khóe miệng ông nhích lên một chút theo kiểu ông hay làm, kiểu không hẳn là cười mà cũng không phải không cười. Ông đứng dậy, dép lê trên sàn gỗ, đi vào phòng trong, tiếng bước chân nhỏ dần rồi mất.
Kiyora nhìn xuống tờ tạp chí trên bàn.
Cô không kìm được. Nụ cười bắt đầu từ khóe miệng trái rồi lan sang phải, cô đưa tay lên định che lại nhưng không kịp và cũng không cần, vì bố cô đã vào phòng và mẹ cô đang đứng xoay lưng ở bếp và tiếng nước vẫn chảy đều và căn bếp nhỏ đang từ từ sáng lên theo buổi sáng bên ngoài.
Vài ngày sau, khi trời ngoài kia còn chưa lên hẳn và còn là một vệt xám nhạt ở đường chân trời báo hiệu mặt trời chưa qua khỏi đó. Kiyora bước ra hành lang, mấy cái túi đã được xếp gọn ở sàn từ tối qua. Cô dùng một tay đẩy nhẹ cây gậy sồi về phía trước, tay kia bám vào khung cửa, bước chậm vào phòng bố mẹ. Cửa khép hờ, cô đẩy nó ra thêm một chút, đủ để lách người qua.
Cô ngồi xuống mép giường gần cửa nhất, lò xo dưới nệm kêu nhẹ một tiếng khi cô đặt hết trọng lượng xuống. Bố cô nằm đó, vẫn ngủ, một tay gác lên ngực, hơi thở đều. Cô đặt cây gậy dựa vào đầu giường rồi nằm xuống khoảng trống còn lại bên cạnh ông, đặt tay lên ngực ông.
“Bố ơi…”
Cô lay nhẹ người ông một cái.
“Bố ơi… dậy thôi ạ…”
Ông không phản ứng ngay. Cô lắc thêm một lần, nhẹ hơn nhưng dứt khoát hơn. Mắt ông mở ra, nhìn xuống thấy con gái đang nằm áp vào mình như vậy thì ông giật mình một thoáng rồi bật cười khẽ trước khi nằm xuống và nhắm mắt lại.
“Vẫn còn sớm mà... cho bố ngủ thêm chút nữa được không?”
Cô lắc ông một lần nữa.
“Không được đâu ạ, mình còn phải đi khám mà, bố nhớ không.”
Ông cười khẽ lần nữa, đưa tay xoa lên đầu cô một cái.
“Thiệt tình.”
Ông xoay người sang phía bên kia, nơi mẹ cô vẫn còn ngủ, lưng quay ra ngoài.
“Mẹ nó ơi, dậy thôi. Đến giờ rồi.”
Khi mặt trời vừa nhô lên qua hàng nhà bên kia đường, Kiyora đã ngồi trong xe. Cô mặc cái áo khoác dài màu xanh, vạt áo phủ gần đến đầu gối, hàng nút khuy luồn dây ở mặt ngoài cài gọn từ cổ xuống ngực. Mấy cái túi áo nằm hai bên hông áo, một bên cô nhét hai tay vào trong tìm hơi ấm trước khi máy sưởi trong xe kịp tỏa ra khắp khoang. Con thỏ bông móc ở vòng đai áo nằm yên trên đùi cô.
Máy sưởi bắt đầu kêu khẽ rồi hơi nóng lan ra từ khe thông gió.
Cô nhìn qua kính xe. Mẹ cô đang đứng trước cửa nhà, tay xoay chìa khóa trong ổ, kéo cửa thử một lần rồi mới quay đi. Phía sau xe có tiếng cốp đóng sầm lại, bố cô vòng ra phía trước, mở cửa xe ngồi vào. Mẹ cô bước đến mở cửa ghế trước, ngồi vào, thở ra một cái nhẹ.
“Đi thôi.”
Phòng khám còn vắng vào giờ đó. Kiyora ngồi giữa bố và mẹ trên hàng ghế nhựa dọc tường, tay đặt trên đùi, cây gậy sồi dựa vào chân ghế. Khi đến lượt, cô được dẫn vào phòng có cái máy đo hô hấp, ống thổi đặt trước mặt cô trên một cái giá nhỏ.
“Hít vào hết sức rồi thổi ra hết sức nhé.”
Cô làm theo. Màn hình bên cạnh hiện ra một đường cong rồi dừng lại, số liệu in ra bên dưới. Bác sĩ nhìn vào màn hình, gật đầu một cái, ghi vào hồ sơ.
“Chỉ số ổn, đủ điều kiện để đi xa. Thuốc thì gia đình nhớ nhắc em uống đúng giờ như cũ, nên ttránh chỗ đông người kín gió nếu được. Có gì bất thường thì gọi cho bên này ngay.”
Mẹ cô hỏi thêm vài câu về liều lượng. Bác sĩ trả lời từng câu, viết ra giấy đưa cho bà. Bố cô ngồi yên, nghe từng câu trả lời mà không hỏi gì thêm. Họ ra khỏi phòng khám khi mặt trời đã lên cao hơn một chút, đủ sáng để chiếu vào cửa kính phòng chờ.
Xe chạy ra khỏi thành phố theo hướng quốc lộ. Kiyora ngồi ghế sau, đầu tựa vào cửa kính, nhìn nhà cửa và cột điện chạy qua chậm dần rồi nhanh dần khi xe vào đường lớn. Mẹ cô ngồi ghế trước, tay cầm tờ giấy ghi lịch uống thuốc bác sĩ vừa đưa, đọc lại một lần rồi gấp lại cất vào túi. Bố cô lái, mắt nhìn thẳng đường, tay phải gõ nhẹ theo nhịp bài hát rất nhỏ phát từ radio. Con thỏ bông trên đùi Kiyora lắc nhẹ theo từng khúc cua của xe. Cô nhìn ra cửa kính, nhìn thành phố lùi dần lại phía sau, và phía trước, con đường vẫn còn dài.
Cả một ngày dài trên xe rồi cũng trôi qua nhanh, chiếc xe nằm ngay ngắn trong khoang chứa của chuyến phà đến Otaru khi trời đã tối hẳn. Bên trong hành lang cabin đã yên tĩnh từ khi nào, chỉ còn tiếng sóng vỗ vào thân tàu ngoài kia và tiếng động cơ vo ve đều đặn dưới sàn.
Kiyora trở mình, những âm thanh ấy ngày một lớn hơn nữa. Cô ngồi dậy. Tóc cô rối sang một bên vì đã trở qua trở lại trên gối từ lâu. Một giọng nói cất lên trong không khí, khiến cô giật mình, tay cô bấu chặt vào tấm chăn mỏng phủ trên người.
Là bố cô. Ông đang nói mê, mấy từ rời rạc về một báo cáo, về con số nào đó chưa khớp, giọng đều đều rồi tắt hẳn. Cô ngồi yên, nhìn ông nằm trên cái giường tầng sát bên, một tay gác lên trán, ngực lên xuống chậm.
Cô nhìn ông một lúc lâu. Có những đêm khác, ở một nơi khác, cô từng nằm nghe tiếng máy thở của chính mình lớn hơn mọi tiếng nói trong phòng, từng nằm nhìn trần nhà mà không biết bố mình đang ở đâu trong tòa nhà đó, chỉ biết là không phải cạnh cô. Đêm nay ông nằm cách cô một cánh tay, nói mê về công việc, hơi thở không cần máy nào hỗ trợ.
Cô xoay người, hai chân đưa xuống khỏi mép giường. Sàn tàu lạnh chạm vào gan bàn chân cô, lạnh hơn cô tưởng.
Cô cầm cây gậy gỗ sồi dựng cạnh đầu giường, đứng dậy, đi đến chỗ áo khoác treo trên móc sau cửa. Cô mặc nó vào, cài từng nút khuy từ dưới lên, kéo cổ áo sát vào hai bên má. Cô mở cửa, nhìn lại vào trong một lần, mẹ cô vẫn ngủ yên ở giường đối diện, bố cô vẫn nằm với một tay gác lên trán. Cô khép cửa lại nhẹ, không một tiếng động.
Hành lang của con phà vắng người, chỉ còn tiếng động cơ vo ve dưới sàn, tiếng sóng đập vào mạn tàu vọng qua lớp tường kim loại, và tiếng đầu gậy gỗ của cô gõ nhẹ xuống nền mỗi bước đi. Cô đi qua hàng dãy cửa cabin đóng kín, qua tấm bảng chỉ dẫn dán trên tường ghi sơ đồ các tầng, qua một góc có máy bán nước tự động sáng đèn một mình trong hành lang tối.
Cô đến cánh cửa dẫn ra khoang ngoài.
Cô đặt tay lên thanh chốt, kéo. Cửa không nhích. Cô dồn thêm lực, cả hai tay, cây gậy kẹp tạm vào nách. Cửa vẫn không động. Cô dừng lại, thở ra một hơi, ngực lên xuống nhanh hơn bình thường một chút. Rồi cô đẩy lần nữa, mạnh hơn.
Cánh cửa bật ra một cách đột ngột.
Cô ngã chúi về phía trước, hai tay chống không kịp, người cô đổ xuống sàn ngoài khoang, đầu gối và lòng bàn tay chạm vào sàn kim loại lạnh cùng lúc. Cây gậy rơi khỏi tay cô rồi lăn đi một đoạn ngắn, dừng lại cách tay cô vươn tới đúng một khoảng không thể chạm vào. Cô đưa tay ra, ngón tay cô cách đầu gậy chỉ vài phân, nhưng không đủ.
Cô bỏ ý định đó, để người nằm xuống nguyên trên sàn.
Gió thổi vào mặt cô ngay sau đó, mang theo mùi muối biển trộn với mùi dầu máy từ đâu đó dưới thân tàu. Cái lạnh của gió đầu mùa đông len qua lớp áo khoác, chạm vào da cô. Hai tay cô tự động co lại, ôm quanh người. Cô nằm như vậy một lúc, nhìn cây gậy nằm cách mình một đoạn ngắn, rồi cô không nhìn nó nữa.
Cô ngước mắt lên trời.
Gió cũng đang đẩy mây đi, từng lớp mỏng trôi qua nhanh, để lộ ra khoảng trời đầy sao phía sau, thứ ánh sáng nhỏ và dày đặc mà cô chưa từng thấy rõ như vậy ở thành phố. Hai tay cô từ từ buông ra khỏi người, rồi dang rộng sang hai bên trên mặt sàn lạnh.
Khóe môi cô nhích lên.
Nó kéo dài ra chậm, không vội, cho đến khi thành một nụ cười trọn vẹn trên mặt cô. Cô không nhận ra mình đang cười, không phải cho đến khi tay cô tự nhích lên, đặt lên môi mình, như đang giữ lại thứ gì đó vừa lỡ buột ra mà không xin phép.
Tiếng sóng vẫn vỗ vào mạn tàu. Phía xa, một vệt sáng yếu trên đường chân trời cho biết bờ vẫn còn ở đó, vẫn còn rất xa. Cô nằm như vậy thêm một lúc nữa, hai tay buông xuống hai bên, mắt nhìn lên khoảng sao đang dần lộ ra nhiều hơn khi mây trôi qua hết.
Rồi cô chống tay ngồi dậy, từng chút một, kéo người về phía cây gậy. Cô nhặt nó lên, dùng nó chống xuống sàn để đứng thẳng dậy. Gió vẫn thổi quanh cô, mùi muối vẫn còn trên áo, trên tóc. Cô bước đến gần lan can, đặt một tay lên thanh kim loại lạnh, đứng đó nhìn ra mặt biển tối đang trôi qua dưới ánh sao.
Gió bắt đầu lạnh hơn khi tàu đi sâu vào vùng biển khuất gió. Kiyora siết tay quanh thanh lan can một lúc, rồi cảm nhận cái lạnh đã thấm qua áo khoác đến mức không còn dễ chịu nữa. Ngực cô bắt đầu hơi tức, một nhịp thở khẽ hụt đi rồi trở lại. Cô buông tay khỏi lan can, quay người lại.
Cánh cửa giờ dễ mở hơn lúc nãy, có lẽ vì cô đẩy nó đúng chiều, hoặc vì sức gió bên ngoài đã đổi hướng. Cô bước vào trong, khép cửa lại, tiếng động cơ và tiếng sóng lùi lại phía sau lớp kim loại. Hành lang vẫn vắng như khi cô đi ra, ánh đèn vàng nhạt rọi đều trên sàn.
Cô đi chậm hơn lúc trước. Đầu gối cô hơi đau ở chỗ vừa chạm sàn ngoài khoang, một cơn ê nhẹ lan dưới lớp quần khi cô bước. Cô không vội, dừng lại một lần ở góc rẽ để dựa vào tường, thở ra một hơi dài, rồi tiếp tục.
Khi cô về đến cabin, mẹ cô vẫn ngủ yên, bố cô đã im lặng từ lúc nào, không còn nói mê nữa. Cô tháo áo khoác, treo lại lên móc, dựng cây gậy vào chỗ cũ cạnh đầu giường. Cô leo lên giường, kéo chăn lên đến cổ.
Người cô vẫn còn lạnh, nhưng là cái lạnh đã bắt đầu dịu xuống dưới lớp chăn dày. Cô nằm nhìn lên trần cabin, tối và phẳng, không có vết ố nào để mà nhìn. Tiếng động cơ vẫn vo ve đều dưới sàn, nhưng tiếng đó không còn làm cô tỉnh giấc nữa. Mắt cô khép lại trước khi cô kịp nhận ra mình đã ngủ.
Sáng hôm sau, ánh nắng lọt qua khe cửa kính nhỏ trên tường cabin, chiếu một vệt sáng hẹp lên sàn. Tiếng loa thông báo trên tàu cất lên, giọng người phát thanh đọc đều đều, báo phà sẽ vào cảng trong nửa giờ tới. Mẹ cô là người dậy trước, với tay tắt đèn ngủ rồi bước đến lay nhẹ vai bố cô.
Họ rời phà giữa dòng người và xe nối đuôi nhau xuống khoang đỗ. Không khí ngoài cảng lạnh hơn trong cabin, mang theo mùi muối và mùi dầu diesel từ những chiếc xe đang nổ máy chờ ra khỏi tàu. Kiyora ngồi trong xe, nhìn qua kính, nhìn cảng biển sáng dần lên dưới lớp mây xám nhạt, những chiếc cần cẩu container đứng im ở xa, và xa hơn nữa là dáng núi mờ phía sau lớp sương buổi sớm.
Bố cô lái xe ra khỏi cảng, theo bảng chỉ dẫn về phía trung tâm Otaru.
Chương 2: Người Lạ
Họ ở Otaru ba ngày.
Ngày đầu tiên, họ đi dọc con kênh nổi tiếng, những tòa nhà đá cũ phản chiếu xuống mặt nước, đèn lồng treo dọc lối đi dù chưa đến tối. Mẹ cô chụp ảnh, bố cô đọc bảng chỉ dẫn lịch sử dán trên tường gạch. Kiyora đi theo, cây gậy gõ đều trên đường lát đá, nhìn những thứ đáng nhìn mà không thấy gì trong người mình đáp lại.
Ngày thứ hai họ vào bảo tàng hộp nhạc, ngắm hàng trăm cái hộp nhỏ xếp trên kệ kính, nghe vài đoạn nhạc phát ra khi nhân viên lên dây cho khách xem. Kiyora đứng nhìn một cái hộp có hình thiên nga xoay chầm chậm trên mặt gương nhỏ, nghe đoạn nhạc lặp lại hai lần rồi dừng. Cô không thấy gì trong đó khiến cô muốn nhìn thêm lần ba.
Tối ngày thứ hai, mẹ cô hỏi cô có thích Otaru không.
“Có ạ. Ở đây đẹp mà mẹ.”
Mẹ cô nhìn cô một lúc, kiểu nhìn quen thuộc, đi từ mặt xuống tay rồi lên lại. Bà không hỏi thêm.
Sáng ngày thứ ba, Kiyora ngồi ở bàn ăn sáng của khách sạn, tay xoay cái cốc trà chưa uống. Bố mẹ cô đang nói chuyện về lịch trình ngày hôm đó, một chuyến đi đến nhà máy rượu sake đã đặt trước. Kiyora nhìn xuống mặt bàn, ngón tay cô gõ nhẹ một nhịp rồi dừng.
“Mẹ.”
Mẹ cô quay sang.
“Mình có thể... đi khỏi đây sớm hơn chút không ạ?”
Bố cô ngừng tay đang cầm tách cà phê. Mẹ cô nhìn cô, không nói ngay.
“Con không thích ở đây sao?”
“Không phải vậy ạ. Chỗ này đẹp mà. Con chỉ... muốn đi tiếp thôi.”
Cô không có cách nào giải thích thêm. Cô nhìn xuống cái cốc trà của mình, hai tay đặt quanh nó, không nhấc lên. Bố mẹ cô nhìn nhau một lúc. Mẹ cô gật đầu chậm.
“Được rồi. Mình huỷ chuyến hôm nay, đi sớm vậy.”
Họ rời khách sạn trước giữa trưa. Xe chạy ra khỏi Otaru theo con đường ven biển, những ngôi nhà mái thấp của thành phố thưa dần, thay bằng những đoạn đường vắng hơn, biển một bên và núi một bên.
Khoảng nửa giờ sau khi rời khỏi Otaru, có điều gì đó trong người Kiyora dịu lại.
Cô không nhớ mình bắt đầu nhìn từ khi nào. Chỉ là ánh sáng trên mặt nước, nhạt và lấp lánh, đang ở đó trước mắt cô, và cô đang nhìn. Con đường ven biển chạy ra phía trước. Bên trái, sóng lùa vào bãi đá theo từng nhịp chậm rãi, đều đặn như tiếng thở của người ngủ say. Cô đặt lưng vào ghế, tay xuôi trên đùi trong khi đôi mắt hướng về phía trước, nơi con đường còn dài.
Xe chạy chậm lại khi vào một đoạn đường nhỏ hơn, hai bên là những căn nhà mái thấp đứng sát nhau, một vài cái có lưới đánh cá phơi trên sân. Biển báo bên đường ghi tên một thị trấn nhỏ, chữ nhỏ đến mức Kiyora phải nhìn kỹ mới đọc được. Furubira.
Cô nhìn ra ngoài, không nghĩ gì cụ thể, chỉ nhìn theo cách cô đã nhìn suốt từ Otaru, chờ một thứ gì đó đáp lại.
Con đường họ đang chạy có một bên là vách núi thấp, một bên là mé biển, và phía trước, một con đường nhỏ rẽ xuống hướng bến cảng, hai hàng cột điện cũ đứng dọc theo lề, vài căn nhà kho mái tôn gỉ sét nằm rải rác gần mé nước.
Kiyora xoay người lại, nhìn qua kính sau. Cô không biết vì sao. Con đường đó không có gì đặc biệt để nhìn, chỉ là một con đường nhỏ như bao con đường khác họ đã chạy qua trong ba mươi phút vừa rồi. Nhưng cái gì đó trong ngực cô đã siết lại trước khi mắt cô kịp xác định được vì sao.
“Bố.”
Bố cô nhìn cô qua kính chiếu hậu.
“Bố dừng lại được không ạ? Ở đây thôi.”
“Ở đây?”
Mẹ cô quay sang nhìn ra ngoài, nhìn con đường vắng, nhìn mấy căn nhà kho cũ, nhìn không thấy gì giống một điểm dừng chân nên có.
“Đây có gì đâu con.”
“Con muốn dừng lại một chút thôi.”
Bố cô không nói gì, chỉ chậm xe lại, đánh tay lái rẽ vào con đường nhỏ. Xe chạy qua hai căn nhà, một tiệm tạp hóa đóng cửa với cánh cửa trượt sắt kéo xuống nửa chừng, rồi đến một căn nhà hai tầng cũ với tấm bảng gỗ treo trước cửa, chữ sơn đã phai gần hết, chỉ còn đọc được lờ mờ mấy chữ kanji ghép thành tên một nhà nghỉ. Bố cô tắt máy, nhìn ra ngoài qua kính chắn gió.
“Con chắc là đây à?”
“Dạ.”
Mẹ cô quay lại nhìn cô lần nữa, lần này lâu hơn, ánh mắt đi từ mặt cô xuống cây gậy gỗ đặt trên đùi cô rồi lên lại.
“Cái nhà nghỉ này nhìn… cũ quá con. Mẹ không biết trong đó có ổn không nữa, hay là mình tìm chỗ khác gần đây mà đẹp hơn, sạch hơn?”
“Con muốn ở đây.”
Bố cô thở ra một hơi qua mũi. Ông nhìn vào tấm bảng gỗ phai màu một lúc rồi mở cửa xe.
“Để bố vào hỏi thử.”
Mẹ cô vẫn ngồi yên, hai tay đặt trên đùi. Kiyora thấy bà nhìn ra ngoài cửa kính, nhìn con đường nhỏ dẫn xuống bến cảng phía xa, nơi vài chiếc thuyền đánh cá đang đậu im trên mặt nước lặng. Bố cô trở ra sau khoảng mười phút, tay vẫn cầm chìa khóa phòng, nét mặt hơi nhăn lại theo cách ông vẫn làm khi phải tính toán điều gì đó trong đầu.
“Họ chỉ còn một phòng trống dùng được. Trên tầng hai, chỗ này còn chả có lấy thang máy nữa.”
Mẹ cô quay sang nhìn ông rồi nhìn Kiyora, ánh mắt dừng lại ở cây gậy gỗ trên đùi con gái.
“Không có thang máy thì sao mà lên được hả con? Cầu thang ở đây nhìn dốc lắm.”
“Con lên được mà.”
“Phòng tắm cũng ở chung ngoài hành lang nữa, không có riêng trong phòng đâu.”
Bố cô nói thêm, mắt nhìn Kiyora như đang chờ cô đổi ý.
“Không sao đâu bố.”
Mẹ cô thở ra một hơi, không nói gì thêm nữa, chỉ mở cửa xe bước xuống. Bố cô đứng lại bên xe đợi cô. Kiyora tự mở cửa, đặt một chân xuống đất, chống gậy đứng lên. Gió từ phía biển thổi tới, mang theo mùi cá và mùi rong biển khô đậm hơn bất cứ nơi nào họ đã đi qua ba ngày vừa rồi.
Bên trong nhà nghỉ tối hơn ngoài đường, ánh sáng duy nhất từ một bóng đèn tròn treo giữa quầy lễ tân nhỏ. Một bà cụ đứng sau quầy, tóc bạc búi gọn, mặc áo cardigan len dày, nhìn cả nhà bước vào với vẻ ngạc nhiên không che giấu.
“Khách du lịch hiếm khi dừng ở đây lắm.”
Bà nói, đẩy cuốn sổ đăng ký qua mặt quầy gỗ cũ.
“Mấy người khác thường đi thẳng đến Otaru hoặc Niseko, ít ai ghé Furubira này.”
Bố cô cười nhẹ, không trả lời cụ thể, chỉ ký tên vào sổ.
“Thế, sao cả nhà lại chọn dừng ở đây vậy?”
Bà cụ hỏi tiếp, lần này nhìn sang Kiyora, ánh mắt dừng ở cây gậy một chút rồi lên lại mặt cô. Kiyora không có câu trả lời nào sẵn. Cô đứng đó, tay siết nhẹ quanh cán gậy.
“Con chỉ... muốn dừng ở đây thôi ạ.”
Bà cụ nhìn cô thêm một lúc, không hỏi thêm, chỉ gật đầu và đưa chìa khóa qua cho bố cô.
Phòng nằm cuối hành lang tầng hai, cầu thang gỗ kêu cót két dưới mỗi bước chân, lan can mòn nhẵn ở chỗ tay người vịn qua nhiều năm. Kiyora leo từng bước, một tay bám lan can còn tay kia chống gậy, bố cô đi sau một bước, ánh mắt vẫn cứ dán vào lưng cô con gái của mình.
Cả căn phòng bé tí, hàng loạt tấm chiếu tatami đã ngả màu vàng nhạt ở vài góc, mùi gỗ cũ và mùi ẩm nhẹ của biển len qua khe cửa sổ. Một cái bàn thấp đặt giữa phòng, bên cạnh là chăn gối xếp gọn trong góc. Mẹ cô đặt túi xuống, nhìn quanh phòng một lượt, Kiyora bước đến cửa sổ, kéo tấm rèm mỏng sang một bên.
Bên ngoài, con đường nhỏ họ vừa đi qua chạy thẳng xuống phía bến cảng, nơi vài chiếc thuyền đánh cá đậu im trên mặt nước, dây neo căng nhẹ theo từng đợt sóng nhỏ. Một chiếc đèn đường duy nhất đứng ở góc đường, chưa sáng vì trời còn chưa tối hẳn. Xa hơn, mấy căn nhà kho mái tôn đứng lặng, không có người qua lại.
Cô đứng đó nhìn ra, tay đặt lên khung cửa sổ gỗ, lạnh và hơi sần dưới lòng bàn tay. Tiếng động cơ tàu đánh cá nào đó nổ máy ở xa, một tiếng kêu ngắn rồi tắt. Một con hải âu kêu lên đâu đó gần bến cảng, tiếng kêu kéo dài rồi nhỏ dần. Cô đứng yên ở đó một lúc lâu, nhìn con đường vắng dần chìm vào ánh chiều nhạt, cho đến khi mẹ cô gọi cô vào ăn tối.
Sáng hôm sau cô thức dậy trước khi trời sáng hẳn.
Kiyora nằm yên một lúc, nghe ngóng. Tiếng thở đều của mẹ cô từ phía đệm bên cạnh, tiếng thở chậm hơn của bố cô ở góc phòng còn lại. Ngoài cửa sổ, bầu trời còn một màu xanh xám nhợt, chưa đủ sáng để gọi là buổi sáng nhưng cũng không còn là đêm.
Cô ngồi dậy, từng chút một, kéo chăn ra khỏi người không một tiếng sột soạt. Sàn tatami lạnh dưới chân cô khi cô đặt xuống. Cô cầm cây gậy gỗ dựng cạnh đầu nằm, đứng lên, đứng yên một giây để người quen với việc thẳng đứng rồi mới bước.
Chiếc áo khoác xanh treo trên móc sau cửa. Cô mặc nó vào, cài từng nút khuy, kéo cổ áo lên sát cằm. Cô không đội mũ len, chỉ kéo cổ áo khoác lên cao hơn một chút để chắn gió. Hai bàn tay cô trần, không có gì che, cô đút chúng vào hai túi áo khoác trước khi mở cửa.
Cửa phòng kêu một tiếng cót két nhỏ khi cô kéo ra. Cô dừng lại, nhìn vào trong, mẹ cô vẫn ngủ, bố cô vẫn ngủ. Cô khép cửa lại sau lưng, chậm, để chốt cửa không bật ra tiếng.
Cầu thang gỗ kêu dưới mỗi bước chân cô, dù cô đã cố dồn trọng lượng từ từ xuống từng bậc một. Quầy lễ tân dưới nhà tối, không có ai, chỉ có ánh đèn ngủ nhỏ để dưới góc bàn. Cô đi qua, mở cửa chính, bước ra ngoài.
Không khí buổi sáng lạnh hơn cô tưởng, mang theo mùi muối đậm và mùi cá tươi từ phía bến cảng. Cô đứng một lúc trên bậc cửa, hít vào một hơi sâu, để không khí đi xuống tận đáy ngực theo cách cô vẫn còn chưa quen hẳn.
Con đường trước nhà nghỉ vắng người. Một vài ngọn đèn đường vẫn còn sáng, ánh sáng vàng cam yếu ớt đổ xuống mặt đường nhựa. Cô bước đi, cây gậy gõ nhẹ xuống mặt đường theo từng bước, âm thanh duy nhất ngoài tiếng gió.
Cô không có hướng đi cụ thể nào trong đầu khi bước ra khỏi cửa. Nhưng chân cô rẽ về phía bến cảng mà không biết vì sao. Con đường dốc xuống nhẹ về phía mặt nước, hai bên là những căn nhà kho mái tôn gỉ sét đứng im, vài tấm lưới đánh cá phơi trên giàn gỗ trước một căn nhà, còn đọng hơi sương đêm. Cô đi qua chậm, mắt nhìn xuống mặt đường nhiều hơn nhìn lên, thói quen cũ của việc kiểm tra từng bước trước khi bước.
Tiếng động cơ tàu nổ máy đâu đó phía trước, một âm thanh trầm và đều, rồi một tiếng khác đáp lại từ xa hơn. Cô tiếp tục đi xuống theo con dốc.
Bến cảng hiện ra phía dưới, ánh đèn cao áp chiếu sáng rực một khoảng không gian giữa mặt nước còn tối đen. Ánh sáng đó tách biệt hẳn với màu trời xanh xám nhạt phía trên, như một hòn đảo sáng nằm lẻ loi giữa buổi sáng còn chưa kịp đến. Cô đứng lại một giây nhìn xuống đó rồi tiếp tục bước.
Mặt trời vừa nhô lên qua đường núi phía sau khi cô gần đến chân dốc, một vệt sáng cam mỏng kéo dài trên mặt nước.
Cô rẽ qua một góc nhà kho, bước thêm vài bước. Một mùi hương đến đột ngột và mạnh đến mức cô không kịp chuẩn bị.
Cô ho lên một tiếng, cả cơ thể phản ứng trước khi cô kịp nghĩ, rồi cảm giác muốn nôn dâng lên ở cổ họng. Mắt cô cay xè, nước mắt trào ra hai bên không kiểm soát được. Cô đưa ngay một tay đang đi găng vào túi áo khoác, lấy ra chiếc khăn tay, áp lên mũi và miệng, ấn chặt.
Cô đứng yên một lúc, thở qua lớp vải, để cơ thể quen dần với thứ mùi đang tràn ngập không khí quanh đó.
Khi cô bước tiếp đến gần bến cảng hơn, mấy người đàn ông trong bộ đồ lao động và ủng cao su đang khuân từng thùng nhựa lớn từ trên thuyền xuống cầu cảng. Trong những thùng đó là cá hồi còn ánh bạc dưới đèn, từng con xếp chồng lên nhau, vài thùng khác đựng mực ống còn tươi, lớp da trong suốt phản chiếu ánh sáng cao áp. Một thùng riêng để cua tuyết, càng dài thò ra khỏi miệng thùng, vài con vẫn còn cử động chậm.
Tiếng người gọi nhau qua lại, tiếng thùng nhựa va vào nền cầu cảng, tiếng máy tàu chưa tắt hẳn rì rầm phía sau. Cô đứng từ xa nhìn vào, một tay vẫn giữ khăn tay áp lên mũi.
Có gì đó di chuyển nhanh ở góc một chồng thùng cá hồi. Một con mèo hoang, lông xám loang lổ, nhảy lên mép thùng, ngoạm lấy một con cá nhỏ rơi ra ngoài rồi nhảy xuống, chạy biến vào khoảng tối giữa hai căn nhà kho trước khi ai trong đám người đó kịp để ý.
Khóe miệng Kiyora hơi nhích lên sau lớp khăn tay.
Cô đứng đó một lúc lâu, nhìn những người đàn ông tiếp tục công việc của họ, nhìn từng thùng cá được chuyển lên xe tải đậu gần đó, nhìn ánh đèn cao áp dần nhạt đi khi mặt trời lên cao hơn phía sau núi. Mùi tanh vẫn còn nồng trong không khí nhưng cô không còn thấy buồn nôn như lúc mới đến nữa, chỉ còn lại như một phần của khung cảnh, giống như tiếng động cơ tàu hay tiếng người gọi nhau.
Cô đứng đó cho đến khi mặt trời lên hẳn, ánh sáng mặt trời dần thay thế cho ánh đèn cao áp, rồi cô quay người, bước trở lại lên con dốc, để bến cảng và những tiếng động ấy lại phía sau. Cô đi ngược lên con dốc, ra khỏi khu vực bến cảng, trở lại con đường chính dẫn vào trong thị trấn. Trời đã sáng hơn nhiều so với lúc cô ra khỏi nhà nghỉ, ánh nắng nhạt trải đều trên mặt đường nhựa.
Trên đường giờ đã có người. Vài bà mẹ trẻ đẩy xe nôi, vài người phụ nữ lớn tuổi hơn mặc áo khoác dày, tay cầm túi vải, tất cả đều đi theo cùng một hướng, có lẽ về phía chợ nhỏ nào đó trong thị trấn. Họ đi chậm, thỉnh thoảng dừng lại chào nhau, vài câu nói ngắn rồi tiếp tục.
Kiyora đi men theo lề đường, cây gậy gõ đều xuống mặt nhựa, mắt nhìn những căn nhà hai bên, những tấm bảng hiệu cũ, một tiệm giặt đồ vừa mở cửa với người chủ đang kéo tấm rèm sắt lên.
Một tiếng chuông xe đạp vang lên phía sau cô, gấp và gần hơn cô tưởng.
Cô chưa kịp bước sang một bên thì chiếc xe đã lướt qua, sát đến mức gió từ bánh xe quệt vào vạt áo khoác cô. Một thoáng màu tóc, một bóng người khoác áo gió mỏng, rồi chiếc xe đã vượt lên phía trước, tiếp tục đi không một lần ngoái lại. Kiyora đứng sững lại một giây, bàn tay cô đưa lên ngựcm cảm nhận thấy tim mình đập nhanh hơn bình thường một nhịp.
Chiếc xe đạp đó đi xa dần, qua mấy bà mẹ đẩy xe nôi, qua tiệm giặt đồ, rẽ vào một con đường nhỏ phía trước rồi mất hẳn. Cô đứng nhìn theo cho đến khi không còn thấy gì nữa, rồi cô tiếp tục bước, chân vẫn còn hơi run nhẹ.
Con đường chính của thị trấn không dài. Cô đi qua một tiệm tạp hóa nhỏ vừa mở cửa, một quán mì đang chuẩn bị nồi nước dùng từ sớm, mùi xương hầm bốc ra qua khung cửa kéo, một bưu điện nhỏ với tấm biển còn đóng. Cô đi đến cuối đường, nơi con đường gặp một ngã ba, một nhánh chạy tiếp lên đồi, một nhánh quay trở lại phía bến cảng.
Cô dừng lại ở đó, nhìn về cả hai hướng một lúc. Rồi cô quay người lại, đi theo đường cũ trở về. Nắng đã lên cao hơn, chiếu rõ những mái nhà thấp, những hàng dây phơi quần áo trước vài căn nhà, một con chó nằm cuộn tròn trước cửa tiệm tạp hóa không buồn ngẩng đầu khi cô đi qua. Mấy bà mẹ và những người phụ nữ lúc nãy đã rẽ vào trong chợ, đường giờ vắng hơn.
Cô đi chậm, cây gậy gõ đều, quay trở lại hướng nhà nghỉ, nơi bố mẹ cô có lẽ đã thức và đang chờ cô về ăn sáng.
Cô về đến nhà nghỉ khi nắng đã lên hẳn. Mẹ cô vừa bước ra từ phòng vệ sinh cuối hành lang, tóc còn rối, mắt còn ngái ngủ, nhìn thấy cô thì dừng lại.
“Con đi đâu vậy?”
“Con đi xem thử xung quanh ạ.”
Mẹ cô gật đầu, không hỏi thêm, chỉ vén tóc ra sau tai rồi đi vào phòng. Không còn vẻ giật mình hay lo lắng như những lần trước nữa. Cả nhà xuống ăn sáng cùng nhau trong gian phòng nhỏ phía sau quầy lễ tân, bà cụ chủ nhà nghỉ bày ra cơm, cá nướng, canh miso và rau ngâm. Giữa bữa, Kiyora đặt đũa xuống.
“Con muốn ở đây thêm vài ngày nữa ạ.”
Bố mẹ cô nhìn nhau. Mẹ cô thở ra một hơi, không phải khó chịu, chỉ là kiểu thở ra của người đã hết sức để phản đối từ ba ngày trước.
“Được rồi.”
Bố cô nói, gắp thêm miếng cá vào bát cô.
“Muốn thì mình ở thêm vài ngày.”
Sáng đó, bố cô đi dạo một mình ra phía quảng trường nhỏ trước bưu điện, nơi có vài bộ bàn cờ gỗ kê sẵn dưới gốc cây. Vài ông lão đang chơi, vài ông khác đứng quanh xem, bình luận từng nước đi bằng giọng địa phương mà ông nghe không rõ hết. Ông đứng xem một lúc, rồi một ông lão ngẩng lên hỏi ông có muốn đánh thử không. Ông ngồi xuống. Đến trưa, ông vẫn còn ở đó, đã thua hai trận và đang chơi trận thứ ba.
Mẹ cô đi loanh quanh khu chợ nhỏ gần bến cảng, nơi các bà các cô bán cá, rau và đồ khô ngay trên những tấm bạt trải dưới đất. Bà dừng lại ở một sạp bán cua tuyết, hỏi giá, rồi giật mình vì rẻ hơn nhiều so với bà tưởng. Bà mua một ít, rồi đi tiếp, mua thêm sò điệp ở sạp bên cạnh, bà chủ sạp chỉ cho bà cách chọn con nào còn tươi bằng cách gõ nhẹ vào vỏ. Bà đứng đó khá lâu, hỏi chuyện bà chủ sạp về cách hấp, cách luộc, ghi nhớ vài điều bằng cách nhắc lại trong miệng.
Kiyora dành phần lớn buổi sáng còn lại ngồi ở băng đá nhỏ trước nhà nghỉ, cây gậy dựa vào chân băng, nhìn người qua lại trên đường. Buổi chiều cô đi bộ một đoạn ngắn về phía ngược lại với bến cảng, đến một con dốc nhỏ nhìn xuống được một phần thị trấn và mặt biển xa hơn. Cô ngồi đó một lúc, không làm gì cụ thể, chỉ nhìn.
Tối đó, mẹ cô mượn bếp nhỏ phía sau nhà nghỉ, bà cụ chủ nhà đồng ý ngay khi nghe nói có hải sản mới mua. Mẹ cô hấp sò điệp với chút rượu sake và gừng, luộc cua tuyết trong nồi nước sôi có lá nguyệt quế bà mang theo từ nhà. Hơi nước bốc lên thơm khắp gian bếp nhỏ. Bữa tối đó cả nhà ăn cùng nhau trong phòng, mâm cơm trải trên bàn thấp. Mẹ cô gỡ thịt cua ra khỏi càng, đặt vào bát Kiyora.
“Ăn thử đi con, tươi lắm.”
Kiyora nhìn miếng thịt cua trắng trong bát một lúc rồi cầm đũa lên rồi ăn lấy. Sau bữa tối, cả nhà ngồi lại trong gian phòng khách nhỏ phía trước nhà nghỉ, một cái tivi cũ kê trên kệ gỗ phát một chương trình tạp kỹ nào đó với tiếng cười ghi sẵn vang lên đều đặn. Bố cô ngồi tựa vào tường, mắt dần khép lại rồi mở ra rồi lại khép.
Mẹ cô ngồi cạnh, tay vẫn vô thức giữ nhẹ bàn tay của Kiyora, lắng nghe chương trình hơn là xem nó. Kiyora ngồi ở góc, cây gậy dựa vào tường bên cạnh, nhìn màn hình mà không theo dõi nội dung gì cụ thể. Đến khi đồng hồ treo tường chỉ gần mười giờ, mẹ cô đứng dậy tắt tivi, gọi mọi người đi ngủ.
Sáng hôm sau cô lại thức trước khi trời sáng hẳn, lại mặc áo khoác, lại cầm cây gậy, lại bước ra khỏi nhà nghỉ trong im lặng. Hôm nay cô không dừng lại ở bến cảng.
Cô đi qua con dốc, qua khu nhà kho, nghe tiếng động cơ tàu và tiếng người gọi nhau vọng lên từ phía dưới nhưng không rẽ xuống. Cô tiếp tục theo con đường chính, qua tiệm tạp hóa, qua quán mì còn đóng cửa, đến đoạn cuối đường nơi hôm qua người phụ nữ trên xe đạp đã rẽ vào mất hút.
Một con đường nhỏ hơn mở ra từ đó, dẫn đến một khu chợ trong nhà, mái tôn thấp, cửa cuốn còn đóng một nửa nhưng đã có ánh đèn bên trong và tiếng người lao xao chuẩn bị hàng. Cô chưa kịp bước đến gần cửa thì tiếng chuông xe đạp vang lên từ phía sau, đúng như hôm qua.
Lần này cô không đứng sững lại mà bước sang một bên trước khi chiếc xe đến gần, chân di chuyển nhanh hơn thường ngày, cây gậy theo kịp nhịp bước. Chiếc xe lướt qua, gần nhưng không còn sát đến mức gió quệt vào áo cô như hôm trước.
Cô quay đầu nhìn theo.
Người phụ nữ đó vẫn không ngoái lại, đạp xe tiếp, qua khu chợ trong nhà, rẽ vào một con đường khác xa hơn, rồi mất hẳn sau một dãy nhà thấp. Cô đứng đó một lúc, nhìn theo hướng chiếc xe đã đi.
Mấy ngày tiếp theo trôi qua theo một nhịp riêng. Buổi sáng cô vẫn dậy sớm đi loanh quanh, có khi xuống bến cảng, có khi đi theo con đường dẫn đến khu chợ trong nhà, đôi lúc chỉ đứng ở ngã ba nhìn về hai hướng rồi quay lại. Bố cô vẫn ra quảng trường chơi cờ với mấy ông lão, dần dà thắng được vài trận. Mẹ cô quen mặt với mấy người bán ở chợ, biết mua gì rẻ, biết hỏi mượn bếp nhà nghỉ vào giờ nào thì tiện. Buổi tối cả nhà vẫn ăn cùng nhau, vẫn ngồi xem tivi đến muộn rồi đi ngủ.
Đến sáng ngày thứ năm, Kiyora lại thức trước khi trời sáng hẳn, lại mặc áo khoác, lại cầm cây gậy, bước ra khỏi cửa. Cô bước ra khỏi nhà nghỉ khi trời còn tối, nhưng lần này cô không đi ngay theo con đường cũ. Cô đứng lại một lúc ở bậc cửa, ước lượng bằng cảm giác một chút rồi mới bước đi, đi chậm hơn mọi hôm, như thể đang cố canh đúng một nhịp thời gian nào đó mà đầu mà cô không nói ra được bằng số.
Khi đến gần khúc đường nơi người phụ nữ thường lướt qua, cô đã đứng tránh sang một bên từ trước, áp sát vào tường một căn nhà kho, chờ. Hai tay cô đan vào nhau trước bụng, ngón cái xoa lên mu bàn tay đeo găng bên kia.
Tiếng chuông xe đạp vang lên đúng như mọi ngày. Lần này khi chiếc xe lướt qua, cô ấy quay đầu nhìn lại Kiyora một thoáng.
Như thể chỉ là phản xạ tự nhiên khi đi qua ai đó đứng sát lề đường như vậy. Nhưng Kiyora vẫn đứng yên thêm vài giây sau khi chiếc xe đã đi xa, hai tay cô siết lại với nhau chặt hơn, ngực cô hơi nhanh hơn một nhịp.
Cô tiếp tục đi, con đường hôm nay đưa cô qua một tòa nhà nhỏ hai tầng với tấm biển có hình huy hiệu cảnh sát treo trước cửa. Một người cảnh sát lớn tuổi đứng ngoài cửa, tay cầm cốc trà nóng, nhìn theo cô khi cô đi qua, ánh mắt không có gì gay gắt. Cô gật đầu nhẹ chào, ông gật lại, rồi cô đi tiếp.
Phía trước, một nhóm học sinh xuất hiện từ một con hẻm nhỏ, balo trên lưng, vài đứa vừa đi vừa cười nói. Kiyora chậm bước lại, để khoảng cách giữa cô và nhóm đó co lại tự nhiên, rồi không hiểu vì sao, chân cô bắt đầu đi theo cùng nhịp với họ, đủ xa để họ không nhận ra có người lạ đi cùng, nhưng đủ gần để cô vẫn nghe được tiếng cười, tiếng giày của họ đạp xuống mặt đường.
Không ai trong nhóm đó quay lại nhìn cô.
Mặt trời lên cao hơn khi họ đến gần một cánh cổng sắt lớn, phía trên có tấm bảng tên trường viết bằng chữ kanji sơn xanh đã hơi phai. Học sinh túa vào từ mọi hướng giờ này, con trai con gái đi thành từng nhóm nhỏ, tiếng cười, tiếng gọi nhau, tiếng giày đá vào sỏi.
Kiyora dừng lại, đứng cách cổng một khoảng. Cô nhìn vào trong qua khoảng trống của cánh cổng mở, nhìn sân trường, nhìn từng nhóm học sinh đi qua, đứng lại trò chuyện rồi tiếp tục bước vào. Môi cô hơi tách ra, không thành lời, chỉ là cái nhìn của người đang chứng kiến thứ gì đó quen mà lạ.
Chân cô bắt đầu run. Là cái run quen thuộc của cơ bắp đã vì đã đi quá nhiều ngày hôm nay, cái run báo hiệu rằng cô đã đứng yên một chỗ lâu hơn nó muốn. Cô dồn thêm trọng lượng lên cây gậy, các khớp ngón tay đeo găng siết chặt quanh cán gỗ đến mức lớp vải căng ra ở từng đốt ngón.
Người phụ nữ ấy đang đứng ngay trước cổng trường. Cô ấy đã xuống xe từ lúc nào, dựng nó nghiêng vào hàng rào bên cạnh, đang cúi xuống chỉnh lại cổ áo cho một học sinh nam có vẻ mặc lệch, kéo thẳng vạt áo, vỗ nhẹ vào vai cậu ta rồi để cậu đi tiếp. Một học sinh nữ khác bước đến, cô ấy với tay sửa lại cái nơ cổ áo cho cô bé, nói gì đó ngắn gọn rồi cô bé cười rồi chạy vào trong.
Kiyora đứng nhìn cảnh đó, không rời mắt, hai tay vẫn bám chặt cây gậy trước người.
Chân cô run nhiều hơn một chút nữa. Cô nhìn quanh, thấy một bồn hoa nhỏ xây bằng bê tông thấp, viền tròn quanh một khoảnh đất trồng vài bụi cây cảnh, cách cô vài bước. Cô bước đến đó, chậm, dùng cây gậy dò từng bước, rồi ngồi xuống mép bê tông, thở ra một hơi dài khi trọng lượng cuối cùng cũng được san sẻ.
Cô đặt cây gậy ngang qua đùi, nằm dọc trên lớp quần tất dày, hai tay đeo găng đan lên trên thân gậy, giữ nó yên ở đó như một thứ chắn ngang giữa cô và khoảng sân trước mặt.
Những cô cậu học sinh vẫn tiếp tục vào, từng nhóm, từng nhóm, đến khi số người thưa dần, rồi chỉ còn vài đứa chạy vội vào cổng vì sợ trễ, rồi không còn ai nữa. Tiếng chuông trường vang lên đâu đó bên trong, một hồi dài rồi im bặt.
Cả sân trường giờ đây đã trống rỗng nhưng cánh cổng vẫn còn mở. Kiyora vẫn ngồi đó, hai tay vẫn đặt trên cây gậy ngang đùi, không còn gì để xem nữa nhưng Kiyora vẫn ngồi đó. Rồi người phụ nữ b bước ra từ trong sân, có lẽ đi kiểm tra lại cổng trước khi vào lớp. Cô ấy đi đến cánh cổng, đặt tay lên thanh sắt, định kéo nó lại.
Rồi cô ấy ngẩng lên. Mắt hai người gặp nhau qua khoảng sân vắng. Kiyora giật người một cái nhẹ, hai tay siết chặt cây gậy đến mức cả cẳng tay cô hơi căng lên.
Cô ấy nhìn Kiyora một lúc, không lâu, nhưng đủ để Kiyora cảm thấy như lâu hơn. Khuôn mặt cô ấy không đổi gì nhiều, chỉ hơi nghiêng đầu một chút, như đang cố ghi nhớ điều gì đó vừa thấy. Rồi cô ấy kéo cánh cổng lại, khóa nó, quay người đi vào trong mà không nhìn lại lần nữa.
Kiyora vẫn ngồi đó thêm một lúc, tim đập nhanh trong ngực và hơi thở hơi gấp hơn bình thường. Rồi cô chống tay vào mép bê tông, đẩy người đứng lên, đôi chân vẫn còn run rẩy và cây gậy gần như phải chịu hết trọng lượng cô trong những bước đầu tiên. Cô quay người, bước đi, mỗi bước đều chậm và nặng hơn lúc đến, con đường về nhà nghỉ giờ đây dường như dài hơn.
Những ngày sau đó cô không đi đâu khác ngoài con đường dẫn đến trường học mỗi sáng.
Ngày đầu tiên trong những ngày đó, bố cô mua một cây cần câu ở tiệm đồ ngư cụ nhỏ gần bến cảng, rồi cả nhà ra ngồi trên kè đá nhìn ông câu. Một trong những ông lão chơi cờ với ông hôm trước cũng có mặt, ngồi cách đó không xa, thỉnh thoảng quay sang chỉ ông cách thả mồi đúng dòng nước. Suốt buổi chiều ông chỉ câu được vài con cá nhỏ, loại không ai mang về nấu. Đến lúc trời ngả về chiều, ông gỡ từng con ra khỏi lưỡi câu, thả ngược lại xuống nước.
“Sao bố không giữ lại ạ?”
Kiyora hỏi. Bố cô cuộn lại dây cần câu, không nhìn cô khi trả lời.
“Có lúc giữ lại cũng chẳng để làm gì. Đôi khi chỉ cần biết là mình đã cố nắm được một thứ thôi.”
Sáng ngày kế tiếp cô vẫn ở đó, vẫn ngồi ở mép bồn hoa bê tông như mọi lần, cây gậy ngang qua đùi. Buổi chiều cô cũng quay lại, ngồi cùng chỗ, nhìn cánh cổng đóng kín và sân trường vắng người vì đã vào giờ học.
Đến sáng ngày thứ ba, vài người học sinh đi ngang qua chỗ cô ngồi.
Một nhóm ba đứa con gái dừng lại, nhìn cô một lúc rồi một đứa lên tiếng hỏi về cái áo khoác xanh cô đang mặc, hỏi mua ở đâu, màu đẹp quá. Kiyora hơi bất ngờ, nhưng cô mỉm cười, cảm ơn các em, nói qua loa rằng mẹ mua cho. Nhóm học sinh đó cười rồi đi tiếp vào trong.
Cô lại ngồi xuống chỗ cũ. Nhưng sáng nay cô không thấy cô ấy đâu cả. Không có tiếng chuông xe đạp nào lướt qua, không có bóng người đứng trước cổng chỉnh lại cổ áo cho học sinh. Cô ngồi đó nhìn dòng học sinh thưa dần, rồi hết hẳn, cổng trường khép lại sau lưng nhóm cuối cùng. Cô chuẩn bị chống tay lên cây gậy để đứng dậy.
Một giọng nói vang lên ngay sát bên cạnh cô.
“Em thuộc lớp nào? Tại sao lại ngồi đây?”
Tiếng nói đến quá gần và quá đột ngột khiến cả người Kiyora giật lên một cái, hai tay cô bấu chặt vào cây gậy theo phản xạ, người cô ngồi thụp xuống lại đúng vào chỗ cô vừa định rời khỏi. Đầu cô cúi xuống trước khi cô kịp ý thức được mình đang làm gì, mắt cô dừng lại ở một đôi giày vải đứng ngay trước mặt.
Cô mở miệng, cố hít vào một hơi nhưng không khí dường như không chịu đi đúng đường, ngực cô hơi nghẹn lại. Sau một khoảng lặng dài hơn mức cần thiết, cô mới thốt ra được.
“Em không học ở đây ạ…”
Người phụ nữ nhìn Kiyora từ trên xuống dưới, từ mái tóc xõa ngang cổ, đến cái áo khoác xanh đậm, xuống đến cây gậy đang nằm ngang trên đùi cô, bị siết chặt giữa hai bàn tay đi găng đến mức lớp vải hơi nhăn lại ở từng khớp ngón. Cô ấy thở ra một tiếng qua mũi.
“Thế thì tại sao em lại ở đây? Em là ai?”
Hơi thở ấm thoát ra khỏi miệng Kiyora, tan vào không khí lạnh buổi sáng giữa hai người, môi cô run lên một nhịp nhỏ trước khi cô kịp kiểm soát nó. Cô cảm thấy từng mạch máu nơi cổ tay mình đang đập nhanh hơn, ngón tay cái cô xoa lên cán gỗ một cách vô thức, lặp đi lặp lại như đang tìm một điểm tựa nào đó ngoài chính cây gậy.
“Em… em muốn ngồi đây ạ…”
Cô ấy nhìn Kiyora theo cái cách người ta nhìn một thứ gì đó không khớp với bất kỳ ngăn nào trong đầu họ. Mắt trượt xuống cây gậy, dừng lại đủ lâu để Kiyora nhận ra rồi mới quay lên một cách chậm rãi và không chút ngượng ngùng nào, chỉ là tiếp tục nhìn như thể câu trả lời vẫn còn đâu đó trên mặt cô mà chưa tìm thấy.
“Em không phải là người ở đây đúng không? Vậy em ở đâu có biết không?”
Kiyora lắc đầu nhẹ, không nói gì thêm. Cô nhìn xuống đôi giày vải kia, không dám ngước lên. Hai tay cô vẫn không rời khỏi cây gậy, các khớp ngón tay trắng khớp dưới lớp găng đen. Người phụ nữ đứng yên một lúc, rồi thở ra một hơi dài hơn lần trước, như đang quyết định điều gì.
“Em đứng lên đi. Tôi sẽ đưa em đến đồn cảnh sát, để họ tìm người nhà cho em.”
Kiyora ngẩng đầu lên nhìn cô ấy một thoáng, môi mím lại, không phản đối. Cô chống tay vào mép bồn hoa, đẩy người đứng lên, chân vẫn còn run từ lúc ngồi quá lâu, cây gậy run nhẹ theo nhịp tay cô khi nó chịu lực trở lại.
Họ đi cạnh nhau trên con đường quay lại phía trung tâm thị trấn, không ai nói gì thêm. Kiyora bước chậm, mắt nhìn xuống mặt đường nhiều hơn nhìn về phía trước, cây gậy gõ đều một âm thanh duy nhất giữa khoảng cách im lặng giữa hai người. Cô ấy đi chậm lại để vừa với tốc độ của Kiyora, nhưng không nói gì, không hỏi thêm, chỉ đi.
Đồn cảnh sát nhỏ hiện ra ở khúc đường quen thuộc, tấm biển có hình huy hiệu treo trước cửa, người cảnh sát lớn tuổi vẫn đứng ở đó, lần này không cầm cốc trà mà đang ghi gì đó vào một cuốn sổ nhỏ. Ông ngẩng lên khi thấy hai người đến gần, ánh mắt ông dừng ở Kiyora rồi nhìn sang cô ấy.
“Ồ, chào buổi sáng Fuyuko. Có chuyện gì vậy?”
“Cháu tìm thấy cô nhóc này ngồi trước cổng trường, ngày nào cũng vậy. Em ấy không phải học sinh ở đây, hỏi mãi cũng không nói được mình từ đâu đến.”
Người cảnh sát gật đầu rồi đặt cuốn sổ xuống, ông ra hiệu cho Kiyora vào trong. Cô ấy không vào theo, chỉ đứng ở ngoài cửa một lúc, nhìn vào trong qua tấm kính, rồi cô quay lưng đi mất, không nói thêm lời nào. Kiyora ngồi xuống chiếc ghế nhựa người cảnh sát chỉ, cây gậy dựng vào cạnh ghế. Ông lấy ra một tấm chăn mỏng, đặt lên vai cô, rồi rót một cốc trà nóng từ bình giữ nhiệt trên bàn, đặt trước mặt cô.
“Cháu tên gì? Có số điện thoại của ai để bác gọi không?”
Kiyora nhìn xuống cốc trà bốc hơi trước mặt, hai tay cô đặt quanh nó, không nhấc lên uống ngay. Cô lấy trong túi áo khoác ra một tấm thẻ nhỏ có ghi tên cô, năm sinh, bệnh và cả số điện thoại của cô. Kiyora đặt nó lên mặt bàn rồi đẩy về phía ông. Ông cầm tấm thẻ lên, đọc, rồi gật đầu, cầm điện thoại trên bàn quay số.
Mười lăm phút sau, cửa kính đồn cảnh sát mở ra. Bố mẹ cô bước vào, cả hai người vẫn còn mặc đồ ngủ bên trong và chỉ khoác thêm áo choàng dài bên ngoài, cài vội mấy nút trên cùng. Tóc mẹ cô rối, một bên tai vẫn còn in vết gối. Bố cô đi trước, bước một cách nhanh chóng trong khi đôi mắt quét một vòng quanh phòng trước khi dừng lại ở góc trong.
Kiyora đang ngồi đó, một tấm chăn mỏng phủ qua đùi, hai tay ôm quanh cái cốc trà đã nguội từ lâu. Cây gậy gỗ sồi dựng nghiêng vào cạnh ghế cô đang ngồi. Người cảnh sát ngồi đối diện, cái mũ đặt trên mặt bàn bên cạnh ông, tay ông đang viết gì đó vào một tờ giấy, ngòi bút cọ vào giấy đều đều.
Đôi mắt của Kiyora không rời cốc trà trong tay, cô không nhìn lên khi cửa mở. Khóe miệng cô hơi trễ xuống, một đường rất nhỏ ở quai hàm siết lại rồi thả ra, mắt cô chớp một cái rồi lại nhìn xuống mặt nước trà phẳng lặng trong cốc. Bố cô bước đến gần cái bàn, đứng thẳng, hai tay buông dọc thân.
“Xin lỗi, tôi là bố của cô nhóc này ạ.”
Người cảnh sát ngẩng lên, đặt bút xuống.
“Anh có thể cho tôi xem giấy tờ tùy thân không?”
Bố cô lục trong túi áo choàng, lấy ra cái ví, rút thẻ căn cước đưa qua bàn. Người cảnh sát cầm lấy, nhìn qua một lượt, đối chiếu gì đó trên tờ giấy ông đang viết, rồi gật đầu mà đẩy thẻ trả lại. Mẹ cô đã đến bên Kiyora từ lúc nào, ngồi thụp xuống cạnh ghế, một tay đặt lên đầu gối con gái qua lớp chăn.
“Con có sao không?”
Kiyora lắc đầu, một cái nhẹ.
“Sao con lại ra đây? Đi đâu vậy?”
“Con không biết ạ.”
Giọng cô nhỏ, gần như chỉ đủ để mẹ cô nghe. Bà nhìn cô một lúc, ánh mắt đi từ mặt cô xuống tay cô đang siết quanh cái cốc, rồi bà thở ra, tay kéo lại tấm chăn cho ngay ngắn hơn trên đùi con. Người cảnh sát viết thêm vài dòng, rồi xé tờ giấy đó khỏi cuốn sổ rồi gấp lại mà đặt lên bàn. Ông với tay vào trong ngăn kéo, lấy ra tấm thẻ nhựa nhỏ Kiyora đã đưa lúc nãy, đẩy nó qua bàn về phía bố cô.
“Cái này của cháu. Tôi giữ lại để gọi điện liên hệ, giờ trả lại cho anh.”
Bố cô cầm tấm thẻ, lật qua một lần, nhìn dòng chữ ghi tình trạng y tế in trên đó, rồi đút vào túi áo của mình, không đưa lại cho Kiyora.
“Sáng sớm dạo này lạnh hơn mọi khi đấy.”
Người cảnh sát nói, mắt nhìn về phía Kiyora một thoáng rồi quay lại bố cô.
“Mấy hôm tới còn lạnh hơn nữa. Anh chị để ý con bé kỹ hơn một chút, đừng để cháu đi một mình sớm như vậy nữa.”
Bố cô gật đầu, cúi đầu cảm ơn ông một lần. Mẹ cô đứng dậy, một tay vẫn giữ vai Kiyora, tay kia gấp tấm chăn trả lại cho người cảnh sát. Ông xua tay bảo cứ giữ lấy mà dùng, rồi đứng lên, đội lại cái mũ lên đầu rồi đưa cả nhà ra đến cửa.
Bên ngoài trời đã sáng hơn lúc Kiyora rời nhà nghỉ, một lớp ánh sáng xám nhạt trải đều khắp con đường, không còn màu của đêm nhưng cũng chưa hẳn là ngày. Kiyora bước đi giữa bố và mẹ, cây gậy gõ đều xuống mặt đường, chậm hơn nhịp đi của hai người lớn nên họ cũng chậm lại theo cô mà không ai nói gì.
Mẹ cô nắm lấy tay cô, siết nhẹ một cái rồi không buông ra nữa.
Họ đi qua con đường chính, qua tiệm tạp hóa giờ đã mở cửa, qua quán mì đang có khói bốc lên từ trong, đi ngang qua khúc đường nơi mấy ngày trước chiếc xe đạp từng lướt qua sát người cô. Không có tiếng chuông xe đạp nào vang lên lúc này.
Khi gần đến nhà nghỉ, bố cô lên tiếng, giọng không lớn, không có gì giống trách mắng.
“Sao con lại đi xa đến vậy một mình hả?”
Kiyora không trả lời ngay. Cô nhìn xuống mặt đường, nhìn đầu cây gậy chạm xuống rồi nhấc lên theo từng bước, cố tìm một câu nào đó để nói nhưng không tìm được.
“Con xin lỗi bố.”
Bố cô không nói gì cả. Ông chỉ gật đầu một cái rồi bước tiếp, tay đưa lên xoa nhẹ lên đầu cô một lần như mọi khi. Khi về đến nhà nghỉ, bà cụ chủ nhà đã đứng chờ sẵn ngoài cửa, gương mặt lo lắng dịu xuống khi thấy cả nhà trở về đủ người. Bà không hỏi gì, chỉ đẩy cửa cho họ vào, rồi đi theo sau dặn nhỏ với mẹ cô điều gì đó về việc khóa cửa phòng kỹ hơn vào ban đêm.
Kiyora đi lên cầu thang gỗ, từng bước, cây gậy gõ đều trên mặt gỗ cũ. Cô vào phòng, ngồi xuống mép chiếu tatami, nhìn ra ngoài cửa sổ nơi con đường giờ đã có thêm vài người qua lại. Mẹ cô bước vào sau, ngồi xuống bên cạnh, không nói gì, chỉ đặt một tay lên lưng cô, xoa nhẹ vài cái rồi để yên đó.
Nửa ngày sau, cô ngồi trên sàn tatami cạnh cửa sổ, hai chân gập sang một bên, cây gậy đặt nằm cạnh đùi. Khung cửa sổ thấp, vừa ngang phần bụng trên của cô khi ngồi thẳng lưng, đủ để cô tựa cả người vào đó mà không cần với lên. Cô nghiêng người về phía trước, đặt một bên má lên khung gỗ, mắt nhìn ra ngoài.
Con đường phía dưới vắng và lạnh, mặt nhựa đường còn ướt từ trận mưa nhỏ buổi sáng. Một người phụ nữ lớn tuổi đi ngang qua, kéo theo cái xe đẩy hàng nhỏ, tiếng bánh xe cọ vào mặt đường phát ra tiếng kêu lạch cạch đều đặn rồi nhỏ dần khi bà đi khuất sau góc phố. Xa hơn nữa, qua những mái nhà thấp và cụm dây điện chăng ngang trời, là một dải xám nhạt của mặt biển, gần như hòa lẫn vào màu trời phía trên nó, không có đường ranh giới rõ ràng giữa hai thứ đó.
Má cô vẫn áp vào khung cửa sổ, gỗ lạnh thấm qua da. Hơi thở cô làm mờ một khoảng nhỏ trên mặt kính ngay trước miệng, mờ đi rồi tan ra rồi lại mờ đi theo từng nhịp thở. Cô không nhìn vào bất cứ thứ gì cụ thể, chỉ nhìn ra cái dải xám đó, cái nơi trời và biển không còn có phân biệt được nữa.
Một con hải âu bay ngang qua từ xa, cánh nó vỗ chậm rồi lượn một cái trước khi mất hút sau mái nhà đối diện. Cô dõi theo nó cho đến khi không còn thấy gì nữa, rồi mắt cô lại quay về cái khoảng xám phía xa, nơi cô đã nhìn từ đầu. Mẹ cô bước vào, ngồi xuống cạnh cô, một tay đặt lên lưng.
“Con có muốn ăn gì không? Mẹ làm cho.”
Kiyora lắc đầu nhẹ một cái, má vẫn áp vào khung cửa sổ.
“Con có mệt không? Có muốn nằm nghỉ một chút không?”
Cô lắc đầu lần nữa, chậm hơn lần trước.
Mẹ cô ngồi đó thêm một lúc, tay vẫn đặt trên lưng con gái. Bà nhìn ra ngoài cửa sổ theo hướng mắt Kiyora đang nhìn, không thấy gì đặc biệt ngoài con đường vắng và dải biển xám xa. Sau một lúc, bà đứng dậy, đi ra khỏi phòng, khép cửa lại nhẹ sau lưng.
Kiyora vẫn ngồi nguyên ở đó.
Ánh sáng ngoài trời đổi dần theo giờ, từ trắng nhạt của buổi trưa sang vàng nhạt hơn khi chiều bắt đầu xuống. Cô không đổi tư thế nhiều, chỉ thỉnh thoảng dịch người lại gần khung cửa hơn một chút, hoặc đổi bên má áp vào gỗ khi một bên đã mỏi. Hơi thở cô vẫn làm mờ kính rồi tan, mờ rồi tan, đều như một chiếc đồng hồ không có kim.
Bố cô vào phòng khi trời đã ngả hẳn sang chiều muộn, ánh nắng vàng cam yếu ớt trải một vệt dài trên sàn tatami. Ông không nói gì, chỉ bước đến, ngồi xuống cạnh cô, một bên gối gập lên, bên kia duỗi thẳng, lưng tựa vào tường bên dưới cửa sổ.
Hai người ngồi như vậy một lúc lâu, không ai nói gì. Tiếng sóng vọng lên từ xa, nhỏ và đều, lẫn vào tiếng gió thổi qua khe cửa.
“Con không biết tại sao con cứ đi như vậy.”
Cô nói, giọng nhỏ chỉ đủ để bố cô nghe thấy trong khi mắt vẫn nhìn ra dải biển xám xa xa giờ đây đã có những đốm sáng li ti.
“Mà giờ con vẫn muốn đi nữa.”
Bố cô không trả lời ngay. Ông nhìn ra ngoài cửa sổ theo hướng mắt cô, im lặng một lúc, hai tay đặt trên đầu gối co lên.
“Con có muốn thử đi câu không?”
Kiyora quay đầu lại nhìn ông, má vẫn còn áp một bên vào khung gỗ.
“Không phải chỉ ngồi xem bố câu nữa. Con tự cầm cần thử xem sao.”
Cô không trả lời. Cô nhìn ông một lúc, rồi quay đầu lại nhìn ra ngoài cửa sổ, không gật cũng không lắc. Bố cô đưa một tay lên, đặt lên đầu cô, xoa nhẹ vài cái làm mái tóc cô rối tung lên ở phía trên trán. Kiyora đưa tay lên vuốt lại chỗ tóc rối, trả nó về đúng vị trí cũ. Ông ngồi thêm một chút nữa rồi đứng dậy và bước ra khỏi phòng, để lại cô ngồi đó một mình với dải biển xám đang chuyển dần sang màu tối hơn khi trời sập tối.
Sáng hôm sau, khi trời còn chưa kịp sáng hẳn, Kiyora bước vào phòng bố mẹ, cây gậy gõ khẽ một tiếng khi cô đặt nó dựa vào tường gần cửa. Cô ngồi xuống sàn tatami cạnh chỗ bố cô đang nằm, một tay đặt lên vai ông.
Cô lắc nhẹ một cái. Ngón tay cô siết lại trên lớp vải áo ngủ rồi buông ra ngay, như thể còn đang cân nhắc xem có nên đánh thức ông thật hay không. Bố cô không phản ứng. Cô lắc thêm một lần nữa, mạnh hơn một chút, cả bàn tay giờ áp hẳn xuống vai ông và giữ nguyên đó thay vì rụt lại như lần trước.
Ông mở mắt, nhìn thấy cô con gái mình đang ngồi sát bên cạnh mình trong bóng tối nhập nhoạng của buổi sáng sớm. Ông chớp mắt vài cái cho tỉnh hẳn rồi mới lên tiếng, giọng còn khàn vì ngủ.
“Gì vậy con? Còn sớm mà.”
Kiyora không trả lời ngay. Cô cúi đầu xuống nhìn hai bàn tay mình đang đặt trên đùi, ngón cái xoa nhẹ lên mu bàn tay kia vài lần trước khi cô ngẩng lên.
“Con muốn thử ạ.”
Cô nói xong liền quay đầu nhìn ra phía cửa sổ, nơi trời vẫn còn tối, như thể câu vừa nói ra nặng hơn cô tưởng và cô cần một chỗ khác để đặt mắt vào. Ông nhìn cô một lúc, chưa hiểu hết câu nói trong lúc đầu óc còn chưa tỉnh táo hoàn toàn.
“Thử gì?”
Ông chống một tay xuống sàn nhổm người dậy, mắt vẫn còn ríu lại vì buồn ngủ nhưng đã hướng thẳng về phía cô, chờ câu trả lời.
“Câu cá ạ.”
Ông im lặng một lúc rồi bật cười khẽ trong cổ họng, lắc đầu, và với tay lấy chiếc áo khoác vắt trên giá gần đó.
Họ ra khỏi nhà nghỉ khi trời còn tối, chỉ có ánh đèn đường vàng cam yếu ớt soi xuống con đường bê tông dẫn ra bến cảng. Bố cô đi trước, tay xách hộp mồi và cầm cần câu vắt ngang vai. Kiyora đi sau, tay xách cái xô nhựa nhỏ còn trống, cây gậy gõ đều một nhịp bên cạnh mỗi bước chân cô trên mặt đường bê tông dài của cầu cảng.
Gió sớm thổi từ ngoài khơi vào, mang theo hơi lạnh và mùi muối đậm hơn cả những buổi sáng trước. Kiyora kéo cổ áo khoác lên cao hơn, xô nước đập nhẹ vào chân cô theo từng bước đi, tiếng nhựa cọ vào tay cầm kêu lách cách.
Họ đi đến gần cuối cầu cảng, nơi bố cô dừng lại, đặt hộp mồi xuống, mở nắp. Bên trong là mấy con mồi giả bằng cao su, hình dáng những con cá nhỏ, màu bạc lấp lánh dưới ánh đèn cầu cảng còn chưa tắt. Ông chọn một con, móc vào lưỡi câu, tay ông làm động tác đó nhanh và quen thuộc, không cần nhìn kỹ.
“Con đứng đây, để bố quăng cần cho.”
Ông vung cần một cái, sợi dây câu kéo theo con mồi bay ra xa, rơi xuống mặt nước với một tiếng tõm nhỏ, phao câu nổi lên, bập bềnh theo từng con sóng lăn tăn. Ông đưa cần câu qua cho cô, hai tay cô đón lấy, cảm nhận trọng lượng của nó khác với cây gậy cô vẫn quen cầm mỗi ngày.
“Giờ mình chỉ cần chờ thôi.”
Kiyora đứng đó, mắt nhìn cái phao nhỏ đang nhấp nhô xa ngoài mặt nước. Nó không làm gì cả, chỉ nổi lên rồi chìm xuống theo từng đợt sóng nhỏ, lặp đi lặp lại một cách vô nghĩa.
Cô nhìn nó một lúc rồi mắt cô trôi đi chỗ khác, nhìn về phía những chiếc thuyền đánh cá đang đậu im ở xa, nhìn một con mòng biển đứng một chân trên cọc gỗ mục gần đó, rỉa lông chỗ cánh. Rồi cô lại quay về nhìn cái phao, vẫn y như cũ, vẫn chỉ nổi lên chìm xuống.
Mặt trời bắt đầu nhô lên sau lớp mây dày phía chân trời, ánh sáng lan ra chậm, không đủ mạnh để xuyên qua hẳn nhưng đủ để đổi màu trời từ xám sang một thứ trắng bạc nhàn nhạt.
Không biết từ lúc nào cả hai người đã ngồi xuống mặt bê tông cầu cảng. Kiyora ngồi khoanh chân, cây gậy gỗ đặt nằm bên hông, một tay cô giữ lấy nó, tay kia chống lên đùi, cằm cô tựa vào mu bàn tay. Bố cô ngồi cạnh, hai chân duỗi thẳng ra phía trước, cần câu đặt hờ trên đùi ông, mắt ông nhìn ra biển nhiều hơn nhìn phao câu.
Phao vẫn nổi và trong xô vẫn trống như khi sáng. Kiyora ngáp một cái, không kìm mà đưa tay lên che miệng rồi lại đặt xuống đùi.
Rồi cái phao chìm.
Nó chìm nhanh và dứt khoát, không giống cách nó vẫn nhấp nhô trước đó. Kiyora ngồi thẳng dậy ngay lập tức.
“Bố, phao chìm rồi!”
Bố cô quay phắt đầu lại nhìn mặt nước, tay đã nắm chặt lấy cần câu, người hơi nhổm lên khỏi mặt bê tông.
“Kéo lên đi con, kéo từ từ thôi.”
Kiyora đứng dậy quá nhanh, cây gậy vẫn còn nằm dưới đất, hai tay cô đang giữ cần câu nên không kịp với lấy nó. Cả người cô chao đi một cái khi trọng tâm dồn không đều, đầu gối cô khuỵu nhẹ xuống. Bố cô đưa tay ra ngay, nắm lấy cánh tay cô, giữ cho cô đứng vững lại trước khi cô kịp ngã.
“Từ từ thôi, không sao, có bố đây.”
Cô đứng vững lại, hai tay vẫn siết chặt quanh cần câu, cảm nhận sợi dây đang căng ra, có thứ gì đó phía đầu bên kia đang giật liên hồi, kéo ngược lại lực cô đang dồn vào tay quay.
“Quay từ từ, đừng quay nhanh quá, để nó tự bơi mệt trước đã.”
Kiyora quay tay quay, chậm, cảm giác sợi dây kéo căng rồi chùng rồi lại căng theo từng cú vùng vẫy dưới nước. Cánh tay cô mỏi nhanh hơn cô nghĩ, các ngón tay cô siết chặt quanh tay quay đến mức đau, nhưng cô không dừng lại, cứ quay, chậm, đều, theo đúng nhịp bố cô nhắc.
“Được rồi, gần lên rồi đó, cố thêm chút nữa.”
Cô quay thêm, hơi thở cô gấp hơn, vai cô hơi run vì phải giữ cần câu ở một góc nhất định trong lúc tay kia vẫn quay đều. Rồi có thứ gì đó bạc lấp lánh xuất hiện dưới lớp nước gần mặt cầu cảng, vùng vẫy, rồi trồi hẳn lên khỏi mặt nước khi cô kéo cần lên cao.
Một con cá thu nhỏ, không lớn hơn bàn tay cô là mấy, thân nó vặn qua vặn lại trên không trung, vảy bạc lóng lánh dưới ánh nắng sớm vừa lên.
Kiyora nhìn nó, con cá bé nhỏ, chẳng có gì đặc biệt, cùng loại với những con bố cô vẫn thả lại xuống nước những ngày trước. Nhưng cô nhìn nó vùng vẫy trên không, nhìn cái đuôi nó đập liên tục, và một nụ cười lớn bật ra trên mặt cô.
Bố cô đưa tay đỡ lấy con cá, gỡ nó ra khỏi lưỡi câu một cách khéo léo, giữ nó trong lòng bàn tay đưa ra trước mặt cô.
“Giỏi lắm. Con câu được rồi đó Kiyora.”
Kiyora nhìn con cá đang nằm trong tay bố, thân nó vẫn còn giãy nhẹ, mang cá phập phồng nhanh.
“Con muốn giữ lại hay thả nó về?”
Cô nhìn con cá thêm một lúc, không nói gì. Mắt cô dõi theo cái mang đang phập phồng, cái đuôi thỉnh thoảng quẫy lên yếu ớt hơn trước.
Cô đưa hai tay ra, đỡ lấy con cá từ tay bố cô, cảm nhận thân nó lạnh và trơn trong lòng bàn tay, cái đuôi khẽ quẫy vào cổ tay cô một cái. Cô bước đến mép cầu cảng, cúi người xuống, thả hai tay ra. Con cá rơi tõm xuống nước, một vòng gợn sóng nhỏ lan ra rồi mất hút, và nó biến mất vào trong làn nước tối, không còn thấy bóng dáng đâu nữa.
Bố cô thu cần câu lại, cuộn dây gọn gàng quanh trục rồi đứng dậy phủi tay vào ống quần. Ông xách hộp mồi lên, đưa mắt nhìn cô một cái rồi hất cằm về phía con đường dẫn vào nhà nghỉ. Kiyora nhặt cây gậy dựa bên hông đứng lên theo. Cô đi cạnh ông, cái xô nhựa giờ cũng trống không như lúc đi, lắc lư nhẹ trong tay cô theo từng bước chân.
Trời đã sáng hẳn. Ánh nắng trải dài trên mặt bê tông cầu cảng, khác hẳn màu vàng cam yếu ớt của mấy tiếng trước. Cây gậy gõ đều một nhịp bên chân cô suốt quãng đường về, xen giữa tiếng bước chân của cả hai người trên nền đường vắng.
Buổi sáng hôm sau, Kiyora hỏi bố cô có thể đi cùng ra quảng trường không.
Ông gật đầu, không hỏi thêm gì, chỉ đợi cô mặc áo khoác xong rồi cùng ra khỏi nhà nghỉ. Con đường ra quảng trường ngắn hơn ra bến cảng, đi qua tiệm tạp hóa, qua bưu điện còn đóng cửa, rồi đến khoảng sân nhỏ dưới bóng một cây to, nơi mấy bộ bàn cờ gỗ đã kê sẵn từ khi nào. Kiyora đi sát phía sau lưng bố, cây gậy gõ đều theo từng bước trên nền gạch của quảng trường.
Mấy ông lão đang ngồi quanh bàn cờ dưới một gốc cây lớn, một người đang rít dở điếu thuốc, khói bay là là trong không khí lạnh buổi sáng. Khi thấy Kiyora bước đến gần, ông ta dụi tắt điếu thuốc nhanh vào cái gạt tàn cũ đặt trên bàn, mấy ông khác cũng liếc mắt qua rồi ngồi ngay ngắn lại một chút.
“Ông đến muộn đấy nhé, hôm qua thua ba ván liền còn dám vác mặt ra đây.”
Một ông lão nói, không ngẩng đầu lên khỏi bàn cờ, tay vẫn đang xếp lại quân cờ của mình.
“Thua ba ván thì hôm nay thắng lại bốn ván, có gì đâu.”
Bố cô đáp, kéo ghế ngồi xuống đối diện. Mấy ông khác cười, một người vỗ vai ông một cái, đùa thêm gì đó về cái tật hay đi nước liều của ông mà Kiyora không nghe rõ hết. Một ông lão khác, ngồi ở bàn bên cạnh, ngẩng lên nhìn thấy Kiyora đứng phía sau, cây gậy trong tay, dáng người nhỏ nhắn trong áo khoác xanh.
“Chà, hôm nay ông còn đem theo cô công chúa nhỏ à?”
Bố cô cười, có chút ngượng trong giọng, tay ông đưa lên gãi gãi sau gáy.
“Con gái tôi đấy. Nó muốn theo ra xem thôi.”
Ông lão gật gù, không hỏi thêm gì, quay lại với bàn cờ của mình. Kiyora bước đến, ngồi xuống mép ghế đá cạnh bàn cờ của bố, ở khoảng giữa hai bên đủ để nhìn thấy cả bàn cờ mà không chắn tầm nhìn của ai. Cô dựng cây gậy tựa vào cạnh ghế đá, hai tay đặt lên đùi.
Ván cờ bắt đầu, tiếng quân cờ đặt xuống mặt gỗ vang lên đều đặn, thỉnh thoảng xen vào tiếng một ông lão nào đó xuýt xoa hoặc cười khẩy khi thấy nước đi của người khác. Kiyora ngồi nhìn, không hiểu hết luật chơi, chỉ dõi theo tay của người này di chuyển quân sang ô khác, tay người kia gõ nhẹ lên bàn suy nghĩ.
Một ông lão ở bàn bên đưa tay ăn quân, nhấc con tốt của đối phương lên, đặt nó sang một bên bàn, gần chỗ Kiyora ngồi, rồi tiếp tục nhìn vào bàn cờ mà không để ý gì thêm.
Kiyora nhìn con tốt nằm chỏng chơ ở mép bàn. Cô đưa tay ra, nhặt nó lên, xếp gọn nó vào cùng mấy quân đã bị ăn khác đang nằm thành hàng nhỏ bên cạnh bàn cờ đó. Ông lão liếc qua một cái, khẽ gật đầu, không nói gì, rồi lại cúi xuống bàn cờ của mình.
Buổi chiều hôm đó, Kiyora đi cùng mẹ ra khu chợ gần bến cảng.
Chợ giờ này đông hơn buổi sáng sớm, những tấm bạt trải trên nền xi măng ẩm, cá và mực xếp thành từng khay, hơi nước bốc lên từ mấy nồi luộc cua đặt trên bếp than góc chợ. Mẹ cô đi thẳng đến một sạp quen, nơi một người phụ nữ trung niên đang xếp lại mấy con sò điệp trong thau nước đá.
“Cô ơi, hôm nay có sò tươi không?”
Người phụ nữ ngẩng lên, nhận ra ngay, nét mặt giãn ra thành một nụ cười.
“Có chứ, tôi để dành riêng cho chị đó, mới về sáng nay thôi.”
Bà đưa tay xuống dưới sạp, lấy ra một túi lưới nhỏ đã buộc sẵn, đặt lên bàn cân. Mẹ cô nhìn vào túi, gật đầu hài lòng, rồi quay sang nhìn Kiyora đang đứng phía sau, cây gậy chạm nhẹ xuống nền xi măng ẩm.
“Con bé nhà hôm nay khỏe không?”
Người phụ nữ hỏi, mắt nhìn Kiyora rồi lại nhìn mẹ cô.
“Vẫn cứ như vậy ấy, cảm ơn cô.”
Mẹ cô đáp lại rất nhanh, tay siết chặt hơn quai túi xách trên vai. Kiyora đứng lặng phía sau, ngón tay cô miết nhẹ lên đầu cây gậy một lúc rồi dừng lại.
“Sáng nay tôi còn nghe mấy người ở phố trên kể chuyện có cô bé nào bị cảnh sát dẫn về đồn, chị biết không?”
Mẹ cô cười gượng, tay vẫn cầm túi sò điệp, không trả lời ngay. Kiyora đứng yên phía sau, mắt nhìn xuống mấy con cá bày trên khay đá, không nói gì. Người phụ nữ nhìn qua lại giữa hai mẹ con một lúc, rồi có vẻ hiểu ra, bà không hỏi thêm, chỉ cười, đưa thêm một con cua tuyết nhỏ để riêng bên cạnh túi sò điệp.
“Con này tôi tặng thêm, mang về hấp cho con bé ăn, bồi bổ chút.”
Bà đẩy con cua về phía trước bàn cân, tay áo xắn cao để lộ mấy vết chai sạm vì công việc lâu năm.
“Ấy, cô đừng khách sáo vậy, để tôi trả tiền.”
Mẹ cô vội rút ví ra, ngón tay lật nhanh mấy tờ tiền bên trong.
“Thôi thôi, có đáng bao nhiêu đâu.”
Mẹ cô cảm ơn, trả tiền phần sò điệp, rồi cùng Kiyora rời khỏi sạp, đi tiếp qua mấy hàng khác trong chợ. Kiyora nhìn theo hướng người phụ nữ đó một lần nữa trước khi đi khuất sau một sạp hàng khác, rồi quay lại bước theo mẹ, cây gậy gõ đều trên nền chợ ẩm ướt.
Buổi tối hôm đó, sau bữa cơm, mẹ cô bắt đầu xếp đồ vào túi lớn đặt giữa phòng. Bà gấp từng cái áo, đặt vào túi theo thứ tự quen thuộc, tay làm mà mắt không cần nhìn kỹ. Bố cô ngồi bên bàn thấp, đang xem lại vé phà cho chuyến trở về, ngón tay ông lướt qua tờ giấy in lịch trình.
Kiyora ngồi ở góc phòng gần cửa sổ, cây gậy dựa vào tường bên cạnh, hai tay đặt trên đùi. Cô nhìn mẹ gấp từng cái áo, nhìn cái túi lớn dần đầy lên, và cái gì đó trong ngực cô siết lại.
“Mẹ.”
Mẹ cô ngẩng lên, tay vẫn giữ cái áo đang gấp dở. Bà đứng nguyên tư thế đó một lúc, nếp áo vẫn còn nhăn trong tay, như thể đang chờ xem con gái mình định nói gì tiếp.
“Con chưa muốn về.”
Bà đặt cái áo xuống, nhìn cô, không nói gì ngay. Ngón tay bà vuốt lại một nếp gấp không cần thiết trên miệng túi, một cử động thừa chỉ để có việc mà làm trong lúc đầu óc còn đang xử lý câu vừa nghe.
“Con muốn ở lại đây thêm nữa ạ.”
Bố cô đặt tờ vé phà xuống bàn, ngẩng lên nhìn cô. Không khí trong phòng thay đổi ngay lập tức, cái yên tĩnh vừa rồi trở nên nặng nề hơn. Ngón tay ông vẫn giữ nguyên trên mép bàn, không rút lại, như thể cả người ông đang khựng giữa một động tác chưa kịp hoàn thành.
“Ở lại thêm mấy ngày á?”
Mẹ cô hỏi, giọng còn nhẹ, chưa hiểu hết ý cô. Bà bước một bước về phía Kiyora, tay vẫn cầm cái áo chưa gấp xong, để nó buông thõng một bên như quên mất nó đang ở đó.
“Không phải mấy ngày ạ.”
Kiyora nhìn xuống tay mình. Cô xoay xoay đầu cây gậy giữa mấy ngón tay, mắt không rời khỏi chỗ gỗ đã mòn nhẵn vì cầm nắm quá nhiều.
“Con muốn ở lại đây một mình, sau khi bố mẹ về.”
Căn phòng im lặng hoàn toàn. Bố cô đứng dậy, không nhanh, nhưng động tác đó đủ dứt khoát để cả căn phòng nhận ra ông đang phản ứng. Ông đứng đó, hai tay khoanh trước ngực, nhìn thẳng vào cô.
“Không được.”
Giọng ông không lớn nhưng dứt khoát, dứt khoát hơn bất cứ lần nào Kiyora từng nghe từ ông. Cô ngẩng lên nhìn ông, hơi bất ngờ, tay siết chặt hơn quanh cây gậy như thể vừa bị đẩy lùi lại một bước dù không ai chạm vào cô.
“Bố…”
Cô mở miệng định nói thêm nhưng chỉ thốt được một tiếng, hơi thở nghẹn lại giữa chừng.
“Con không hiểu con đang đòi hỏi cái gì đâu.”
Ông đứng dậy, bước đến gần cửa sổ nơi cô đang ngồi, đứng đó nhìn xuống cô, hai tay ông siết lại rồi mở ra bên hông. Ông làm động tác đó vài lần liên tiếp, như đang cố nén lại điều gì mà bàn tay không giữ nổi.
“Ở đây không ai biết con là ai. Không ai biết gọi cho ai nếu có chuyện.”
Kiyora nhìn xuống cây gậy trên đùi mình, không trả lời ngay. Mẹ cô vẫn ngồi yên bên cái vali, tay bà đặt lên cái áo đang gấp dở, không cử động. Ngón tay bà chỉ khẽ miết lên lớp vải, một cử động rất nhỏ, như đang tự trấn an chính mình hơn là làm gì với cái áo.
“Con biết là khó mà bố.”
Cô nói mà không ngẩng đầu lên, giọng nhỏ đi hẳn so với câu trước.
“Không phải khó, là không được.”
Ông quay sang mẹ cô, như muốn tìm sự đồng tình. Ông đưa một tay về phía bà, lòng bàn tay ngửa ra, cái cách người ta chờ ai đó đặt thứ gì vào tay mình.
“Em nói con đi, chuyện này vô lý mà.”
Mẹ cô không trả lời ngay. Bà nhìn xuống cái áo trong tay, gấp nốt nó lại, đặt vào vali, rồi mới ngẩng lên. Bà mất khá lâu để làm xong một việc đơn giản như vậy, các ngón tay cứ nắn lại mép vải dù nó đã thẳng từ trước.
“Anh nghĩ mình giữ được nó đến bao giờ?”
Ông khựng lại. Tay ông vẫn còn giơ nửa chừng trong không khí, chưa kịp hạ xuống, như thể câu hỏi vừa rồi đã chặn đứng cả động tác lẫn câu trả lời đang định thốt ra.
“Không phải chuyện giữ hay không giữ.”
Ông nói, giọng hơi đuối đi so với lúc trước, tay cuối cùng cũng hạ xuống bên hông.
“Là chuyện đó đấy.”
Giọng mẹ cô vẫn nhẹ nhưng có gì đó bắt đầu cứng lại trong đó. Bà đứng thẳng người lên, hai tay không còn bận với cái vali nữa mà buông thẳng xuống hai bên, cả dáng đứng đổi khác hẳn so với người phụ nữ vừa cặm cụi xếp áo phút trước.
“Mình không thể đi theo nó cả đời được.”
Bà nói xong quay sang nhìn thẳng vào chồng mình, không né tránh ánh mắt ông như mọi khi.
“Vậy thì cũng không phải bây giờ.”
Ông đáp lại nhanh, gần như ngay khi bà vừa dứt câu, tay ông siết lại thành nắm đấm rồi lại buông ra ngay sau đó.
“Vậy thì bao giờ?”
Ông không trả lời. Hai người đứng đó, khoảng cách giữa họ không xa nhưng đủ để Kiyora cảm thấy mình đang ngồi giữa một khoảng trống không thuộc về mình. Cô cúi đầu xuống, nhìn vào lòng bàn tay mình, mấy ngón tay siết chặt vào nhau đến mức đốt ngón trắng bệch, cảm giác như mình vừa làm vỡ thứ gì đó không nên chạm vào.
“Con xin lỗi.”
Cô nói, nhỏ, không chắc ai trong hai người nghe được. Cả hai quay lại nhìn cô, và trong khoảnh khắc đó Kiyora chỉ muốn thu người lại nhỏ hơn nữa, vai cô so lại gần cây gậy như tìm một chỗ để tựa vào.
“Con không nên hỏi vậy đâu ạ. Con biết là khó cho bố mẹ lắm ạ.”
Bố cô nhìn cô một lúc, hàm ông siết lại rồi thả ra, ánh mắt ông dịu đi một chút nhưng vẫn còn nét gì đó chưa nguôi. Ông thở ra một hơi dài qua mũi, hai vai hạ xuống một chút như vừa trút bớt một phần sức nặng đang mang.
“Không phải con xin lỗi là xong chuyện đâu.”
Ông nói, giọng đã bớt gay gắt hơn nhưng vẫn còn nặng. Ông bước lại gần bàn, đặt tay lên mặt bàn thay vì lên vai cô, như thể còn cần một khoảng cách nhỏ giữa hai người trước khi có thể chạm vào.
“Bố không phải giận con. Bố chỉ… bố sợ.”
Kiyora nhìn ông, không nói gì. Cô hiểu điều đó, nhưng không biết phải làm gì với nó ngoài việc ngồi đó, để nó tồn tại giữa cả ba người. Cô đưa mắt nhìn qua cây gậy dựa bên tường, rồi lại nhìn về phía ông, không rời đi nữa.
“Con biết bố sợ gì mà.”
Cô nói, giọng nhỏ nhưng rõ. Cô ngẩng hẳn đầu lên lần này, nhìn thẳng vào ông thay vì cúi xuống như những câu trước.
“Con cũng sợ chuyện đó. Nhưng con sợ nhiều thứ khác hơn, nếu con không thử.”
Ông không trả lời ngay. Ông quay đi, bước lại phía góc phòng nơi cái túi câu vẫn còn nằm đó, ngồi xuống, tay ông cầm lại sợi dây nãy giờ chưa buộc xong, nhưng không làm gì với nó, chỉ giữ nó trong tay, mắt nhìn xuống sàn. Ngón tay ông xoắn sợi dây quanh mấy đầu ngón một cách vô thức, không thắt nút, không tháo ra, chỉ xoay tới xoay lui như một cách để tay có việc làm trong lúc đầu óc còn rối bời.
Mẹ cô đứng đó một lúc, nhìn ông, rồi quay sang Kiyora. Bà bước đến gần cô hơn, ngồi thụp xuống ngang tầm mắt con gái, một tay đặt lên đầu gối Kiyora.
“Nếu có chuyện gì, con phải gọi mẹ ngay, không được giấu, nghe chưa?”
Bà siết nhẹ đầu gối cô một cái, ánh mắt không rời khỏi mặt Kiyora như đang cố khắc câu đó vào đầu con gái mình.
“Dạ.”
Kiyora gật đầu, tay cô đặt lên tay mẹ đang còn ở trên đầu gối mình.
“Không phải dạ cho có đâu, mẹ nói thật đó.”
Bà nhìn cô thêm một lúc, không buông tay ra ngay, như đang chờ một phản ứng chắc chắn hơn một tiếng dạ suông.
“Con hứa mà mẹ.”
Mẹ cô nhìn cô thêm một lúc, rồi thở ra một hơi dài, bước đến ngồi xuống cạnh vali, tiếp tục xếp đồ, tay bà làm việc chậm hơn lúc nãy, như đang suy nghĩ điều gì trong lúc gấp từng cái áo.
Bố cô vẫn ngồi ở góc phòng, sợi dây câu trong tay, không nói thêm gì nữa. Ông không nhìn về phía Kiyora, cũng không nhìn về phía mẹ cô, chỉ nhìn xuống sợi dây, ngón tay ông xoay nó qua lại một cách vô thức.
Kiyora ngồi im ở mép cửa sổ, cây gậy vẫn trong tay, nhìn ra ngoài trời tối, nghe tiếng gấp áo đều đều của mẹ và sự im lặng nặng nề từ phía bố, cảm giác tội lỗi vẫn còn nằm đâu đó trong ngực cô, không tan đi.
Đêm đó Kiyora không ngủ được. Cô nằm nghiêng người, mặt quay về phía cửa sổ, tấm rèm mỏng để hé một khoảng nhỏ đủ cho ánh trăng lọt vào, vẽ một vệt sáng mờ trên chiếu tatami. Bên cạnh cô, hơi thở đều của mẹ vọng lại từ tấm futon kế bên, chậm và sâu, đã ngủ từ lâu. Phía góc phòng, chỗ bố cô nằm trống không, chăn gối vẫn còn giữ nguyên hình dáng người vừa rời khỏi.
Cô không biết ông ra ngoài từ bao giờ.
Cô nằm đó, mắt mở, nhìn vệt trăng trên chiếu không nhúc nhích, nghe tiếng gió lùa qua khe cửa sổ gỗ cũ, tiếng sóng biển vọng lên xa xa đều đặn như một nhịp thở khác của căn nhà.
Cửa phòng khẽ mở, anh sáng vàng vọt từ hành lang tràn vào một khoảng, kéo dài trên tấm thảm tatami rồi tắt ngấm khi cánh cửa khép lại, bóng tối nuốt chửng lấy cả căn phòng gần như ngay lập tức. Tiếng bước chân nhẹ di chuyển qua phòng, dừng lại ở phía futon của mẹ cô.
Rồi có tiếng thì thầm.
Kiyora nằm im, cố lắng nghe, nhưng âm thanh đến quá nhỏ, lẫn vào tiếng gió và tiếng sóng, không thành lời nào cô có thể nắm bắt được. Cô nhíu mày trong bóng tối, cố căng tai hơn, cố tách từng âm ra khỏi tiếng ồn xung quanh.
Càng cố nghe, mí mắt cô càng nặng hơn.
Cô chớp mắt một cái, cố giữ cho mắt mở, nhưng tiếng thì thầm đều đều đó, dù không rõ nghĩa, lại có một nhịp điệu ru ngủ kỳ lạ, hòa vào tiếng sóng ngoài xa thành một thứ âm thanh liên tục không đứt quãng. Cô cố tập trung thêm một lần nữa. Rồi cô không còn nghe thấy gì nữa.
Cô mở mắt khi ánh sáng đã tràn qua khe rèm, một buổi sáng khác, cô nằm yên một lúc, cố nhớ lại đêm qua, nhớ tiếng thì thầm đó, nhưng không có gì đọng lại ngoài cảm giác mơ hồ rằng có điều gì đó đã xảy ra mà cô không kịp biết. Cô hơi cắn môi, một chút bực bội với chính mình vì đã ngủ quên mất, rồi cô ngồi dậy, kéo chăn sang một bên.
Bố mẹ cô đã dậy cả rồi, đang ngồi ở bàn thấp giữa phòng, hai chén trà bốc hơi nhẹ trước mặt. Kiyora bước đến, ngồi xuống đối diện, cây gậy dựng bên cạnh.
“Bố mẹ đồng ý rồi.”
Mẹ cô nói trước, không vòng vo, tay bà xoay nhẹ cái chén trà trong lòng bàn tay. Kiyora nhìn bà, rồi nhìn sang bố, ông không nói gì, chỉ gật đầu một cái, mắt vẫn nhìn xuống chén trà của mình.
“Nhưng có mấy điều con phải nghe cho kỹ.”
Mẹ cô đặt chén trà xuống, ngồi thẳng lưng lại.
“Mỗi tối chín giờ con gọi điện về nhà, không được trễ hơn. Thuốc thì con để báo thức, uống đúng giờ, không được quên một cữ nào.”
“Dạ.”
“Chỗ nào không quen thì đừng có đi một mình vào buổi tối. Ban ngày cũng phải cẩn thận.”
Bố cô lên tiếng, giọng vẫn còn hơi cộc, không nhìn thẳng vào cô mà nhìn ra cửa sổ.
“Số điện thoại của đồn cảnh sát ở đây, bố ghi sẵn cho con rồi, con giữ trong người, lúc nào cũng phải có.”
Ông đẩy một mảnh giấy nhỏ qua bàn, gấp làm tư, nét chữ ông viết vội nhưng rõ ràng. Kiyora cầm lấy, mở ra nhìn dãy số rồi gấp lại, nhét vào túi áo khoác.
“Nếu có chuyện gì, dù nhỏ đến đâu, con cũng phải gọi ngay, không được tự chịu một mình.”
Mẹ cô nói tiếp, giọng bà đều nhưng có gì đó siết chặt lại ở cuối câu.
“Con hứa với mẹ đi.”
“Con hứa.”
Bố cô vẫn chưa nói gì thêm, tay ông cầm chén trà lên, uống một ngụm, đặt xuống, ánh mắt ông lướt qua Kiyora một lần rồi quay đi chỗ khác, như vẫn còn điều gì đó ông chưa nói ra hết nhưng không định nói nữa.
Buổi sáng đó, mọi thứ diễn ra nhanh hơn Kiyora nghĩ.
Túi xách được đưa ra ngoài, chất vào cốp xe đã đậu sẵn trước cửa nhà nghỉ. Bà cụ chủ nhà đứng ở ngưỡng cửa, tay khoanh trước ngực, nhìn theo không nói gì nhiều, chỉ gật đầu chào khi bố cô quay lại cảm ơn bà một lần nữa.
Mẹ cô là người đến gần cô trước. Bà đưa hai tay lên, đặt vào hai bên má Kiyora, giữ ở đó một lúc, ngón tay cái bà vuốt nhẹ qua gò má con gái.
“Chín giờ tối, nhớ chưa?”
“Con nhớ mà mẹ.”
Bà gật đầu, vẫn giữ mặt cô trong tay thêm một nhịp nữa trước khi buông ra, rồi kéo cô vào một cái ôm ngắn, tay bà vỗ nhẹ vào lưng cô hai cái. Bố cô đứng cạnh đó, tay đút trong túi áo khoác. Ông bước đến, đưa một tay lên đặt lên đầu cô như mọi lần, nhưng lần này bàn tay ông nán lại lâu hơn, các ngón tay ông xoa nhẹ qua tóc cô một lần rồi dừng, không rời đi ngay như thường lệ.
Ông mở miệng, như định nói gì đó, rồi lại thôi. Ông chỉ gật đầu một cái, tay rút khỏi đầu cô, quay người bước ra xe. Cả hai người lên xe, cửa đóng lại. Xe nổ máy, rời khỏi lề đường, chạy chậm dọc theo con đường nhỏ dẫn ra khỏi thị trấn.
Kiyora đứng đó, một tay giữ cây gậy, nhìn theo chiếc xe.
Nó chạy chậm lúc đầu, qua tiệm tạp hóa, qua quán mì còn đóng cửa giờ này, nhỏ dần theo khoảng cách. Cô đứng yên, không vẫy tay, chỉ nhìn, mắt dõi theo từng chuyển động của chiếc xe cho đến khi nó đến khúc cua cuối con đường chính.
Nó rẽ vào, khuất dần sau dãy nhà, rồi biến mất hẳn. Con đường trước mặt cô giờ trống không, chỉ còn vệt bánh xe mờ trên lớp bụi đường chưa kịp bay hết. Cô vẫn đứng đó, mắt vẫn nhìn về phía khúc cua, dù không còn gì để nhìn nữa.
Gió sớm thổi qua, lạnh, luồn vào cổ áo khoác cô. Một chiếc lá khô lăn qua mặt đường trước mặt cô, dừng lại rồi lăn tiếp khi có một cơn gió khác thổi tới. Xa xa, tiếng một con chim biển kêu lên, kéo dài rồi tắt.
Cô vẫn đứng đó.
Bàn tay cô siết lại quanh cán gậy, rồi lỏng ra, rồi lại siết lại. Không có ai gọi tên cô. Không có tiếng bước chân nào phía sau. Con đường vắng hoàn toàn, chỉ có cô đứng đó một mình giữa buổi sáng còn se lạnh, nhìn về phía khúc cua nơi chiếc xe đã biến mất từ lâu.
Một lúc sau, cô mới quay người lại.
Cô bước về phía cửa nhà nghỉ, cây gậy gõ đều xuống nền đường, chậm hơn mọi khi. Bà cụ chủ nhà vẫn đứng đó, nhìn cô đến gần, không nói gì, chỉ tránh sang một bên để cô bước qua khung cửa.
Kiyora đặt tay lên nắm cửa, dừng lại một giây, rồi đẩy cửa vào.
Chương 3: Bên Kia Cánh Cổng
Sáng hôm sau, Kiyora ra khỏi nhà nghỉ khi trời còn hơi tối, không ai gọi cô dậy, không có tiếng bước chân nào khác ngoài tiếng của chính cô trên cầu thang gỗ. Bà cụ chủ nhà đã quen với việc đó rồi, chỉ ngẩng lên từ sau quầy lễ tân, gật đầu chào rồi lại cúi xuống với sổ sách của mình.
Con đường ra bến cảng giờ đã thân thuộc dưới chân cô, cây gậy gõ đều theo từng bước, không còn cái dò dẫm của những ngày đầu nữa. Cô đi qua dãy nhà kho mái tôn gỉ, qua chỗ cô từng đứng lần đầu với chiếc khăn tay áp chặt lên mũi, và lần này cô chỉ hít vào một hơi bình thường, mùi tanh của cá và muối biển không còn làm cô muốn nôn nữa, chỉ còn là một phần của không khí buổi sáng, giống như tiếng động cơ tàu hay tiếng người gọi nhau.
Mấy người đàn ông quen mặt đang khuân hàng từ thuyền lên, một người trong số đó ngẩng lên thấy cô, gật đầu chào, cô gật đầu lại rồi đi tiếp, không dừng lại lâu như những lần trước. Cô đi dọc theo con đường chính của thị trấn, qua tiệm giặt đồ đã mở cửa từ sớm, qua bưu điện với người nhân viên đang quét dọn trước cửa, qua quán mì nơi mùi nước dùng xương hầm đã bắt đầu bốc lên nồng trong không khí lạnh.
Cô dừng lại trước một tiệm bánh nhỏ, cửa kính còn hơi mờ vì hơi nóng từ lò bên trong. Bên trong tủ kính bày mấy khay bánh mới ra lò, vỏ ngoài vàng nâu, một số nhân đậu đỏ, một số nhân kem trứng. Cô đứng nhìn một lúc rồi đẩy cửa vào, tiếng chuông nhỏ trên cửa kêu leng keng.
Người phụ nữ đứng sau quầy mỉm cười chào.
“Cháu muốn mua gì?”
Kiyora nhìn vào tủ kính, ngón tay chỉ vào một cái bánh bao nhỏ nhân đậu đỏ, lớp vỏ còn bốc hơi nhẹ.
“Cho cháu cái này ạ.”
Người phụ nữ gắp cái bánh vào túi giấy nhỏ, đưa qua quầy. Kiyora mở túi áo khoác, lấy ra tờ tiền lớn nhất trong ví, đưa qua. Người phụ nữ nhìn tờ tiền một cái, không nói gì, chỉ mở ngăn kéo, đếm tiền thối lại, đặt vào lòng bàn tay Kiyora cùng với mấy đồng xu lẻ.
Kiyora nhìn đống tiền lẻ trong tay một lúc, cố nhét chúng vào cái ví nhỏ mà không làm rơi cái nào, rồi từ bỏ, chỉ nắm tất cả lại trong lòng bàn tay, đút cả nắm vào túi áo khoác bên kia, đối diện với túi đựng cái bánh.
Cô cảm ơn, bước ra khỏi tiệm, tiếng chuông cửa lại kêu lên sau lưng cô.
Cái bánh vẫn còn ấm trong tay cô, hơi nóng truyền qua lớp giấy mỏng, lan vào lòng bàn tay cô đang giữ nó. Cô không ăn ngay, chỉ cầm nó, đi tiếp dọc theo con đường quen, qua khu chợ trong nhà nơi Fuyuko từng rẽ vào mất hút những buổi sáng đầu tiên, qua ngã ba nơi cô từng đứng nhìn về hai hướng không biết chọn đường nào.
Lần này cô không dừng lại ở ngã ba mà rẽ về phía trường học. Cổng trường vẫn còn đóng khi cô đến, học sinh chưa bắt đầu đến giờ này. Cô đi đến chỗ bồn hoa bê tông quen thuộc, ngồi xuống mép, đặt cây gậy ngang qua đùi như mọi lần. Cái bánh vẫn còn ấm trong tay cô, cô đặt nó lên đùi, hai tay đặt lên trên nó, cảm nhận hơi ấm truyền qua lớp vải quần.
Sương sớm còn đọng trên mấy bụi cây trong bồn hoa, từng giọt nhỏ lấp lánh khi ánh sáng đầu ngày chiếu vào. Cô ngồi đó, nhìn ra cổng trường vắng, hơi thở cô tạo thành từng làn khói mỏng tan trong không khí lạnh.
Xa xa có tiếng xe đạp, một tiếng chuông nhỏ vang lên đâu đó trong thị trấn, nhưng không phải hướng này. Cô không quay đầu lại, chỉ ngồi yên, tay vẫn giữ cái bánh ấm trên đùi, chờ đợi gì đó.
Fuyuko đến trường sớm như mọi ngày, chiếc xe đạp dựng vào hàng rào quen thuộc, cô đeo một chiếc cặp sách bằng da vắt xéo vai. Cô đi vào sân, dừng lại chỗ cổng để kiểm tra lại thứ gì đó trên điện thoại, rồi ngẩng lên. Cô thấy Kiyora ngồi ở bồn hoa bê tông, vẫn ngay chỗ đó. Cô không đi về phía đó. Chỉ nhìn một cái, ánh mắt lướt qua rồi quay lại với công việc của mình, đi vào trong sân, chào vài học sinh đến sớm, xử lý vài việc lặt vặt ở cửa văn phòng.
Học sinh đến ngày một đông hơn, từng nhóm nhỏ ùa qua cổng, tiếng cười nói, tiếng giày đá vào sỏi. Kiyora vẫn ngồi đó, cái bánh trong tay, không ăn, chỉ giữ nó, mắt nhìn xuống lớp giấy gói đã hơi nhăn vì hơi ấm bên trong.
Dòng học sinh thưa dần rồi hết hẳn. Tiếng chuông vào lớp vang lên từ bên trong. Fuyuko bước ra cổng để khép nó lại, tay đặt lên thanh sắt. Cô nhìn ra ngoài một lần nữa, thấy Kiyora vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, cái bánh vẫn còn nguyên trong tay, mắt cô ấy đang nhìn xuống nó.
Cô thở dài một hơi rồi bước ra khỏi cổng, đi chậm về phía bồn hoa, tiếng giày cao gót gõ đều trên nền xi măng, mỗi bước một nhịp rõ ràng trong buổi sáng vắng. Cô dừng lại ngay trước mặt Kiyora.
“Nếu em không mau ăn nó sẽ nguội đấy, và khi đó dạ dày của em chắc chắn sẽ không vui đâu.”
Kiyora không giật mình lần này. Mắt cô vẫn nhìn xuống cái bánh trên đùi, hơi ấm của nó đã nhạt bớt qua lớp giấy.
“Vâng, nhưng em sẽ không sao đâu ạ…”
Cô nói mà ngón tay cái vẫn miết lên mép túi giấy, không nhìn lên, giọng nhỏ dần ở cuối câu như chính cô cũng không tin lắm vào điều mình vừa nói.
“Không sao là sao? Nguội hơn nữa mà vẫn ăn thì cũng chẳng ngon lành gì đâu.”
Fuyuko đứng đó, không ngồi xuống, hai tay đút trong túi áo khoác dạ, nhìn xuống Kiyora với ánh mắt không còn cái sắc bén dò xét như những lần trước, chỉ còn một sự mệt mỏi nhẹ pha lẫn khó hiểu. Kiyora không trả lời ngay, tay cô mở túi giấy, lấy cái bánh ra, cầm nó trong tay mà không cắn.
“Sao em cứ ngồi đây mỗi sáng vậy?”
Fuyuko không hỏi tên cô, cũng không hỏi vì sao cô ngồi đây từ ngày đầu tiên. Cô ngồi thẳng xuống mép bồn hoa cạnh Kiyora, khuỷu tay chống lên đầu gối, giọng thả lỏng như đang hỏi chuyện một người quen đã lâu.
“Em không biết ạ.”
Kiyora ngẩng lên nhìn cô ấy lần đầu tiên trong cuộc gặp này.
“Em chỉ… muốn ngồi đây thôi ạ…”
Fuyuko nhìn cô một lúc, không nói gì, rồi thở ra một hơi qua mũi, không hẳn là bực nhưng cũng không nhẹ nhõm gì. Cô rút một tay ra khỏi túi áo khoác, đưa lên vuốt nhẹ mái tóc ra sau tai, ánh mắt lướt qua khoảng sân trường trống trước khi quay lại nhìn thẳng vào Kiyora, như đang cân nhắc câu tiếp theo nên hỏi thế nào cho vừa đủ.
“Thế…. bố mẹ em về rồi à?”
Câu hỏi đó khiến Kiyora hơi khựng lại. Cô nhìn xuống cái bánh trong tay, gật đầu nhẹ. Ngón tay cô siết lại quanh lớp giấy gói, một nếp nhăn nhỏ hằn lên trên đó. Kiyora ngẩng lên nhìn cô ấy lần nữa, đôi mắt hơi nheo lại như đang cố tìm ra Fuyuko biết được bao nhiêu trong chuyện này.
“Sao chị lại biết ạ?”
Fuyuko không trả lời ngay. Cô nhìn ra cổng trường nơi vài học sinh cuối cùng đang chạy vội vào trong, rồi mới quay lại nhìn Kiyora.
“Có người nhờ chị để ý em thôi.”
Kiyora chớp mắt, không hỏi thêm, dù trong lòng có một câu hỏi khác đang hình thành mà cô chưa biết diễn đạt sao cho đúng. Cô cụp mắt xuống nhìn cái bánh, ngón tay lại bắt đầu miết lên mép túi giấy như lúc nãy, chỉ là lần này chậm hơn, như đang để câu hỏi kia lắng xuống thay vì bật ra ngay.
“Mau ăn đi.”
Fuyuko nói, giọng không có gì mềm mỏng đặc biệt, chỉ là một câu ra lệnh nhẹ nhàng. Cô nhấc chân đổi tư thế đứng, một bên vai tựa hờ vào cột đèn gần đó, ánh mắt vẫn không rời khỏi cái bánh trong tay Kiyora.
“Ngồi đây nhìn em cầm cái bánh nguội ngắt cũng thấy khó chịu thay.”
Kiyora nhìn cái bánh trong tay, rồi cắn một miếng nhỏ. Nhân đậu đỏ vẫn còn ngọt dù lớp vỏ đã không còn ấm như lúc mới mua. Cô nhai chậm, mắt vẫn nhìn lên Fuyuko đang đứng đó, không có ý định rời đi ngay.
“Chị là giáo viên ở đây ạ?”
Cô hỏi giữa lúc nuốt miếng bánh, mắt vẫn ngước lên nhìn Fuyuko chờ câu trả lời.
“Ừm.”
Fuyuko đáp gọn, mắt nhìn ra xa một chút như thể câu hỏi đó không đáng để dừng lại lâu.
“Chị dạy môn gì ạ?”
Fuyuko nhìn cô một lúc, như đang cân nhắc có nên trả lời câu hỏi nhỏ nhặt này không, rồi cuối cùng cũng đáp, giọng vẫn cộc như mọi khi.
“Toán.”
Kiyora gật đầu, cắn thêm một miếng bánh nữa. Gió sớm thổi qua, làm vạt áo khoác của Fuyuko lay động nhẹ. Cô nhìn đồng hồ đeo tay, rồi nhìn lại Kiyora. Cô kéo tay áo khoác xuống che lại mặt đồng hồ, hai vai hơi nhún lên như đang chuẩn bị bước đi.
“Chị phải vào lớp rồi.”
Kiyora gật đầu, không nói gì thêm. Fuyuko đứng đó thêm một giây, như định nói gì đó nữa nhưng lại thôi, rồi quay người bước về phía cổng trường, giày cao gót gõ đều trên nền xi măng. Kiyora nhìn theo cho đến khi cô khuất sau cánh cổng, rồi cô nhìn xuống cái bánh còn lại trong tay, cắn nốt miếng cuối cùng.
Buổi chiều tan học, Kiyora đang ngồi ở bồn hoa quen thuộc thì nghe được đoạn hội thoại của mấy đứa học sinh đi ngang qua, túi sách đeo lệch vai, giọng nói rôm rả.
“Cuối tuần này mình đi dọn mộ…”
Một tiếng còi xe từ đâu đó vang lên, cắt ngang câu nói, chỉ còn sót lại vài chữ cuối trôi qua tai Kiyora.
“…sensei không?”
Đám học sinh tiếp tục bước đi, giọng nói của chúng chìm dần vào tiếng ồn của con phố, để lại Kiyora ngồi đó với một câu hỏi chưa kịp thành hình rõ ràng trong đầu. Cô không hỏi ai. Chỉ ngồi đó, tay siết nhẹ quanh cán gậy, nhìn theo bóng lưng những đứa trẻ đang khuất dần sau góc phố.
Đến cuối tuần, Kiyora đi theo, giữ khoảng cách đủ xa để không bị chú ý. Nghĩa trang nằm trên một sườn đồi nhỏ ngoài rìa thị trấn, hàng bia mộ xếp thành từng dãy không đều, lá vàng rụng đầy trên lối đi, xào xạc dưới chân mỗi khi có gió thổi qua. Nhóm học sinh, khoảng sáu bảy đứa, tụ tập quanh một khu vực gần giữa nghĩa trang, tay cầm xô nước, khăn lau, vài bó hoa cúc trắng.
Kiyora đứng lại phía sau, tựa lưng vào một tấm bia mộ cao, đủ để che khuất phần lớn thân người cô, chỉ hé mắt nhìn qua góc. Một đứa con trai cao lớn, có vẻ là người cầm đầu nhóm, chỉ tay vào một đứa khác.
“Ê, lau chỗ đó đi, còn bẩn kìa.”
Nó chỉ tay thẳng vào góc bia mộ, giọng ra vẻ chỉ huy dù cả người vẫn đứng khoanh tay không nhấc chân lên.
“Tự cậu lau đi, tớ lau chỗ này rồi mà.”
Đứa kia đáp lại, không chịu nhúc nhích ngay, hai đứa nhìn nhau một lúc trước khi đứa cao lớn thở dài, tự cúi xuống lau nốt phần còn lại, miệng lầm bầm gì đó không rõ. Chúng làm việc trong im lặng một lúc, tiếng nước xối lên đá, tiếng khăn cọ xát, thỉnh thoảng xen vào vài câu than vãn.
“Bài tập cô Aiko giao hôm qua khó quá, tớ làm cả tối không xong.”
Một đứa khác vừa vắt khăn vừa than, mặt nhăn lại như vẫn còn ám ảnh mấy con số trong đề bài.
“Mai kiểm tra nữa đó, cậu học chưa?”
Đứa ngồi cạnh hỏi mà không ngẩng đầu lên, tay vẫn đang cắm mấy cành hoa cúc vào bình.
“Học đâu mà học, tớ còn phải tập bóng chuyền.”
Một đứa con gái đứng dậy, phủi tay, nhìn quanh nghĩa trang một lượt. Nó vươn vai, đưa mắt lướt qua hàng bia mộ phía xa rồi mới quay lại nhìn đám bạn, giọng chuyển sang chuyện khác như vừa sực nhớ ra.
“Cô Fuyuko dạo này trông mệt ghê, hôm qua vào lớp mặt cứ đơ đơ sao ấy.”
Ngón tay Kiyora siết chặt lại quanh cán gậy ngay khi cái tên đó vang lên, cả người cô hơi cứng lại, tựa sát hơn vào tấm bia đá lạnh phía sau lưng.
“Chắc lại thức khuya chấm bài chứ gì.”
Cả nhóm cười nhẹ, không ai để tâm nhiều đến câu nói đó, tiếp tục công việc dọn dẹp của mình. Kiyora vẫn đứng yên, hơi thở cô chậm lại, mắt cô rời khỏi nhóm học sinh một thoáng, nhìn xuống mặt đất phủ lá khô dưới chân mình, ngón tay cái xoa nhẹ lên cán gậy theo một nhịp điệu vô thức.
Rồi cô lại ngẩng lên, nhìn về phía tấm bia mộ nhóm học sinh đang tụ tập quanh, không thể đọc rõ được dòng chữ khắc trên đó từ khoảng cách này, chỉ thấy những bó hoa cúc trắng được đặt ngay ngắn, vài nén hương đã cháy hết một nửa cắm nghiêng trong lư đá.
Trời bắt đầu tối dần, nhóm học sinh thu dọn đồ nghề, cúi đầu chào tấm bia một lần cuối rồi rời đi, tiếng cười nói xa dần theo từng bước chân xuống con dốc dẫn ra khỏi nghĩa trang, lá khô cuốn theo sau mỗi bước chân của họ.
Kiyora nhìn theo cho đến khi bóng dáng cuối cùng khuất hẳn sau cổng nghĩa trang.
Cô đứng đó thêm một lúc, nhìn về phía tấm bia mộ giờ đã vắng người, rồi cô quay người, bước ra khỏi chỗ nấp của mình, đi về hướng cổng, không lại gần tấm bia đó, chỉ lặng lẽ rời khỏi nghĩa trang trong ánh hoàng hôn đang nhạt dần, cây gậy gõ đều xuống con đường phủ lá trên đường về nhà.
Sáng hôm sau, Kiyora ra chợ một mình, không có bàn tay nào nắm lấy tay cô giữa đám đông, không có ai đi trước dò đường giúp cô. Cô đi chậm hơn khi có mẹ đi cùng, dừng lại ở những chỗ mình muốn dừng, không phải ở những chỗ người khác nghĩ là cô nên dừng.
Người phụ nữ trong một hàng hải sản nhìn thấy cô từ xa, vẫy tay. Kiyora nghe tiếng gọi, quay đầu về phía đó, cây gậy đổi hướng theo, gõ đều một nhịp trên nền chợ ẩm khi cô bước lại gần sạp hàng.
“Ơ, hôm nay con đi một mình à? Bố mẹ đâu rồi?”
Bà đặt vội con dao đang cắt dở xuống thớt, lau tay vào tấm tạp dề rồi mới bước ra khỏi quầy.
“Bố mẹ con về rồi ạ, con ở lại thêm.”
Người phụ nữ nhướn mày, nhìn cô từ trên xuống dưới một lượt, rồi bật cười, không phải cười chê mà cười theo kiểu ngạc nhiên thích thú.
“Gan thật đấy. Con gái người ta hai mươi tuổi ở nhà còn chưa dám đi chợ một mình, đằng này lại dám ở lại một cái thị trấn xa lạ.”
Kiyora không biết đáp lại sao, chỉ cười nhẹ, cúi đầu nhìn xuống mấy gói rong biển được xếp gọn trên tấm bạt cùng với chỗ cá vừa được mang vào bờ mới đây.
“Cầm thêm gói này về, hôm nay biển động, ghe về ít hàng nhưng cái này còn dư.”
Bà nhét gói rong biển vào tay Kiyora trước khi cô kịp từ chối, mấy ngón tay bà vẫn còn dính chút vảy cá bám lại từ lúc nãy.
“Con cảm ơn cô ạ.”
Cô nhét gói rong biển vào túi áo khoác, đi tiếp qua mấy sạp hàng khác, mua thêm một ít rau và một hộp đậu phụ nhỏ. Tay cô giờ đã quen với việc tính tiền, đếm tiền lẻ, không còn lóng ngóng như những ngày đầu, dù đôi khi vẫn phải nhìn kỹ mặt đồng xu một lúc mới phân biệt được mệnh giá.
Trên đường về, cô dừng lại ở cái máy bán nước tự động đặt cạnh trạm xe buýt nhỏ, nơi mấy học sinh cấp hai thường tụ tập sau giờ tan trường. Giờ này còn sớm, chỉ có một đứa trẻ đang ngồi một mình trên bậc thềm gần đó, chân đung đưa, tay cầm một cuốn truyện tranh đọc dở.
Kiyora lục túi áo khoác, lấy ra một nắm tiền xu, cố chọn đúng mệnh giá để bỏ vào khe máy. Tay cô run nhẹ vì lạnh, mấy đồng xu trượt khỏi lòng bàn tay, rơi xuống nền xi măng, lăn ra mấy hướng khác nhau, một đồng lăn vào gầm máy, mấy đồng khác nằm rải rác quanh chân cô.
Cô cúi xuống, nhưng đầu gối cô không gập được sâu như cô muốn, cây gậy chống một bên khiến tư thế cúi càng thêm khó khăn. Cô nhặt được một đồng, còn lại vẫn nằm đó.
Đứa trẻ ngồi trên bậc thềm đặt cuốn truyện tranh xuống, chạy lại, không nói gì, cúi xuống nhặt từng đồng xu một cách thành thạo, kể cả đồng đã lăn vào gầm máy nó cũng luồn tay vào lấy ra được. Nó đặt tất cả vào lòng bàn tay Kiyora đang chìa ra, rồi quay người chạy về chỗ ngồi cũ, cầm lại cuốn truyện tranh, không đợi cô nói lời cảm ơn.
Kiyora đứng đó, nhìn theo đứa trẻ một lúc, rồi nhìn xuống mấy đồng xu trong lòng bàn tay mình. Cô mua lon trà nóng, cảm nhận hơi ấm truyền qua lớp vỏ lon vào lòng bàn tay đang còn hơi lạnh vì cúi xuống nền đất.
Buổi chiều, khi cô đi ngang qua tiệm bánh để mua thêm cho bữa tối, cô thấy Fuyuko đang đứng trong đó, đang trả tiền cho một túi bánh mì nhỏ. Cả hai nhìn thấy nhau cùng lúc, có một khoảng lặng ngắn như thể không ai biết nên mở lời thế nào.
“Chào chị ạ.”
Kiyora đứng lại ngay cửa tiệm, một tay vẫn giữ chặt quai túi vải mang theo, hơi cúi đầu chào trước khi bước hẳn vào trong. Cô đứng nép sang một bên kệ bánh, không lại gần ngay, như còn ngại phá ngang lúc Fuyuko đang trả tiền.
“Ừ, chào em.”
Fuyuko cầm lấy túi bánh mì từ tay người chủ tiệm, đứng đó một lúc, mắt nhìn Kiyora rồi nhìn ra cửa như đang cân nhắc có nên nói thêm gì không.
“Em ăn uống ổn không?”
Cô hỏi mà mắt vẫn chưa rời khỏi Kiyora, tay xốc lại túi bánh mì trên vai như để có việc gì đó làm trong lúc chờ câu trả lời.
“Dạ ổn ạ. Em tự nấu được rồi.”
Kiyora đáp, khóe miệng cô nhếch lên một chút, ngón tay cô siết nhẹ quai túi vải như thể câu trả lời đó khiến cô có chút tự hào nho nhỏ.
“Ừ, tốt.”
Cô ấy gật đầu, bước ra khỏi tiệm, không nói thêm gì nữa. Kiyora đứng lại một lúc, nhìn theo bóng áo khoác dạ khuất sau góc phố, rồi mới quay vào chọn bánh cho mình.
Vài ngày sau, con đường Kiyora chọn đi hôm đó là con đường cô chưa từng rẽ vào, nằm khuất sau một dãy nhà kho cũ, cách xa cả bến cảng lẫn khu chợ, cách xa cả con đường dẫn đến trường học. Cô đi theo nó chỉ vì tò mò, vì cây gậy của cô đã đưa cô đi khắp những con đường quen thuộc và giờ cô muốn biết còn gì khác ở thị trấn này mà cô chưa thấy.
Nhà cửa ở khu này thưa hơn, cách nhau bởi những khoảng đất trống mọc đầy cỏ dại đã ngả vàng vì mùa lạnh đang đến gần. Gió thổi mạnh hơn khi cô đi sâu vào trong, không còn được che chắn bởi những dãy nhà kho ở bến cảng nữa.
Cô đi ngang qua một căn nhà hai tầng, cửa sổ tầng trên đóng kín, rèm cửa còn treo bên trong nhưng đã bạc màu vì nắng một phần vải rủ xuống lệch hẳn khỏi thanh treo như đã đứt từ lâu mà không ai buồn sửa lại. Mái ngói phủ một lớp rêu xanh xám ở góc bắc, nơi ánh nắng ít chiếu tới nhất. Cánh cửa chính đóng chặt còn ổ khóa đã han gỉ, một vệt gỉ sét chảy dài xuống dưới thành một đường nâu đỏ trên gỗ cửa.
Cô dừng lại ngay trước cánh cổng thấp.
Không có lý do rõ ràng nào để dừng đây. Cả căn nhà không có gì đặc biệt hơn những căn nhà bỏ hoang khác cô đã thấy trong đời, ở những khu phố khác, của những thị trấn khác. Nhưng chân cô không muốn đi tiếp.
Cô đứng nhìn khoảng sân nhỏ trước nhà, cỏ dại mọc cao đến đầu gối, một cái xe đạp trẻ em nằm nghiêng bên hàng rào, bánh trước đã xẹp lép, sơn tróc từng mảng để lộ lớp kim loại gỉ bên dưới. Một cái chuông gió bằng thủy tinh treo dưới mái hiên, mấy miếng thủy tinh còn lại đã ngả đục, va vào nhau phát ra tiếng kêu nhỏ mỗi khi có gió thổi qua, âm thanh mỏng và lạc lõng trong khoảng sân vắng.
Kiyora bước đến gần hàng rào, đặt một tay lên thanh gỗ đã mục một nửa, đủ mềm để cô cảm nhận được nó sẽ gãy nếu cô ấn mạnh thêm một chút nữa.
Ngực cô thắt lại.
Tay cô siết chặt lấy thanh hàng rào gỗ, những đốt ngón tay trắng khớp dưới lớp găng mỏng. Mắt cô nhìn vào khung cửa sổ tối om phía trên, nơi tấm rèm rách vẫn đung đưa nhẹ mỗi khi gió lùa qua khe cửa không kín, để lộ ra một khoảng tối sâu hun hút phía sau lớp kính bám bụi.
Cô đứng đó rất lâu, không biết vì sao mình lại đứng đây lâu đến vậy. Chân cô không nhấc lên nổi, như thể có gì đó vô hình giữ cô lại ngay trước cánh cổng gỗ đã mục ở bản lề.
Cô nhìn cái xe đạp trẻ em nằm nghiêng ngoài sân, lớp sơn đã bong tróc từng mảng để lộ lớp kim loại gỉ sét bên dưới, bánh xe phủ một lớp bụi dày như thể nó đã nằm đó qua nhiều mùa mưa nắng chứ không phải chỉ mới hôm qua. Cỏ dại mọc xuyên qua nan hoa bánh sau, cao đến gần yên xe, quấn chặt lấy khung sườn như đã mọc ở đó từ rất lâu rồi.
Cô đưa mắt sang bậc thềm trước cửa, nơi một đôi dép nhựa nhỏ, một chiếc màu hồng nhạt đã bạc màu, vẫn còn nằm đó, một chiếc lật úp xuống như vừa bị đá văng ra trong lúc vội vã.
Một giọt nước lăn xuống má cô, ấm rồi lạnh dần khi gặp không khí.
Cô đưa tay lên, gạt nó đi bằng mu bàn tay đeo găng, động tác nhanh và gọn. Một giọt nữa theo sau, cô cũng gạt đi như vậy. Cô hít vào một hơi dài qua mũi, ngực cô phồng lên rồi xẹp xuống chậm rãi, và bàn tay trên hàng rào cuối cùng cũng nới lỏng ra, để lại một vệt hằn đỏ mờ trên lớp gỗ nơi cô vừa siết chặt.
Cô đứng thêm một lúc, cái chuông gió vẫn kêu lanh canh nhỏ, gió vẫn thổi qua đám cỏ dại làm chúng ngả nghiêng theo từng đợt. Rồi cô buông tay khỏi hàng rào, quay người, bước đi theo con đường cũ, cây gậy gõ đều xuống mặt đường như chưa có chuyện gì xảy ra.
Cô không quay đầu lại nhìn căn nhà đó thêm lần nào nữa.
Sáng đó trời trở lạnh đột ngột, thứ lạnh đầu mùa đông thật sự chứ không còn là cái lạnh se của cuối thu nữa. Hơi thở của Kiyora tạo thành từng làn khói trắng đặc ngay khi cô bước ra khỏi cửa nhà nghỉ, gió biển thổi vào mặt cô buốt đến mức mắt cô hơi cay.
Cô đi bộ ra phía bờ kè chắn sóng, nơi cô chưa từng đến trong những tuần trước vì nó nằm xa hơn bến cảng chính, phải đi vòng qua một đoạn đường đất trước khi đến được lối vào con đê bê tông chạy dài ra biển.
Mặt trời đứng bóng khi cô đến nơi, ánh sáng trắng gắt phản chiếu trên mặt biển động, từng đợt sóng vỗ vào chân đê tung bọt trắng xóa rồi rút đi. Gió ở đây mạnh hơn trong thị trấn nhiều, không có nhà cửa nào che chắn, thổi thẳng từ ngoài khơi vào, lùa qua lớp áo khoác của cô, tìm đến từng khe hở nhỏ nhất.
Cô đi ra gần cuối con đê, nơi mặt bê tông rộng ra thành một khoảng bằng phẳng, đủ để cô ngồi xuống mà không sợ bị sóng đánh tới. Cô ngồi, cây gậy đặt bên cạnh, hai tay đút sâu vào túi áo khoác.
Mặt bê tông lạnh thấm qua lớp quần tất dày lên đùi cô gần như ngay lập tức.
Nắng giữa trưa, dù trắng gắt, không mang theo hơi ấm nào trong cái lạnh của gió biển đầu đông. Cô ngồi đó, nhìn ra mặt nước, nhìn những con sóng bạc đầu xô vào nhau ngoài xa, nhìn một chiếc thuyền đánh cá nhỏ đang vật lộn với sóng để quay về hướng cảng.
Ánh nắng dịch chuyển dần, từ trắng gắt chuyển sang vàng nhạt hơn khi mặt trời bắt đầu nghiêng về phía tây, bóng của cô trên mặt bê tông kéo dài ra, đổi hướng theo từng giờ trôi qua mà cô không nhận ra cho đến khi nhìn xuống thấy nó đã khác so với lúc mới ngồi.
Bụng cô sôi lên một lần, cơn đói đến rồi lại lắng xuống khi cô không đáp ứng nó, cơ thể cô đã quen với việc chờ đợi từ những năm tháng dài trong bệnh viện, nơi bữa ăn không đến theo ý muốn mà theo lịch trình của người khác.
Mấy chiếc thuyền đánh cá lần lượt quay về khi chiều xuống, động cơ của chúng rền vang trầm đục trên mặt nước đang chuyển từ xanh xám sang một màu tối hơn, gần như đen ở đường chân trời xa. Người ta gọi nhau ý ới ở phía bến, tiếng thùng nhựa va vào nhau, tiếng cười đùa của đám ngư dân sau một ngày làm việc.
Kiyora vẫn ngồi yên đó, gió lạnh hơn khi mặt trời khuất hẳn sau dãy núi phía tây. Màu trời chuyển từ cam nhạt sang tím thẫm rồi cuối cùng là màu xanh đen của đêm sắp đến. Nhiệt độ giảm nhanh, cô kéo cổ áo khoác lên cao hơn, hai tay cô lạnh cóng trong túi dù đã đeo găng, những ngón chân trong đôi giày cũng bắt đầu tê dần.
Cô không đứng dậy. Không có tiếng ai gọi tên cô vọng ra từ phía sau lưng. Không có tiếng bước chân nào tìm đến hỏi cô đang nghĩ gì, không có đồng hồ nào cô phải liếc nhìn để canh giờ về. Chỉ có tiếng sóng vỗ đều vào chân đê và tiếng gió luồn qua vạt áo cô, và cô ngồi giữa khoảng không đó, hai tay vẫn giấu trong túi, không vội vàng làm gì cả.
Đèn trên mấy chiếc thuyền neo đậu bắt đầu bật sáng, những chấm vàng nhỏ lấp lánh trên mặt nước tối, phản chiếu thành những vệt sáng dài lay động theo từng con sóng nhỏ. Xa hơn nữa, ánh đèn từ cửa sổ một căn nhà trên sườn đồi cũng sáng lên, một chấm vàng ấm áp duy nhất giữa bóng tối đang bao trùm dần lên thị trấn.
Kiyora nhìn chấm sáng đó một lúc. Bóng tối đã nuốt hẳn đường viền của dãy núi phía xa, chỉ còn lại một khối đen đặc phân biệt với bầu trời nhờ mấy ngôi sao lác đác phía trên nó. Hơi thở của cô tan thành một làn khói mỏng trước mặt mỗi khi cô thở ra, và lớp sương lạnh đã bắt đầu đọng thành những hạt li ti trên ống tay áo khoác.
Cô chống tay xuống mặt bê tông lạnh, đẩy người đứng dậy, hai chân tê cứng vì ngồi quá lâu trong cái lạnh, phải mất một lúc mới lấy lại được cảm giác đủ để bước đi vững vàng. Cô cầm cây gậy lên, ngón tay cô lướt dọc theo thân gậy trước khi nắm chặt lại, rồi gõ nó xuống mặt đê một cái, lắng nghe tiếng gõ vang lên đúng như mọi lần.
Cô bước đi trong bóng tối, dọc theo con đê dài, chỉ có ánh đèn từ mấy chiếc thuyền phía sau lưng và ánh đèn đường xa xa phía trước dẫn đường cho cô. Gió vẫn thổi mạnh, lạnh buốt qua lớp áo khoác, nhưng bước chân cô vững, cây gậy chạm đều xuống mặt đường theo từng nhịp quen thuộc.
Cô đi hết con đê, rẽ vào con đường đất dẫn trở lại thị trấn, ánh đèn từ những ngôi nhà bắt đầu hiện ra phía trước, ấm áp và quen thuộc hơn cái lạnh của biển đêm phía sau lưng cô.
Trong một buổi chiều trời nhiều mây, Kiyora đi bộ trên con đường dẫn ra khỏi thị trấn, muốn thử xem mình có thể đi được bao xa trước khi phải quay lại. Gió thổi nhẹ, bầu trời xám xịt trên đầu không báo hiệu gì nhiều ngoài một cơn lạnh sắp đến.
Rồi mưa đổ xuống, đột ngột và dày hạt. Cô vội bước nhanh hơn, cây gậy gõ gấp gáp trên mặt đường ướt, tìm đến trạm xe buýt nhỏ ở phía trước, mái che đã bạc màu nhưng vẫn còn đủ chắc để ngăn những giọt mưa lớn.
Một người phụ nữ trẻ đã ngồi đó từ trước, chiếc xe đẩy nhỏ đặt bên cạnh, tay cô đưa qua đưa lại nhẹ nhàng đẩy xe theo một nhịp điệu đều đặn, có lẽ đã ngồi đó khá lâu trước khi Kiyora đến. Vai áo khoác của cô đã khô hẳn, khác với lớp vải còn ướt sũng trên vai Kiyora, và đôi giày cô đặt song song ngay ngắn dưới ghế như đã ổn định chỗ ngồi từ lâu.
Kiyora bước vào dưới mái che, hơi thở gấp vì đoạn đường vừa chạy, nước mưa còn đọng trên vai áo khoác. Người phụ nữ ngẩng lên, mỉm cười nhẹ, nhích người sang một bên nhường thêm khoảng trống trên băng ghế dài.
“Mưa to quá nhỉ.”
Cô nói, mắt vẫn không rời khỏi chiếc xe đẩy, tay tiếp tục nhịp đẩy đều đặn dù đứa bé bên trong có vẻ đã ngủ say.
“Dạ, em không kịp trở tay luôn ạ.”
Kiyora đứng nép vào một góc mái che, giũ nhẹ vạt áo, liếc mắt nhìn vào chiếc xe đẩy bên cạnh người phụ nữ, tấm chăn nhỏ phủ bên trong hơi động đậy. Cô nghiêng đầu nhìn kỹ hơn, một bàn tay bé xíu vừa thò ra khỏi mép chăn rồi rụt lại ngay sau đó.
“Con chị ngủ ngoan quá.”
Kiyora nói, khóe miệng cô nhếch lên khi nhìn thấy bàn tay nhỏ xíu đó biến mất vào trong chăn.
“Ngủ được lúc nào hay lúc đó thôi, chứ về đến nhà chắc lại khóc cho xem.”
Người phụ nữ cười, giọng có chút mệt mỏi xen lẫn hài hước quen thuộc của những người mới làm mẹ. Cô đưa tay lên vén một lọn tóc ra sau tai, quầng thâm dưới mắt lộ rõ hơn dưới ánh sáng nhợt nhạt của buổi chiều mưa, nhưng tay cô vẫn không ngừng nhịp đẩy xe, đều đặn như một thói quen đã ăn sâu vào cơ thể.
Họ nói chuyện thêm vài câu vu vơ, về cơn mưa bất chợt, về con đường vắng dẫn ra khỏi thị trấn, về việc Kiyora không phải người ở đây. Cuộc trò chuyện nhẹ nhàng, không có gì sâu sắc, chỉ là cách hai người xa lạ lấp đầy khoảng thời gian chờ mưa tạnh.
Đứa bé trong xe đẩy bắt đầu ré lên khóc, tiếng khóc chói lên đột ngột giữa tiếng mưa rơi đều đều. Người phụ nữ giật mình quay phắt sang, tay cô đã đặt lên thành xe đẩy trước khi tiếng khóc kịp vang lên lần thứ hai.
“Ôi, xin lỗi em nhé.”
Người phụ nữ nói vội, bế đứa bé lên khỏi xe đẩy, xoay người quay lưng lại phía Kiyora, tay cô nhanh nhẹn vén áo, giọng cô nói khẽ với đứa bé những lời dỗ dành không thành câu rõ ràng. Vai cô hơi so lại, cả người đung đưa nhẹ theo một nhịp lắc quen thuộc.
Kiyora quay đầu nhìn ra màn mưa bên ngoài, để lại khoảng riêng tư cần thiết, ngón tay cô gõ nhẹ lên cán gậy theo nhịp mưa rơi xuống mái che. Cô ngồi thẳng lưng, hai tay đặt gọn trên đùi, không quay mặt lại dù tiếng khóc vẫn còn văng vẳng sau lưng.
Tiếng khóc dần dịu xuống, rồi tắt hẳn, chỉ còn lại tiếng mưa và tiếng thở đều của đứa bé đang bú. Một lúc sau, người phụ nữ quay lại, đứa bé đã ngủ thiếp trong tay bà, chỉnh lại áo khoác của mình, nhẹ nhàng đặt con trở lại xe đẩy. Bà kéo tấm chăn nhỏ đắp lại ngay ngắn, tay vỗ nhẹ vài cái lên bụng đứa bé trước khi rút tay ra.
Kiyora liếc nhìn sang, ánh mắt cô dừng lại ở gương mặt nhỏ xíu đang ngủ say đó một giây rồi quay đi ngay, như sợ mình nhìn quá lâu. Cô cắn nhẹ môi trong, ngón tay siết lại quanh cán gậy. Cô hắng giọng khẽ, ngón tay cái miết lên đường vân gỗ trên cán gậy một vòng rồi dừng lại.
“Chị ơi…”
Cô ngập ngừng, mắt cô chớp nhanh mấy cái, tay cô siết chặt hơn quanh cán gậy như đang tự cho mình thêm vài giây để lấy can đảm.
“Em nhìn bé một chút được không ạ?”
Người phụ nữ nhìn cô một giây, có chút ngạc nhiên nhẹ trước lời đề nghị đó, rồi mỉm cười, xoay nhẹ xe đẩy về phía Kiyora. Bà lùi lại nửa bước, nhường hẳn khoảng không gian trước xe đẩy cho cô.
“Được chứ, cứ nhìn thoải mái đi em.”
Kiyora cúi người xuống một chút, mắt cô dán vào khuôn mặt nhỏ bé đang say ngủ, đôi má phúng phính hồng hào, hàng mi ngắn khẽ rung nhẹ theo hơi thở đều đặn. Cô đứng đó, im lặng, không nói gì thêm, chỉ nhìn, một sự chăm chú đến mức quên cả cơn mưa vẫn đang rơi ngay sau lưng mình.
Người phụ nữ nhìn cô nhìn con mình, không hỏi gì, chỉ để yên cho khoảnh khắc đó trôi qua tự nhiên. Bà đứng lặng bên cạnh, hai tay khoanh trước ngực, ánh mắt thi thoảng liếc từ con mình sang gương mặt đang cúi xuống của Kiyora.
Một lúc sau, mưa bắt đầu ngớt dần, người phụ nữ đứng dậy, kéo mũ áo khoác của đứa bé lên cao hơn một chút để che mưa còn sót lại. Bà nắm lấy tay đẩy xe, liếc nhìn bầu trời một lượt rồi quay sang Kiyora.
“Chắc chị đi được rồi. Cảm ơn em đã trò chuyện cùng chị lúc nãy.”
Kiyora đứng dậy theo, cúi đầu chào nhẹ, cây gậy trong tay cô hơi nghiêng theo động tác đó.
“Dạ, em cảm ơn chị đã cho em nhìn bé ạ.”
Người phụ nữ khựng lại nửa bước, nhìn cô một thoáng như vừa nghĩ ra điều gì đó, rồi đưa tay ra chạm nhẹ lên vai Kiyora.
“Đợi chút đã.”
Người phụ nữ cúi xuống lục trong túi đồ treo bên hông xe đẩy, lấy ra một chiếc khăn tay nhỏ gấp gọn, dúi vào tay Kiyora.
“Cầm lấy đi, lỡ mưa lại nặng hạt giữa đường thì còn có cái lau.”
Kiyora nhận lấy chiếc khăn, ngón tay cô siết nhẹ quanh lớp vải mềm, không biết nói gì hơn ngoài một câu cảm ơn nhỏ.
Người phụ nữ mỉm cười, đẩy xe rời khỏi trạm xe buýt, bóng dáng nhỏ dần trong màn mưa đang thưa bớt. Tiếng bánh xe lăn trên mặt đường ướt cũng nhỏ dần theo, cho đến khi chỉ còn lại tiếng mưa rơi lộp độp trên mái che.
Kiyora đứng lại thêm một lúc, nhìn theo, chiếc khăn tay vẫn nằm gọn trong lòng bàn tay cô. Cô cúi xuống nhìn nó, ngón tay lướt qua đường viền thêu nhỏ ở góc khăn, rồi mới nhét nó vào túi áo khoác.
Cô bước ra khỏi mái che, cây gậy gõ xuống mặt đường ướt theo nhịp quen thuộc, tiếp tục con đường của mình khi mưa đã ngớt hẳn, chỉ còn lại vài giọt lất phất rơi xuống vai áo cô mỗi khi gió thổi qua.
Vài hôm sau, Kiyora lại đi ngang qua trường học vào giờ tan lớp.
Cô không định dừng lại ở đó, chỉ tình cờ đi qua trên đường về từ chợ, túi thức ăn nhỏ đung đưa trong tay bên kia, tay còn lại cầm cây gậy. Nhưng khi đến gần cổng trường, chân cô tự chậm lại, rồi dừng hẳn.
Cổng trường đang mở, học sinh túa ra từng nhóm nhỏ như mọi buổi chiều, tiếng cười nói, tiếng giày đá vào sỏi. Kiyora đứng đó, nhìn vào bên trong qua khoảng trống của cánh cổng, một ý nghĩ mơ hồ thoáng qua đầu cô, về việc bước hẳn vào trong, đi dọc theo sân trường một lần, chỉ để xem nó như thế nào từ góc nhìn đó thay vì từ bên ngoài.
Cô nhấc chân lên, định bước qua ngưỡng cổng. Rồi cô lại thôi. Bàn chân cô khựng lại giữa chừng, gót giày hạ xuống mặt đất chậm hơn lúc nhấc lên, và tay cô siết chặt hơn quanh quai túi thức ăn như để tự kéo mình lùi lại một bước.
Cô quay sang, bước đến chỗ bồn hoa bê tông quen thuộc, ngồi xuống mép như mọi lần, đặt túi thức ăn xuống bên cạnh, cây gậy dựng ngang qua đùi. Cô nhìn dòng học sinh vẫn đang tiếp tục chảy ra khỏi cổng, không còn cái háo hức muốn bước vào nữa, chỉ còn sự quen thuộc của việc ngồi nhìn từ đây.
Fuyuko xuất hiện ở cổng ít lâu sau, để đóng cổng thì thấy Kiyora ngồi đó. Cô không tỏ ra ngạc nhiên như những lần đầu nữa, chỉ đi đến, đứng cạnh bồn hoa. Bước chân cô chậm lại tự nhiên khi còn cách vài mét, không còn cái dáng đi thẳng một mạch ra cổng như mọi khi, mà rẽ hẳn hướng về phía Kiyora.
“Hôm nay không mang bánh à?”
Cô hỏi, mắt lướt một vòng quanh chỗ ngồi của Kiyora như đang tìm cái túi giấy quen thuộc mà không thấy.
“Hôm nay em ăn cơm tối với bà chủ nhà nghỉ ạ, bà rủ em ăn cùng nên em không ghé mua bánh nữa.”
Fuyuko nhướn mày nhẹ, có chút bất ngờ trong ánh mắt. Cô đứng thẳng người lại một chút, cái cặp da đựng tài liệu trong tay đổi từ tay này sang tay kia.
“Hai bà cháu thân nhau rồi à?”
“Cũng không hẳn thân ạ, nhưng bà tốt lắm, hay cho em đồ ăn thừa, dặn dò đủ thứ như thể em là cháu ruột của bà vậy.”
Cô nói, giọng có chút gì đó nhẹ nhõm hơn mọi khi, như đang kể một chuyện vui nho nhỏ. Fuyuko đứng đó, cặp tài liệu kẹp dưới nách, mắt nhìn xuống Kiyora với vẻ mặt đã bớt hẳn sự dò xét của những lần đầu. Khóe miệng cô nhích lên một chút, không hẳn là cười nhưng cũng không còn cái vẻ nghiêm nghị thường thấy.
“Vậy là em bắt đầu quen với chỗ này rồi đấy.”
Cô nói, giọng nhẹ hơn hẳn câu hỏi trước đó, gần như một lời nhận xét bâng quơ hơn là một câu hỏi.
“Dạ, cũng hơi hơi ạ.”
Gió chiều thổi qua, làm vạt áo khoác của Fuyuko lay động nhẹ. Cô chuyển cặp tài liệu sang tay kia, mắt cô lướt qua cây gậy đặt ngang đùi Kiyora rồi lại nhìn lên mặt cô, như đang cân nhắc câu hỏi tiếp theo. Cô hơi nghiêng đầu sang một bên, môi mím lại một thoáng trước khi mở miệng.
“Em định ngồi đây đến khi nào?”
Cô hỏi, giọng chậm rãi hơn những câu trước, như thể câu hỏi này quan trọng hơn nó thể hiện ra.
“Em không biết ạ. Có lẽ đến khi nào lạnh quá thì về.”
Kiyora đáp, mắt cô nhìn ra con đường phía trước thay vì nhìn thẳng vào Fuyuko, hai tay cô xoa nhẹ lên đầu gối như đã cảm nhận được cái lạnh đó từ trước.
“Trời sắp trở lạnh hơn đấy, đừng ngồi đây lâu quá.”
Kiyora gật đầu. Fuyuko không quay vào ngay như mọi lần, đứng đó thêm một lúc, mắt nhìn ra con đường trước trường, nơi những nhóm học sinh cuối cùng đang khuất dần sau góc phố. Cô đổi trọng tâm từ chân này sang chân kia, như đang lưỡng lự có nên hỏi thêm điều gì đó hay không.
“Em ở nhà nghỉ nào?”
Câu hỏi này khiến Kiyora hơi bất ngờ, cô ngẩng lên nhìn Fuyuko. Ngón tay cô dừng hẳn việc xoa đầu gối, cả người cô hơi xoay về phía giọng nói vừa vang lên.
“Cái nhà nghỉ nhỏ gần bến cảng ạ.”
Cô đáp, rồi hơi nghiêng đầu như tò mò không biết vì sao Fuyuko lại hỏi đến chuyện đó.
“À, biết chỗ đó.”
Fuyuko gật đầu, không nói thêm gì về chuyện đó nữa. Có một khoảng im lặng ngắn giữa hai người, không khó chịu nhưng cũng chưa đủ thoải mái để lấp đầy bằng lời nào khác. Cô nhìn xuống chân mình rồi lại nhìn Kiyora, ngón tay cô gõ nhẹ lên mặt cặp tài liệu kẹp trong tay như đang tự nhắc mình còn việc phải làm.
“Thôi, hôm nay chị tan sớm. Để chị đi cùng đến đầu đường luôn.”
Cô hất cằm nhẹ về phía con đường trước trường, tay kia đã kịp xốc lại quai cặp tài liệu.
“Vâng ạ.”
Kiyora đứng dậy, nhặt túi thức ăn lên, cây gậy gõ nhẹ một tiếng khi cô chỉnh lại tư thế cầm. Fuyuko bước cạnh cô, chậm hơn nhịp đi thường ngày của mình, giày cao gót gõ đều trên nền xi măng theo từng bước song song với tiếng gậy của Kiyora.
Hai người rời khỏi cổng trường, đi dọc theo con đường vắng dần khi ánh chiều bắt đầu nhạt màu, không ai vội nói thêm gì, chỉ có tiếng bước chân và tiếng gậy hòa vào nhau suốt quãng đường.
Vài ngày sau đó trôi qua theo nhịp quen thuộc, Kiyora ra chợ vào buổi sáng, ngồi ở bến cảng nhìn thuyền về vào buổi trưa, rồi chiều đến cô lại tìm về chỗ bồn hoa trước cổng trường, gần như đã thành một phần cố định trong ngày của cô mà không cần phải tự nhắc mình đi đâu nữa.
Hôm đó trời âm u hơn mọi ngày, mây xám dày đặc kéo thấp xuống gần mái nhà, không mưa nhưng không khí ẩm nặng, mang theo cái lạnh thấm sâu hơn là cái lạnh khô của những ngày nắng trước đó. Kiyora ngồi ở chỗ cũ, cây gậy đặt ngang đùi, hai tay đeo găng đan vào nhau đặt trên đầu gậy, chờ giờ tan lớp.
Fuyuko ra khỏi sân trường muộn hơn thường lệ hôm đó, không cầm theo chiếc cặp như mọi khi, chỉ có hai tay đút trong túi áo khoác. Cô đi đến chỗ bồn hoa, nhưng lần này thay vì đứng như những lần trước thì cô lại ngồi xuống, cách Kiyora một khoảng vừa đủ để không quá gần nhưng cũng không quá xa.
Kiyora liếc sang một cái rồi lại nhìn về phía trước. Gió thổi qua khoảng sân vắng, lay động mấy nhánh cây trụi lá bên đường, tiếng lá khô còn sót lại va vào nhau xào xạc rồi im bặt.
Fuyuko nhìn ra con đường trước mặt, nơi vài chiếc xe đạp của giáo viên khác đang lần lượt rời khỏi bãi đỗ, bánh xe cán qua vũng nước đọng từ trận mưa nhỏ hôm trước. Cô ngồi như vậy một lúc lâu, hai tay vẫn trong túi áo, vai hơi so lại vì lạnh, mắt không nhìn Kiyora mà nhìn về một điểm nào đó xa hơn, như đang cân nhắc điều gì trong đầu trước khi quyết định có nói ra hay không.
“Thế, em học cấp ba ở đâu?”
Câu hỏi đến đột ngột, giọng Fuyuko vẫn bình thản như đang hỏi về thời tiết, nhưng Kiyora khựng lại một nhịp trước khi trả lời.
“Em… em không học cấp ba ở đâu cả ạ.”
Fuyuko quay sang nhìn cô lần đầu tiên kể từ khi ngồi xuống.
“Ý em là học ở nhà à? Hay bỏ học giữa chừng?”
Cô hỏi, một bên chân bắt chéo lên chân kia, thân người hơi nghiêng về phía Kiyora như đang thực sự chờ câu trả lời chứ không chỉ hỏi cho có.
“Vâng, đại khái là vậy ạ.”
Kiyora nhìn xuống hai bàn tay đeo găng đang đan vào nhau trên đầu gậy, ngón tay cái cô xoa nhẹ lên mu bàn tay còn lại, một cử động nhỏ và vô thức.
“Em bị bệnh từ nhỏ, không đi học được đều đặn như người ta, nên bố mẹ em thuê gia sư dạy ở nhà thôi ạ. Học không có bài bản gì mấy đâu.”
Cô nói câu đó bằng cái giọng phẳng lặng, không có gì nặng nề trong đó, như đang kể một sự thật đã quá quen thuộc đến mức không còn cảm giác gì đặc biệt khi nhắc lại nữa. Kiyora nhìn xuống hai tay mình đặt trên đùi, ngón tay cô siết nhẹ vào nhau.
Fuyuko không nói gì ngay. Cô quay đầu nhìn lại về phía con đường trước mặt, hàm cô hơi siết lại rồi thả lỏng, một biểu hiện nhỏ mà Kiyora không kịp nhìn thấy vì cô đang cúi đầu nhìn xuống tay mình. Sau một lúc Fuyuko đứng dậy trước, phủi nhẹ tay lên vạt áo khoác dù chẳng có gì bám vào đó.
“Đi theo chị.”
Kiyora ngẩng lên nhìn, không hiểu ngay, hai tay cô vẫn giữ nguyên trên đầu gậy trong khi mắt cô dò theo hướng Fuyuko vừa quay người.
“Đi đâu ạ?”
Cô hỏi, đầu hơi nghiêng sang một bên, cây gậy trong tay cô chưa nhấc lên khỏi mặt đất.
“Vào trong xem thử.”
Fuyuko nói, giọng vẫn cộc như mọi khi, không có gì đặc biệt trong cách nói, như thể đó chỉ là một đề nghị bình thường không đáng để cân nhắc lâu. Kiyora nhìn cô một lúc, rồi cầm cây gậy lên, đứng dậy theo, cây gậy chạm xuống nền xi măng khi cô bước theo sau Fuyuko, hướng về phía cánh cổng trường vẫn còn để mở.
Fuyuko dẫn Kiyora vào bên trong qua cửa chính, bước chân cô đều và quen thuộc trên nền gạch lát sảnh. Kiyora đi theo sau vài bước, mắt cô lướt qua từng góc của tòa nhà, những tấm bảng thông báo dán kín giấy tờ, dãy cửa sổ cao dọc hành lang, ánh sáng chiều hắt vào qua đó nhạt hơn hẳn so với lúc còn ngoài sân.
Tòa nhà giờ này mang một sắc thái khác hẳn với những gì cô vẫn thấy từ ngoài cổng. Không có tiếng ồn ào của học sinh, không có tiếng giày chạy rầm rập, chỉ còn một sự yên tĩnh đặc trưng của không gian công cộng khi đã vắng người, màu sắc quanh đó cũng như phẳng lặng hơn, tường sơn trắng ngả xám dưới ánh đèn huỳnh quang chưa bật hết, sàn nhà phản chiếu mờ mờ bóng của cả hai người đang đi.
Đâu đó rất xa, có tiếng nhạc cụ vang lên đứt quãng, có lẽ từ một câu lạc bộ nào đó đang tập luyện, âm thanh mỏng và lạc lõng trong sự tĩnh lặng bao trùm cả tòa nhà.
Kiyora nhìn lưng Fuyuko phía trước, tà áo khoác dạ lay động nhẹ theo từng bước chân, mái tóc buộc gọn phía sau gáy. Cô theo sau, cây gậy gõ khẽ xuống nền gạch, âm thanh của nó vang hơi rõ hơn bình thường trong cái không gian trống trải này.
Họ dừng lại ở khu vực thay giày gần lối vào chính, dãy tủ nhỏ xếp thành hàng dài dọc tường, mỗi ô có một cái nắp gỗ đánh số, một vài ô để hở, một vài ô đóng kín.
“Chân em size bao nhiêu?”
Kiyora hơi bất ngờ vì câu hỏi đột ngột.
“Dạ, hai mươi hai với hai mươi hai rưỡi ạ.”
Fuyuko gật đầu, đi dọc theo dãy tủ, mắt lướt qua từng số ghi trên nắp. Cô dừng lại ở một ô, mở ra, bên trong là một đôi giày vải trong nhà màu trắng ngả kem, phần mũi đã sờn nhẹ.
“Con bé chủ đôi này nghỉ ốm cả tuần rồi, chắc không sao đâu.”
Cô lấy đôi giày ra, mang lại đưa cho Kiyora. Kiyora ngồi xuống bậc thềm gỗ thấp đặt sẵn ở khu vực đó, cây gậy tựa vào người cô. Cô cúi người, cởi dây đôi giày thể thao trắng của mình ra, đặt sang một bên, rồi cầm lấy đôi giày vải trong tay.
Vải đã ngả màu nhẹ ở phần gót, kiểu ngả màu chỉ có được sau nhiều lần giặt, không phải vì cũ mà vì được dùng thường xuyên và chăm sóc đều đặn. Cô lật mặt trong lên, thấy một chỗ từng có tên viết bằng bút dạ, giờ chỉ còn lại vệt mờ không đọc được, nét chữ đã phai gần hết qua thời gian.
Cô xỏ chân vào. Đôi giày ôm chân cô hơi khác so với đôi giày thể thao cô vẫn mang, phần mũi rộng hơn một chút, phần gót lỏng hơn một chút, như thể được làm cho một dáng chân khác, quen với những bước đi khác với bước đi của cô.
Cô đứng dậy rồi thử bước một bước nhỏ trên nền gạch, cảm nhận sự khác biệt đó qua từng ngón chân.
Họ đi dọc theo hành lang, Kiyora bước chậm hơn Fuyuko một chút, mắt cô nhìn qua từng khung cửa kính của các lớp học họ đi ngang qua. Vào hàng dài bàn ghế xếp thành hàng ngay ngắn bên trong, vào chiếc bảng đen còn sót lại vài dòng chữ phấn chưa xóa hết, vào ánh nắng chiều chiếu vào tạo thành những vệt dài trên sàn gỗ của từng lớp.
Từ tầng trên vọng xuống tiếng bước chân chạy rầm rập, có là là ai đó đang rất gấp gáp, tiếng giày đạp vào sàn gỗ kéo dài rồi im bặt, rồi lại vang lên ở một hướng khác.
Kiyora dừng lại trước một tấm bảng thông báo dán ngay ngoài cửa một lớp học, tấm bảng bằng bần với đủ loại giấy ghim chồng lên nhau. Cô đứng đó, mắt cô đi từ góc này sang góc khác của tấm bảng.
Có những mảnh giấy viết chữ nắn nót, từng nét đều tăm tắp, chắc là của học sinh giỏi chữ đẹp nào đó trong lớp. Có những mảnh khác viết vội, chữ nghiêng ngả, một vài chữ bị gạch xóa rồi viết đè lên. Một góc bảng dán mấy bức vẽ nhỏ, hình một con mèo với đôi mắt to quá khổ, hình một ngôi nhà có ống khói bốc lên những vòng tròn xoắn ốc thay vì khói thẳng. Bên cạnh đó là một tờ giấy kẻ bảng, ghi danh sách trực nhật trong tuần, tên học sinh xếp theo cột, mỗi tên ứng với một công việc, quét lớp, lau bảng, đổ rác, tưới cây.
Kiyora đọc từng cái tên trên đó, chậm, như đang cố nhớ chúng dù không quen biết một ai trong số này. Fuyuko đã đi được vài bước phía trước, nhận ra Kiyora không theo kịp thì dừng lại, cô quay đầu nhìn về phía sau, một tay đút trong túi áo khoác.
Kiyora nhìn thêm một lúc nữa rồi mới rời mắt khỏi tấm bảng, bước tiếp về phía Fuyuko đang đứng đợi mình.
Họ đi đến cuối hành lang, nơi một cánh cửa gỗ có tấm biển nhỏ ghi tên lớp gắn phía trên khung. Fuyuko dừng lại trước cửa, tay đặt lên nắm cửa nhưng chưa kéo ra ngay.
“Lớp chị chủ nhiệm đấy.”
Fuyuko kéo cửa ra rồi lùi sang một bên, và Kiyora bước qua ngưỡng cửa vào trong.
Căn phòng rộng hơn cô tưởng, dãy bàn ghế xếp thành sáu hàng dọc, mỗi hàng sáu bộ, mặt bàn gỗ đã lên nước bóng ở những chỗ tay người tì vào nhiều nhất qua năm tháng. Ánh nắng chiều lọt qua dãy cửa sổ bên trái phòng, xuyên qua từng khe rèm chưa kéo hết, đổ thành những dải sáng dài song song nhau trên nền sàn gỗ, cắt ngang qua các hàng bàn, nhuộm một màu vàng cam ấm lên mặt bàn gỗ sẫm.
Bụi lơ lửng trong không khí, chỉ nhìn thấy được nhờ những dải nắng đó, trôi chậm rãi như không có trọng lượng.
Phía trên bảng đen, một dải băng rôn giấy màu đã bạc bớt màu theo thời gian, có lẽ được dán từ đầu năm học, hàng chữ trên đó viết nắn nót một câu khẩu hiệu gì đó về sự cố gắng, vài chữ cái đã bong keo, cong vênh lên khỏi mặt tường. Hai bên bảng, những góc tường được trang trí bằng giấy màu cắt hình các mùa, một bên là lá đỏ mùa thu cắt từ giấy thủ công, một bên là bông tuyết trắng được cắt một cách vụng về, có lẽ chuẩn bị trước cho mùa đông sắp tới.
Phía sau lớp, một kệ sách thấp kê sát tường nới một đống những quyển sách và vở xếp không ngay ngắn, vài cuốn nằm nghiêng chồng lên nhau. Bên trên kệ sách là một hàng chậu cây nhỏ, có cây còn xanh tốt, có cây đã héo úa vì thiếu người chăm.
Một góc tường khác dán đầy những bức tranh vẽ tay, có lẽ là bài tập môn mỹ thuật, mỗi bức ký tên nhỏ ở góc dưới, nét vẽ non nớt nhưng đầy màu sắc, hình ảnh biển, hình ảnh núi, hình ảnh một ngôi trường được vẽ theo trí tưởng tượng riêng của từng đứa trẻ, không giống với ngôi trường thật chúng đang ngồi học.
Bàn giáo viên đặt ở góc trước, gần cửa sổ nhất, một chồng vở đã chấm dở xếp gọn một bên, một cái cốc uống nước, một bình hoa nhỏ cắm vài cành hoa dại đã héo cánh, có lẽ học sinh nào đó hái tặng.
Kiyora đứng ở giữa lối đi, nhìn quanh một vòng, ánh nắng chiếu qua vai cô đổ bóng dài trên sàn, xuyên qua chỗ cô đứng rồi lại chiếu tiếp lên hàng bàn phía sau. Fuyuko bước vào sau cô, khép cửa lại nhẹ, bước đến bàn giáo viên, đặt túi xuống rồi nhìn Kiyora đứng đó nhìn ngắm căn phòng này đây.
Kiyora bước vào lối đi giữa hai hàng bàn đầu tiên, cây gậy chạm khẽ xuống sàn gỗ theo từng bước chậm. Cô giữ nó gần người hơn bình thường, không để nó rộng như khi đi ngoài đường.
Mặt bàn đầu tiên cô đi ngang qua để trống, chỉ có một vệt mực khô đã cũ ở góc, không rõ hình thù gì. Bàn kế tiếp có một cái hộp bút nhựa màu xanh ai đó để quên, nắp hộp bị bung ra một góc để lộ vài cây bút chì thò đầu ra ngoài. Cô nhìn nó, tay cô hơi nhấc lên khỏi cán gậy, ngón tay co lại như định chạm vào cái hộp, cô dừng lại rồi hạ bàn tay xuống.
Cô đi tiếp đến một bàn khác có cuốn vở đang mở dở, chữ viết dày đặc trên trang giấy, vài chỗ gạch xóa, một hình vẽ nhỏ nguệch ngoạc ở lề trang. Kiyora dừng lại lâu hơn trước bàn này, mắt cô đọc lướt qua những dòng chữ, dù không thể hiểu hết nội dung viết gì, chỉ nhìn vào nét chữ, vào cách người viết ấn bút mạnh ở một số chỗ và nhẹ ở chỗ khác.
Cô nghiêng đầu, cố hình dung ra người ngồi ở chỗ này mỗi ngày, dáng ngồi thế nào, cầm bút tay nào, có hay nhìn ra cửa sổ giữa giờ học không. Tay cô lại nhấc lên, lần này hướng về phía cuốn vở, ngón tay dừng lại cách trang giấy một khoảng rất nhỏ.
Cô lại rút tay lại, siết chặt quanh cán gậy như để tự nhắc mình thứ gì đó.
Cô đi tiếp đến cuối hàng bàn, nơi ánh nắng chiếu rõ nhất qua khung cửa sổ, bụi bay lơ lửng trong luồng sáng đó, chậm và không trọng lượng. Cô đứng lại, không đi tiếp ngay, mắt cô nhìn từ hàng bàn này sang hàng bàn khác, từng cái ghế đẩy vào không đều nhau, cái thì thẳng hàng, cái thì lệch một góc, dấu vết của những người vừa đứng dậy vội vã khi tan học.
Fuyuko vẫn ngồi ở bàn giáo viên phía trước, cô vẫn cúi đầu xuống chồng vở mà không nhìn theo Kiyora, để cô một mình với căn phòng.
Kiyora bước đến gần bảng đen, đứng đối diện với nó, những dòng chữ phấn còn sót lại từ buổi học nào đó chưa được xóa hết, vài công thức toán, một mũi tên nối hai cụm từ, tất cả đã mờ đi vì lớp bụi phấn cũ chồng lên.
Cô quay người lại, nhìn ra những hàng bàn trống, nhìn từ vị trí này, vị trí mà suốt hai mươi năm qua chưa một lần cô được đứng vào. Góc nhìn đó khác hẳn, các dãy bàn ghế giờ trải dài trước mặt cô như một khoảng không gian đang chờ đợi gì đó, ánh nắng chiều vẫn còn vương trên vài mặt bàn phía xa.
Cô nhìn xuống cái khay đựng phấn bên dưới bảng, vài viên phấn trắng nằm lẫn với một viên phấn màu vàng đã gãy đôi, bụi phấn phủ mỏng khắp mặt khay gỗ.
Cô cởi găng tay bên phải ra, nhét vào túi áo khoác rồi đưa tay xuống cầm lấy một viên phấn trắng.
Nó nhẹ hơn cô tưởng, bề mặt hơi nhám dưới đầu ngón tay. Cô đưa nó lên gần bảng, ngón tay ấn nhẹ đầu phấn vào mặt bảng đen, định viết thử một chữ gì đó, có lẽ chỉ là một nét gạch đơn giản.
Cô ấn hơi mạnh tay làm viên phấn vỡ vụn trong tay cô, một tiếng lách tách nhỏ, mảnh vỡ rơi lả tả xuống khay rồi xuống sàn, bụi trắng bám đầy lên đầu ngón tay và lòng bàn tay cô, một vệt phấn kéo dài trên mặt bảng nơi cô vừa ấn xuống, ngắn và không thành hình chữ nào cả.
Kiyora nhìn xuống tay mình, mấy đầu ngón tay giờ trắng xóa, bụi phấn lấp đầy những đường vân tay. Cô xoa hai lòng bàn tay vào nhau, cố phủi lớp bụi đi, nhưng nó chỉ lem ra thêm, bám cả vào phần da giữa các ngón tay.
Cô đưa tay lên gần miệng, định thổi bụi đi, rồi lại thôi, chỉ tiếp tục xoa nhẹ hai bàn tay vào nhau thêm vài lần, bụi phấn vẫn còn vương lại thành một lớp mờ trắng trên da.
Cô nhìn tay mình một lúc, rồi nhìn lên mẩu phấn gãy còn lại trong khay, không cầm thêm viên nào nữa.
Cô quay người, bước đến dãy bàn đầu tiên gần bảng nhất, kéo ghế ra, ngồi xuống. Bụi phấn còn vương trên các đầu ngón tay khi cô đặt hai lòng bàn tay lên mặt bàn gỗ trước mặt, cảm nhận độ mát và độ nhẵn của nó dưới da, khác hẳn với cây gậy cô vẫn nắm mỗi ngày.
Fuyuko không ngẩng lên ngay. Cô vẫn cúi đầu bên chồng vở, cây bút đỏ trong tay gạch vài đường ngắn trên trang giấy, tiếng ngòi bút cọ vào giấy nhỏ và đều. Một lúc sau cô mới lên tiếng, không nhìn về phía Kiyora.
“Hồi có gia sư, em học môn gì nhiều nhất?”
Kiyora vẫn ngồi yên, hai tay đặt trên mặt bàn, ngón tay còn vương chút bụi phấn trắng.
“Văn với tiếng Anh ạ. Toán thì em học ít lắm, vì hay phải nghỉ giữa chừng vì bệnh em trở nặng ạ.”
Cô đáp, ngón tay cô miết nhẹ một đường trên mặt bàn, dừng lại đúng chỗ có một vết khắc nhỏ ai đó để lại từ trước, rồi tiếp tục nói mà không ngẩng đầu lên.
“Có lần đang học được nửa buổi thì phải đi viện, gia sư về mà bài vẫn còn dang dở trên bàn, tối về em phải tự đọc nốt lấy.”
“Vậy môn nào em thích nhất?”
Cô nghĩ một lúc, mắt nhìn ra khung cửa sổ bên trái, nơi ánh nắng đã bắt đầu ngả sang màu cam đậm hơn.
“Em nghĩ là Văn ạ. Chị gia sư hay đọc truyện cho em nghe, xong hỏi em nghĩ nhân vật sẽ làm gì tiếp theo.”
Fuyuko gật đầu nhẹ, vẫn chưa ngẩng lên khỏi chồng vở.
“Chắc đoán trúng suốt nhỉ.”
Cô nói, khóe miệng nhích lên một chút dù mắt vẫn dán vào trang giấy trước mặt.
Kiyora cũng mỉm cười theo, rồi cô nhìn xuống hai bàn tay mình trên mặt bàn nơi những ngón tay cô khẽ cử động, cảm nhận độ nhẵn của gỗ dưới da. Ánh sáng trong phòng đã đổi khác so với lúc họ mới vào, những dải nắng vàng cam giờ đã dịch chuyển sang phía cuối lớp, hắt lên tường thay vì lên mặt bàn như trước, màu sắc cũng đậm hơn, ngả dần sang cam sẫm báo hiệu chiều đang xuống.
Fuyuko gấp chồng vở lại, đặt cây bút đỏ lên trên, đứng dậy.
“Về thôi, muộn lắm rồi.”
Kiyora gật đầu, đứng dậy khỏi ghế, đẩy nó vào lại đúng vị trí dưới gầm bàn. Cô nhìn quanh phòng học một lần cuối, dãy bàn ghế, tấm bảng đen còn vệt phấn cô vừa để lại, hàng tranh vẽ dán trên tường giờ đã nhuộm một màu cam nhạt của nắng chiều.
Họ ra khỏi phòng, Fuyuko khóa cửa lại, tiếng chìa khóa xoay trong ổ khóa vang lên rõ trong hành lang vắng. Họ đi ngược lại con đường đã đến, qua dãy lớp học, qua tấm bảng thông báo Kiyora từng dừng lại đọc, xuống đến khu vực thay giày.
Kiyora ngồi xuống bậc thềm, cởi đôi giày vải ra, đặt lại vào đúng ô tủ Fuyuko đã lấy ra lúc nãy, xỏ lại đôi giày thể thao trắng của mình vào chân. Fuyuko đứng chờ, tay đút trong túi áo khoác. Họ ra đến cổng trường khi trời đã ngả hẳn sang chiều muộn, bầu trời phía tây nhuộm một dải màu cam đỏ kéo dài trên đường chân trời.
Fuyuko dừng lại ở chỗ dựng xe đạp, tay đặt lên ghi đông nhưng chưa đẩy đi. Cô nhìn Kiyora một lúc, ánh mắt lướt từ khuôn mặt cô xuống cây gậy đang tựa vào chân cô, rồi cô liếc về phía con đường dẫn ra khỏi cổng trường. Trời đã bắt đầu sẫm màu hơn lúc họ còn trong lớp học, những đám mây mỏng phía chân trời nhuộm một màu tím nhạt lẫn với cam, ánh sáng ban ngày đang rút dần khỏi mọi vật.
“Để chị đi cùng em một đoạn, cho chắc.”
Kiyora hơi khựng lại, ngón tay siết nhẹ quanh cán gậy.
“Dạ không cần đâu ạ, em tự về được mà.”
“Chị biết em tự về được. Nhưng đi cùng cho chắc thôi.”
Fuyuko không đợi cô trả lời thêm mà cứ thế đẩy xe đạp bước đi. Bánh xe kêu cọt kẹt nhẹ mỗi vòng quay, âm thanh đều đặn hòa vào tiếng bước chân của cả hai. Kiyora đứng đó một giây rồi bước theo, cây gậy gõ đều xuống mặt đường bên cạnh tiếng bánh xe lăn chậm rãi.
Họ đi trong im lặng một đoạn, con đường về hướng bến cảng vắng người vào giờ này, chỉ có ánh đèn đường vừa bật lên, tỏa những quầng sáng vàng cam rải rác dọc lề đường, mỗi quầng sáng cách nhau một khoảng tối trước khi đến quầng tiếp theo. Gió đã lạnh hơn, mang theo hơi muối biển quen thuộc, luồn qua cổ áo khoác của cả hai người. Vài chiếc lá khô cuối mùa lăn lóc trên mặt đường, bị gió đẩy đi từng đoạn ngắn rồi dừng lại.
“Chị không cần phải đi đường này đâu ạ, chị ở hướng khác mà.”
Kiyora nói, đầu hơi nghiêng sang phía Fuyuko, bước chân cô chậm lại một nhịp như đang chờ một lời giải thích.
“Không sao, tiện đường thôi.”
Kiyora không hỏi thêm, dù cô nhớ mang máng nhà Fuyuko chắc không nằm về phía bến cảng, vì mỗi buổi sáng chiếc xe đạp đó vẫn đến từ hướng ngược lại, từ phía những con dốc nhỏ nằm sâu trong thị trấn.
Họ đi tiếp một đoạn, tiếng bánh xe lăn đều bên cạnh cây gậy, hai âm thanh xen kẽ nhau thành một nhịp điệu riêng của buổi chiều tà. Một con mèo hoang băng qua đường phía trước, nó dừng lại nhìn cả hai một giây rồi biến mất vào con hẻm tối bên cạnh một căn nhà kho. Kiyora liếc sang nhìn Fuyuko, thấy cô đang nhìn về phía trước, ánh mắt hướng ra khoảng trời đang tối dần phía chân trời, không nhìn vào bất cứ thứ gì cụ thể.
Có gì đó trong khuôn mặt cô lúc này khác hẳn với vẻ điềm tĩnh thường thấy, khóe miệng chùng xuống, đôi mắt như đang chìm vào một khoảng nào đó rất xa, nặng nề hơn tuổi của cô đáng lẽ nên có. Ánh đèn đường quét qua mặt cô mỗi khi họ đi ngang một cột đèn, kéo dài rồi thu ngắn cái bóng đổ trên mặt nhựa.
Kiyora không nói gì, chỉ nhìn thêm một giây rồi quay mặt đi trước khi Fuyuko kịp nhận ra mình đang bị nhìn. Cô nhìn xuống mũi giày của chính mình, bước đều theo nhịp cây gậy.
Ngay sau đó Fuyuko chớp mắt một cái, quay sang nhìn Kiyora, khuôn mặt trở lại vẻ bình thường như chưa có gì xảy ra, đường nét lại trở nên phẳng lặng, kiểm soát như mọi khi. Ngón tay cô siết nhẹ lên tay lái xe đạp một cái rồi thả lỏng ra ngay, như vừa gạt đi thứ gì đó trong đầu.
“Nếu ngày xưa không bị bệnh, em nghĩ mình sẽ làm gì?”
Câu hỏi đến bất ngờ, khiến Kiyora phải mất một lúc mới xử lý được. Cô cảm thấy có gì đó thắt lại trong ngực, không hẳn khó chịu, chỉ là một cảm giác lạ, như bị hỏi về một căn phòng cô chưa từng bước vào, thậm chí chưa từng biết nó tồn tại.
“Em… không biết ạ.”
Cô đáp, mắt cô chớp nhanh mấy cái, tay siết chặt hơn quanh cán gậy như đang cố tìm câu trả lời ở đâu đó trong bóng tối phía trước.
“Không phải cần trả lời đúng đâu, em chỉ là nghĩ thử thôi.”
Kiyora im lặng, bước chân chậm lại một chút, cây gậy gõ đều hơn xuống mặt đường như để lấp đầy khoảng lặng đó. Cô cố hình dung ra một phiên bản khác của chính mình, một người không phải đo nhịp thở mỗi sáng, không phải nhớ giờ uống thuốc, nhưng hình ảnh đó cứ mờ nhạt, không rõ nét, như một bức ảnh chụp thiếu sáng.
“Em thật sự không biết ạ.”
Cô nói lại, lần này giọng nhỏ hơn, có chút gì đó gần như xấu hổ trong đó.
“Em chưa bao giờ nghĩ xa đến vậy. Lúc nào cũng chỉ nghĩ đến việc ngày mai có khỏe hơn không thôi.”
Fuyuko không nói gì ngay, chỉ tiếp tục đẩy xe đi, tiếng bánh xe lăn đều trên mặt đường nhựa. Cô liếc sang nhìn Kiyora một cái, rồi lại nhìn về phía trước. Một chiếc xe tải nhỏ chạy ngang qua từ hướng ngược lại, đèn pha quét qua cả hai người rồi khuất dần, để lại con đường tối hơn một chút sau khi ánh sáng đó đi qua. Fuyuko nheo mắt lại một thoáng khi luồng sáng lướt qua, tay cô siết chặt ghi đông xe cho đến khi chiếc xe tải khuất hẳn.
“Cũng không sao. Có người mất cả đời mới biết mình muốn gì mà, nên em cũng đừng lo gì cả.”
Kiyora nhìn xuống mặt đường, không biết đáp lại sao. Cô bước tiếp vài bước, môi khẽ mím lại, ngón tay xoay nhẹ đầu cây gậy trong lòng bàn tay như đang lăn câu nói đó qua lại trong đầu mà chưa tìm được chỗ đặt xuống.
Họ đi đến gần chỗ rẽ vào con đường dẫn tới nhà nghỉ, ánh đèn từ cửa sổ mấy căn nhà ven đường đã sáng lên, ấm áp trong bóng tối đang buông xuống, khói bếp từ một căn nhà nào đó bay là là trong không khí lạnh, mang theo mùi thức ăn thoang thoảng.
Fuyuko dừng lại ở đó, một chân chống xuống đất, tay vẫn giữ ghi đông xe.
“Chị về đây. Gặp lại sau nhé.”
Kiyora cúi đầu chào nhẹ, cây gậy trong tay cô nghiêng theo động tác đó, hai tay cô siết lại trước bụng trong một khoảnh khắc ngắn trước khi buông ra.
“Dạ, em cảm ơn chị.”
Fuyuko gật đầu, leo lên xe đạp, đạp đi theo hướng ngược lại với hướng cô vừa nói dối là tiện đường, bóng cô nhỏ dần dưới ánh đèn đường rồi khuất hẳn ở một khúc rẽ. Kiyora đứng nhìn theo một lúc, cây gậy tựa nhẹ vào chân mình, rồi cô quay người bước về phía nhà nghỉ, cây gậy gõ đều theo từng bước trong bóng tối đang phủ dần lên con đường, hơi thở cô tạo thành từng làn khói mỏng tan nhanh trong không khí lạnh.
Vài ngày sau, trời đã đổ tuyết xuống thị trấn nhỏ.
Kiyora thức dậy vì một sự yên tĩnh khác thường, không phải tiếng sóng, không phải tiếng gió rít qua khe cửa như mọi hôm, mà là một thứ im lặng đặc quánh, như thể cả thị trấn vừa được ai đó phủ một lớp bông lên trên. Cô kéo rèm ra, và cả khung cửa sổ trắng xóa, những bông tuyết đầu tiên của mùa đông rơi chậm rãi, từng bông một, không vội vã, đáp xuống mái nhà đối diện, xuống con đường, xuống cả cái xe đạp ai đó dựng quên ngoài sân từ tối qua, phủ lên yên xe một lớp trắng mỏng.
Cô đứng đó một lúc lâu, không có tiếng động nào lớn hơn tiếng tuyết rơi, mà bản thân tuyết rơi cũng gần như không có tiếng động gì cả, chỉ là một sự chuyển động chậm rãi trong không khí, im lặng đến mức cô có cảm giác nếu mình nín thở, cô có thể nghe được cả tiếng bông tuyết chạm xuống đất.
Cô mặc áo khoác, xỏ giày, bước ra ngoài dù chưa ăn sáng. Tuyết dưới chân cô kêu lạo xạo nhẹ mỗi bước, một âm thanh cô chưa từng nghe trước đây, khác hẳn với tiếng bước chân trên gạch men hay đường nhựa. Cô đứng giữa con đường vắng, ngửa mặt lên trời, để vài bông tuyết rơi xuống má, tan ngay khi vừa chạm da, để lại một vệt lạnh mỏng rồi biến mất.
Đâu đó gần bến cảng có tiếng trẻ con cười đùa, cô đi về hướng đó, thấy vài đứa trẻ đang nặn một khối tuyết nhỏ chưa ra hình thù gì rõ ràng, tay chúng đỏ ửng vì lạnh nhưng không đứa nào chịu đeo găng. Cô đứng nhìn từ xa một lúc, không đến gần, chỉ nhìn, môi cô hơi cong lên thành một nụ cười nhỏ không dành cho ai xem.
Đột nhiên một quả cầu tuyết từ đâu đó bay trúng vai cô.
Cô giật mình quay lại, tuyết vụn rơi xuống từ vai áo khoác. Một đứa trong nhóm đứng sững lại, hai tay vẫn còn giữ nguyên tư thế vừa ném xong, mặt nó tái đi vì sợ.
“Ơ… em xin lỗi chị ạ…”
Kiyora nhìn nó một giây, rồi cúi xuống, hai tay vục vào lớp tuyết bên đường, nặn vội thành một khối tròn không đều lắm, ném trả lại, quả cầu tuyết vỡ tan trên vai đứa trẻ. Cả nhóm reo lên thích thú, ngay lập tức túa ra, mỗi đứa vục tay xuống tuyết, ném về phía cô lẫn phía nhau, những quả cầu tuyết bay loạn xạ trong không khí.
Kiyora né một quả nhưng không kịp né quả khác, tuyết văng thẳng vào ngực áo khoác cô. Cô cúi xuống nặn thêm, tay cô giờ đã đỏ ửng vì lạnh dưới đôi găng tay, ném liên tiếp về phía đám trẻ đang cười ré lên chạy tán loạn.
Một đứa lén vòng ra sau lưng, ném trúng gáy cô.
Cô quay phắt lại, chân trượt nhẹ trên lớp tuyết đóng băng bên dưới, người cô mất thăng bằng, ngã ngửa ra sau, lưng chạm xuống lớp tuyết dày êm ái làm cây gậy văng sang một bên.
Đám trẻ khựng lại, có đứa lo lắng chạy đến. Kiyora đưa tay ra, nắm lấy cổ tay đứa gần nhất, kéo nó ngã nhào xuống theo, đầu nó rơi đúng vào đùi cô. Đứa còn lại đứng sững nhìn, rồi cũng bị cô túm lấy ống tay áo lôi xuống, ngã vật ra bên cạnh, một cánh tay đè hờ lên tay cô.
Cả ba nằm lăn ra trên lớp tuyết dày êm ái, cây gậy văng sang một bên. Kiyora bật cười thành tiếng, tiếng cười vang lên rõ ràng giữa không khí lạnh, tay chân cô dang rộng ra hai bên trên nền tuyết trắng, hai đứa trẻ nằm cạnh cũng cười theo, hơi thở của cả ba tạo thành mấy làn khói trắng quyện vào nhau trên không.
Kiyora nằm yên, ngực cô lên xuống theo từng hơi thở gấp vì vừa vận động, nhưng có một hơi ấm lạ len lỏi bên trong lồng ngực cô, khác hẳn với cái lạnh đang bao trùm khắp cơ thể, như thể phổi cô đang cháy lên một ngọn lửa nhỏ vậy.
Cô nhìn lên bầu trời xám nhạt phía trên, tuyết vẫn còn rơi lác đác, vài bông đáp xuống mặt cô rồi tan biến.
“Mấy đứa, về ăn cơm thôi!”
Tiếng một người phụ nữ gọi vọng lại từ phía xa. Đám trẻ quay đầu nhìn về hướng đó, rồi quay lại nhìn Kiyora vẫn còn nằm trên tuyết.
Hai đứa chạy đến, mỗi đứa nắm lấy một bên tay cô, kéo cô ngồi dậy, rồi đứng dậy hẳn, không mấy khó khăn vì có thêm sức của cả hai đứa trẻ hợp lại.
“Chị gì ơi, tụi em về nha.”
Kiyora giơ một tay lên vẫy nhẹ, mấy ngón tay đeo găng xòe ra rồi khép lại theo nhịp vẫy.
“Ừm, cẩn thận đường trơn đấy nhé.”
Cả nhóm chạy ùa về phía người phụ nữ đang đứng chờ, tiếng cười nói xa dần. Kiyora đứng lại đó, nhìn theo, tay phủi nhẹ lớp tuyết còn bám trên vai và lưng áo khoác, ngực cô vẫn còn cảm nhận được chút hơi ấm lạ vừa rồi, dần dần lắng xuống theo nhịp thở đều trở lại.
Buổi tối hôm đó, khi cô về đến nhà nghỉ, định bật máy sưởi trong phòng như mọi khi thì không thấy hơi ấm nào tỏa ra. Cô thử tắt đi bật lại, đèn báo vẫn không sáng, chỉ có tiếng quạt gió cố gắng khởi động rồi tắt ngấm sau một tiếng lách cách nhỏ. Cô xuống dưới nhà tìm bà cụ chủ nhà.
“Bà ơi, máy sưởi phòng cháu không lên ạ.”
Bà cụ đang ngồi khâu vá gì đó dưới ánh đèn bàn, sợi chỉ đỏ luồn qua kim chậm rãi, ngẩng lên khi nghe tiếng cô, nhíu mày. Bà đặt cây kim xuống mặt bàn, tháo cặp kính lão đang đeo hờ trên sống mũi.
“Chắc lại cúp cầu chì rồi. Cái máy đó cũ lắm rồi, thỉnh thoảng nó trở chứng vào mấy hôm lạnh đột ngột thế này.”
Bà lắc đầu, giọng có chút chán nản quen thuộc như đã gặp chuyện này không ít lần trước đó.
“Bà có sửa được không ạ?”
Kiyora hỏi, tay cô siết nhẹ lấy vạt áo khoác vẫn còn chưa cởi ra hết.
“Bà già rồi, mắt kém, không rành mấy cái dây điện đâu.”
Bà đặt kim chỉ xuống, xoa hai tay vào nhau. Bà xoa mạnh mấy cái như đang cố hâm nóng lại đôi tay đã cứng vì ngồi khâu lâu, rồi chống tay lên đầu gối đứng dậy.
“Để bà nhờ nhà hàng xóm bên cạnh, con trai nhà đó rành sửa chữa lắm.”
Kiyora chưa kịp nói gì thì bà cụ đã đứng dậy, khoác thêm cái áo len dày ra ngoài lớp áo đang mặc, cài từng nút một cách chậm rãi, rồi ra hiệu cho cô đi theo.
Bên ngoài, tuyết còn đọng thành từng mảng mỏng trên mái hiên các căn nhà, ánh đèn đường hắt xuống làm chúng lấp lánh nhẹ. Nhà hàng xóm chỉ cách đó vài căn, một căn nhà gỗ một tầng có ánh đèn vàng ấm hắt ra qua khung cửa sổ nhỏ, khói bếp bay là là từ ống khói trên mái.
Bà cụ gõ cửa, một người phụ nữ trung niên ra mở, tạp dề còn quấn quanh eo, tay còn dính chút bột mì. Nghe bà cụ trình bày xong, người phụ nữ gật đầu liên tục, mời cả hai vào trong, hơi ấm từ trong nhà tràn ra ngoài hiên lạnh.
“Máy sưởi hư à, để tôi gọi thằng con trai ra xem cho.”
Bà quay vào trong, gọi lớn về phía cầu thang gỗ dẫn lên tầng trên, rồi quay lại nhìn Kiyora, ánh mắt bà đi từ đầu xuống chân cô một lượt, dừng lại có phần lâu hơn cần thiết ở cây gậy tựa bên hông cô.
“Cháu ở nhà nghỉ bà đây một mình à? Chắc buồn lắm nhỉ.”
Kiyora hơi lùi người ra sau nửa bước, tay cô siết chặt hơn quanh cán gậy, mắt cô chớp nhanh mấy cái trước khi cố nặn ra một câu trả lời.
“Vâng nhưng mà cháu ổn ạ.”
Câu trả lời ngắn hơn cần thiết, gần như cụt lủn, nhưng người phụ nữ dường như không để ý, vẫn tiếp tục với vẻ mặt hào hứng. Bà chắp hai tay trước ngực, nghiêng đầu nhìn Kiyora như đang ướm thử một điều gì đó trong đầu.
“Con trai cô cũng hiền lành lắm, chưa có người yêu đâu, hai đứa bằng tuổi nhau chắc hợp đấy.”
Hàm Kiyora siết lại một chút, khóe miệng cô kéo thành một nụ cười gượng, cứng hơn là mềm, ánh mắt cô liếc sang bà cụ chủ nhà như cầu cứu. Nhưng bà cụ chỉ mỉm cười, hai tay chắp trước bụng, không có vẻ gì muốn can thiệp vào câu chuyện đang diễn ra, thậm chí còn có phần thích thú nhìn cảnh đó.
Có tiếng bước chân từ trên cầu thang, một thanh niên bước xuống, dáng người gầy, tóc hơi bết mồ hôi dù trời lạnh, áo len dày mặc hơi xộc xệch như vừa mặc vội. Cậu ta không nhìn thẳng vào Kiyora, chỉ gật đầu chào cả hai bà cháu rồi đi đến chân cầu thang rồi mở ra một chiếc hộp nhỏ để lấy vài món đồ nghề bên trong. Cậu ta hỏi đường đến nhà nghỉ, giọng nói nhỏ và có phần lúng túng, tay siết chặt mấy món đồ nghề hơn mức cần thiết.
Người phụ nữ đẩy nhẹ vai con trai mình về phía cửa, miệng vẫn còn dặn dò gì đó về việc cẩn thận ngoài trời lạnh, đội mũ vào, đừng để cảm.
Họ đi bộ quay lại, mẹ cậu ta đi theo tiễn ra tận cổng, còn dặn với theo một câu về việc mời Kiyora qua ăn cơm hôm nào rảnh, giọng vọng theo cả một đoạn đường. Kiyora không đáp lại, chỉ bước nhanh hơn cần thiết, cây gậy gõ mạnh hơn xuống nền tuyết mỏng đã đóng thành một lớp cứng dưới đế giày, mỗi tiếng gõ gần như một cách trút bớt sự khó chịu đang dồn trong ngực cô.
Đến nhà nghỉ, cậu thanh niên đi thẳng ra sau bếp, mở hộp điện gắn trên tường, ánh đèn pin nhỏ từ điện thoại soi vào bên trong, nhìn một lượt các cần gạt xếp thành hàng. Cậu tìm ra đúng cái bị lệch khỏi vị trí, đẩy nó lên bằng một ngón tay. Có một tiếng tách nhỏ, đèn hành lang phía trong bật sáng trở lại.
“Xong rồi đấy ạ.”
Kiyora đứng dựa vào khung cửa bếp, hai tay buông thõng bên hông, chỉ đến lúc ánh đèn bật sáng cô mới thở ra một hơi nhẹ mà chính cô cũng không nhận ra mình đã nín từ lúc nào.
“Cảm ơn anh.”
Giọng cô vẫn còn hơi cứng, dù cô đã cố giữ cho nó bình thường. Cậu ta gật đầu rồi bỏ mấy món đồ nghề vào túi quần, đi ra đến cửa thì dừng lại một chút, gãi gãi sau gáy, mắt nhìn xuống nền nhà thay vì nhìn cô.
“Xin lỗi vì… mẹ tôi hay vậy đó. Xin cô đừng để ý làm gì.”
Kiyora thở ra một hơi nhẹ, vai cô hạ xuống một chút, sự khó chịu trong người dịu bớt đi phần nào khi nghe câu đó.
“Không sao đâu ạ.”
Cậu ta gật đầu lần nữa, xách hộp đồ nghề bước đi nhanh vào bóng tối bên ngoài, bóng cậu khuất dần sau làn hơi thở trắng đục tan trong không khí lạnh. Tiếng bước chân cậu trên nền tuyết cứng nhỏ dần rồi mất hẳn, để lại con hẻm trước cửa nhà nghỉ chìm vào yên tĩnh.
Kiyora quay lên phòng, máy sưởi đã chạy êm ru, hơi ấm dần lan ra khắp căn phòng nhỏ, làm tan chút hơi lạnh còn bám trên vai áo cô. Cô ngồi xuống mép futon, xoa hai tay vào nhau, hơ chúng gần luồng hơi ấm phả ra từ máy sưởi cho đến khi các đầu ngón tay hết tê cứng, khóe miệng cô nhếch lên thành một nụ cười nhỏ hướng vào khoảng không trước mặt.
Cuối tuần đó, cô ghé qua quảng trường, thấy mấy ông lão vẫn ngồi quanh bàn cờ như mọi khi, hơi thở của họ tạo thành từng làn khói trắng trong không khí lạnh. Một ông trong số đó, người vẫn hay đùa cợt với bố cô trước kia, vẫy tay gọi cô lại.
“Này, con gái, lại đây học đánh cờ với ông không?”
Kiyora ngồi xuống đối diện ông, cây gậy dựng bên cạnh ghế đá. Cô kéo tay áo khoác lên cao hơn cổ tay, hai tay xoa vào nhau vài cái trước khi đặt chúng lên mặt bàn đá lạnh, mắt cô nhìn xuống hàng quân cờ xếp ngay ngắn với vẻ tò mò rõ rệt.
Ông chỉ cho cô cách các quân cờ di chuyển, tướng đi một ô mỗi lần, xe đi thẳng hàng, mã đi hình chữ L. Cô gật đầu, cố nhớ, nhưng khi vào ván đấu thật sự thì quên sạch, đi một nước ngớ ngẩn khiến quân tướng của mình lộ ra giữa bàn cờ trống trải.
Ông lão cười phá lên một cách thích thú. Ông vỗ tay xuống mặt bàn đá mấy cái, cả người ngả ra sau ghế, tiếng cười khàn đặc vang lên giữa quảng trường vắng làm mấy ông lão bàn bên cũng quay sang nhìn.
“Trời đất, đi kiểu này thì thua nhanh hơn cả bố cháu nữa.”
Kiyora nhìn xuống bàn cờ, hai má cô ửng đỏ hơn cả cái lạnh có thể gây ra, tay cô đưa lên gãi nhẹ sau gáy, khóe miệng cong lên thành một nụ cười ngượng nghịu không giấu nổi.
“Vậy không công bằng chút nào. Ông rõ ràng biết nhiều hơn cháu mà.”
Cô cãi lại, giọng hơi phụng phịu nhưng ánh mắt vẫn còn ánh lên vẻ thích thú của người vừa được trêu chọc.
“Bởi thế cháu cần phải cố gắng nhiều đấy.”
Ván đó cô thua chỉ sau vài nước, quân cờ của ông dồn cô vào một góc bàn không lối thoát. Cô nhìn bàn cờ, hơi phụng phịu nhưng không thật sự buồn, chỉ là cái cảm giác thua cuộc nhẹ nhàng của một trò chơi không có gì phải mất.
“Chơi lại ván nữa không?”
Kiyora ngồi thẳng người dậy, hai tay xắn tay áo lên như thể sắp bắt tay vào một việc nghiêm túc, mắt cô nhìn ông lão với vẻ quyết tâm rõ rệt.
“Cháu chơi ạ.”
Ván thứ hai cô thua nhanh hơn cả ván đầu. Cô ngồi im nhìn quân tướng của mình bị bắt gọn chỉ sau bốn nước cờ, miệng cô há hốc ra một tiếng ngạc nhiên nho nhỏ trong khi ông lão gõ ngón tay xuống bàn đá cười khoái chí, không giấu được vẻ tự hào về nước cờ vừa rồi của mình.
Trưa thứ Năm hôm đó, Kiyora đi ra bờ kè như thường lệ, cây gậy gõ đều trên nền tuyết đã đóng cứng lại thành một lớp giòn dưới đế giày. Gió thổi nhẹ hơn mọi khi, mặt trời trốn sau một lớp mây mỏng, ánh sáng trắng đục trải đều khắp mặt biển không gợn sóng lớn.
Cô thấy có người ngồi ở chỗ cô vẫn hay ngồi. Fuyuko đang ở đó, ngồi trên nền bê tông lạnh, không phải trong bộ áo vest thường thấy ở trường mà là một cái quần vải rộng, ống hơi thùng thình, cùng một cái áo sơ mi flannel dài tay xắn lên đến giữa cánh tay, chỉ cài hai chiếc khuy dưới cùng, để lộ một phần áo thun đen mặc bên trong. Không có chiếc áo khoác nào phủ ngoài dù trời lạnh đến mức hơi thở Kiyora vẫn còn tạo thành khói trắng mỗi lần thở ra.
Hai bàn tay Fuyuko đặt trần trụi trên nền bê tông đã được quét sạch tuyết, không đeo găng, những ngón tay hơi đỏ vì lạnh. Thỉnh thoảng cô co mấy ngón lại thành nắm rồi duỗi ra, một cử động chậm và lười, như đang thử xem tay mình còn cảm giác được bao nhiêu chứ không phải để làm ấm nó.
Bên cạnh cô là hai lon cà phê, một lon đã mở nắp, một lon còn nguyên, cả hai đều nằm yên trên nền bê tông, không có hơi nước nào bốc lên, chắc đã nguội lạnh từ lâu. Kiyora dừng lại cách đó vài bước, không chắc nên đến gần hay lùi lại, ngón tay cô siết nhẹ quanh cán gậy.
Fuyuko ngẩng lên trước khi cô kịp quyết định, ánh mắt lướt qua cây gậy rồi lên mặt cô. Cô không nhổm người dậy, cũng không thay đổi tư thế ngồi, chỉ hơi nghiêng đầu sang một bên, như đón nhận sự xuất hiện của Kiyora theo cách người ta đón một điều đã biết trước sẽ đến.
“Chào… lại đi dạo à… ”
Giọng cô không cao hơn tiếng sóng vỗ vào chân kè bao nhiêu, gần như để lẫn vào không khí xung quanh. Cô nhích người sang một bên vài phân, không hẳn là một lời mời rõ ràng nhưng đủ để chừa ra một khoảng trống bên cạnh mình.
“Vâng ạ.”
Kiyora đáp, bước đến gần hơn một chút, mắt cô vẫn còn dán vào bộ đồ khác lạ của Fuyuko. Cô đảo mắt từ đôi vai để trần một phần xuống hai bàn tay không găng đặt trên nền bê tông, như đang cố ghép lại hình ảnh này với dáng vẻ chỉn chu thường thấy ở trường.
“Em không biết chị cũng hay ra chỗ này.”
Cô nói, đứng khựng lại cách Fuyuko một khoảng, chưa vội ngồi xuống ngay, ngón tay cô gõ nhẹ lên đầu cây gậy một nhịp không đều.
“Nghỉ đông rồi, nên chị rảnh tí.”
Fuyuko nói, vai cô nhún nhẹ một cái như thể đó là lời giải thích đầy đủ cho tất cả. Cô quay đầu lại nhìn ra mặt biển, một tay đưa lên vén món tóc bị gió thổi lệch qua trán, không mời cũng không đuổi, chỉ để khoảng trống bên cạnh mình mở ngỏ.
Kiyora ngồi xuống, giữ một khoảng cách vừa phải, cây gậy đặt ngang qua đùi. Cô liếc sang hai lon cà phê đặt cạnh nhau, một mở một chưa mở, cả hai đều lạnh ngắt, không có dấu hiệu nào cho thấy chúng mới được mua gần đây. Cô không hỏi, chỉ nhìn thêm một giây rồi quay mặt đi, mắt hướng ra phía đường chân trời.
“Thế mọi hôm em làm gì ở đây vậy?”
Fuyuko hỏi, không quay đầu lại, chỉ đưa mắt liếc sang một cái rồi lại nhìn ra biển, một tay cô với lấy lon cà phê đã mở, không uống, chỉ giữ nó trong lòng bàn tay như để sưởi ấm ngón tay hơn là để giải khát.
“Em chỉ ngồi đây thôi. Ngắm biển ạ.”
Fuyuko gật đầu, một cái gật nhỏ gần như không đáng chú ý, không hỏi thêm gì về điều đó. Cô với tay, các ngón tay đỏ ửng vì lạnh chạm vào lon cà phê đã mở, xoay nhẹ nó trên nền bê tông mà không nhấc lên uống.
“Em ăn uống dạo này thế nào rồi?”
Cô hỏi, giọng nhẹ hơn câu trước, mắt cô rời khỏi mặt biển liếc sang Kiyora một thoáng rồi lại quay đi.
“Em tự nấu được rồi ạ. Tuy không ngon lắm nhưng cũng đủ no.”
Kiyora bật cười nhẹ, một tiếng cười ngắn, có phần tự giễu, tay cô đưa lên vén một lọn tóc bị gió thổi lệch qua má. Cô nhìn xuống hai tay mình đặt trên đầu gối, ngón tay cái xoa nhẹ lên mu bàn tay còn lại một vòng.
“Với lại, so với đồ ăn hồi trước của em thì cái gì cũng ngon hơn hết ạ.”
Fuyuko quay hẳn đầu sang nhìn cô lần này, một bên chân mày hơi nhướn lên. Cô ngồi thẳng lưng lại một chút, bàn tay đang xoay lon cà phê khựng lại giữa chừng.
“Đồ ăn hồi trước là sao?”
Cô hỏi, giọng có chút tò mò thật sự chứ không còn là câu hỏi bâng quơ như lúc nãy.
“Là đồ xay nhuyễn ấy ạ.”
Kiyora nói, hai tay đặt lên đầu gối, ngón tay gõ nhẹ một nhịp không đều lên lớp vải quần tất. Fuyuko im lặng, hơi nghiêng người về phía cô một chút, cả người chuyển từ tư thế thả lỏng sang một sự chú ý rõ rệt hơn.
“Hồi em còn yếu, ăn cái gì cũng phải xay ra hết vì em không nhai được.”
Fuyuko không nói gì, chỉ ngồi yên, chờ cô nói tiếp, ánh mắt cô giờ đặt hẳn lên khuôn mặt Kiyora thay vì mặt biển. Hai tay cô đặt yên trên đầu gối, không còn động đậy lon cà phê nữa.
“Mà cảm giác kinh khủng lắm ạ.”
Kiyora nói, giọng có chút hài hước cố tình, như đang kể một câu chuyện cũ đã đủ xa để cười được về nó, hai tay cô đưa ra trước, làm một cử chỉ mơ hồ như đang mô tả một thứ gì đó không có hình dạng rõ ràng.
“Cái gì cũng bị xay chung với nhau, thịt với rau với cơm, xay ra một màu be be, nhìn không phân biệt được cái gì với cái gì. Có lần y tá cho em ăn thử món gọi là súp bí đỏ, mà em thề là nó có vị y hệt món canh rau hôm trước, chỉ khác màu thôi.”
Fuyuko bật cười, âm thanh ngắn nhưng thật lòng, vai cô rung nhẹ một cái, tay cô đưa lên che miệng theo phản xạ rồi lại hạ xuống. Cô lắc đầu, khóe mắt cô hơi nheo lại vì tiếng cười vừa rồi.
“Nghe ghê vậy à.”
Cô nói, giọng vẫn còn vương chút cười, quay hẳn người sang phía Kiyora như đang chờ nghe thêm.
“Thì ghê thật mà ạ.”
Kiyora gật đầu quả quyết, khóe miệng cô vẫn còn giữ nụ cười. Cô ngồi thẳng lưng lên một chút, có vẻ hào hứng khi thấy câu chuyện của mình khiến Fuyuko cười.
“Với lại nó lúc nào cũng lạnh ngắt, tại phải đợi máy xay xong xuôi nó mới nguội đi được mới đút cho em ăn.”
Fuyuko không cười theo câu đùa ấy, cũng không đáp lại ngay. Có gì đó trong ánh mắt cô chững lại, nụ cười vừa rồi từ từ tắt đi trên môi, không đột ngột, chỉ là lặng lẽ rút lui như thủy triều xuống.
Cô quay đầu ra nhìn mặt biển, ánh mắt cô không dừng ở con thuyền xa hay bất cứ điểm nào cụ thể, chỉ trôi ra một khoảng không nào đó xa hơn cả đường chân trời. Hai tay cô vẫn đặt trên nền bê tông lạnh, nhưng ngón tay không còn xoay lon cà phê nữa, chỉ nằm yên, các đốt ngón hơi trắng ra vì lạnh.
Kiyora nhận ra sự im lặng đó khác với im lặng bình thường của Fuyuko. Cô ngừng lại, không kể tiếp câu chuyện dở dang về món súp bí đỏ, chỉ ngồi đó, hai tay đặt yên trên đùi, mắt cô liếc sang Fuyuko rồi lại quay đi, không dám nhìn thẳng quá lâu vào cái khoảng xa xăm mà cô không với tới được bằng mắt.
Gió thổi qua, làm vạt áo sơ mi để hở của Fuyuko lay động nhẹ, nhưng cô không có vẻ gì lạnh, hoặc có lạnh cũng không còn để tâm đến điều đó nữa. Cánh tay để trần của cô vẫn đặt nguyên trên nền bê tông, không một lần co lại hay tìm hơi ấm, như thể cơn lạnh đó chẳng thấm vào đâu so với thứ đang chiếm hết tâm trí cô lúc này.
Vài giây trôi qua như vậy, chỉ có tiếng sóng vỗ đều vào chân kè bên dưới, không ai lên tiếng. Một con hải âu bay ngang qua đầu họ, tiếng kêu của nó vang lên rồi tắt lịm khi nó khuất sau mỏm đá xa, nhưng cả hai đều không ngẩng lên nhìn theo.
Rồi Fuyuko chớp mắt một cái, chậm, như vừa quay trở về từ đâu đó rất xa. Cô với tay, cầm lấy lon cà phê chưa mở, xoay nó một vòng trong lòng bàn tay nhưng vẫn không mở ra, chỉ đặt nó trở lại chỗ cũ.
“Chắc cũng không dễ chịu gì nhỉ.”
Cô nói, giọng nhỏ hơn bình thường, không hẳn là đang nói với Kiyora, giống như đang nói với chính mình nhiều hơn.
“Vâng ạ…”
Giọng Kiyora gần như hòa vào tiếng sóng. Cô nhìn Fuyuko một lúc, rồi mắt cô lại rơi xuống hai lon cà phê đặt cạnh nhau trên nền bê tông. Cô hắng giọng khẽ, như để phá vỡ cái im lặng đang trở nên hơi nặng nề.
“Lon cà phê kia là của ai vậy chị?”
Fuyuko không trả lời ngay. Cô nhìn xuống lon cà phê chưa mở, ngón tay cô chạm vào viền nắp, gõ nhẹ một cái rồi thôi. Hàm cô hơi siết lại, mắt cô vẫn dán vào cái lon như đang cân nhắc xem có nên trả lời câu hỏi đó hay không.
Khoảng lặng đó kéo dài đủ lâu để Kiyora nghĩ có lẽ mình không nên hỏi. Rồi Fuyuko cầm lấy lon cà phê đó lên, đưa qua cho cô, động tác dứt khoát hơn hẳn sự chần chừ vừa rồi, như đã quyết định xong xuôi trong đầu.
“Cho em đấy.”
Kiyora ngập ngừng một giây trước khi đưa hai tay ra nhận lấy. Lon cà phê lạnh ngắt trong lòng bàn tay cô, thứ lạnh đã ở đó từ lâu chứ không phải mới nguội đi gần đây. Fuyuko không nói gì thêm, quay đầu nhìn ra biển trở lại. Kiyora xoay lon cà phê trong tay, không mở nắp ngay, chỉ cảm nhận cái lạnh của lớp kim loại thấm qua da.
“Cảm ơn chị.”
Cô nói, ngón tay cô siết nhẹ quanh thân lon, không hỏi thêm gì về việc vì sao Fuyuko lại mang theo hai lon thay vì một.
“Uống đi, dù sao cũng lạnh rồi, có để thêm cũng vậy thôi.”
Kiyora bật nắp lon, một tiếng tách nhỏ vang lên giữa không gian yên tĩnh của bờ kè. Cô nhấp một ngụm, vị cà phê đắng và lạnh, không giống với bất cứ loại cà phê nào cô từng uống trước đây, làm cô nhăn nhẹ mặt. Fuyuko ngồi im, mắt vẫn nhìn ra mặt nước, hai tay khoanh lại trước ngực như để giữ ấm, dù có vẻ như cô chỉ vừa mới nhớ ra trời đang lạnh.
Fuyuko quay đầu lại nhìn Kiyora, ánh mắt cô đã trở lại bình thường, không còn cái nhìn trôi dạt ra xa như lúc nãy, chỉ còn lại vẻ điềm tĩnh quen thuộc trên khuôn mặt.
“Em lại định ngồi đây đến chiều à?”
Cô hỏi, khóe miệng cô nhích lên một chút như đang trêu, không còn chút nặng nề nào sót lại từ khoảnh khắc trước đó.
“Dạ, có lẽ vậy ạ. Em cũng không có gì để làm mà.”
Fuyuko gật đầu, mắt cô nhìn ra biển thêm một lúc rồi khẽ rùng mình một cái, vai cô co lại, hai tay xoa nhẹ lên cánh tay để trần một phần dưới lớp áo flannel xắn lên. Có vẻ như cái lạnh vừa mới thật sự chạm đến cô, sau khi tâm trí cô đã trở về từ nơi nào đó xa xôi, như thể cơ thể cô chỉ vừa kịp nhớ ra nó đang ở giữa mùa đông.
Kiyora nhìn thấy, tay cô đưa lên, tháo một bên găng tay đang đeo, các ngón tay hơi lóng ngóng với phần vải dày, rồi đưa qua.
“Chị đeo đỡ đi ạ, tay chị lạnh quá rồi.”
Fuyuko nhìn cái găng tay đen trong tay Kiyora một lúc, ánh mắt cô có chút gì đó ngạc nhiên thoáng qua, rồi bật cười nhẹ, lắc đầu.
“Một bên thì được tích sự gì chứ.”
“Vẫn hơn không có mà ạ.”
Fuyuko cầm lấy chiếc găng tay, xỏ vào bàn tay phải, các ngón tay cô hơi to hơn so với size găng của Kiyora nên phải nhét vào một cách khó khăn, để bàn tay trái vẫn trần trụi trong túi áo. Cô co người lại một chút, dựa lưng ra sau, cố tìm hơi ấm còn sót lại đâu đó trong lớp vải mỏng của mình, hơi thở cô tạo thành một làn khói ngắn tan nhanh trong không khí.
Bụng cô kêu lên một tiếng, không lớn nhưng đủ để cả hai cùng nghe thấy trong khoảng không yên tĩnh đó, chỉ có tiếng sóng vỗ đều đều làm nền. Fuyuko không tỏ ra ngượng ngùng gì, chỉ đứng dậy, phủi tay vào quần, những hạt cát nhỏ và bụi tuyết rơi khỏi lớp vải, nhìn xuống Kiyora vẫn đang ngồi.
“Chị đói rồi, đi ăn không?”
Kiyora ngẩng lên nhìn cô, cây gậy vẫn còn nằm ngang trên đùi, mắt cô chớp một cái như đang xử lý câu hỏi đến hơi đột ngột này. Miệng cô hé ra rồi khép lại, một khoảng ngập ngừng ngắn trước khi cô kịp gom lại câu trả lời.
“Dạ, đi ạ.”
Cô đáp, rồi chống tay xuống nền bê tông lạnh, đẩy người đứng dậy, cầm lấy cây gậy, đi theo Fuyuko đang đã bước được vài bước về phía con đường dẫn vào thị trấn, một bàn tay đeo găng đen lẻ loi vung nhẹ theo từng bước chân của cô.
Họ đi dọc theo con đường ven bờ kè, tuyết đã được dọn bớt ở giữa đường nhưng vẫn còn đóng thành từng mảng cứng ở hai bên lề, nơi ít người qua lại giẫm lên. Fuyuko đi trước một bước, tay đeo găng đen lẻ loi đút trong túi quần, tay còn lại vẫn để trần, thỉnh thoảng đưa lên miệng hà hơi ấm vào.
Không ai nói gì trong một đoạn dài.
Cả con đường vắng, chỉ có tiếng gậy của Kiyora gõ đều xuống mặt nhựa xen giữa tiếng bước chân của cả hai, thỉnh thoảng có tiếng xe chạy ngang từ xa rồi khuất dần. Một vài căn nhà ven đường đã bật đèn dù trời còn chưa tối hẳn, ánh sáng vàng ấm hắt ra qua khung cửa sổ nhỏ.
Kiyora liếc sang nhìn Fuyuko vài lần, mỗi lần môi cô hơi hé ra như định nói gì đó, rồi lại khép lại, mắt cô quay về phía trước. Cô muốn nói gì đó, muốn hỏi về lon cà phê. Về việc ai đó từng uống cùng cô ở chỗ đó. Về cái nhìn xa xăm lúc nãy khi cô kể chuyện đồ ăn xay nhuyễn.
Nhưng mỗi lần cô định mở miệng, câu hỏi lại tự rút lui, tay cô siết chặt hơn quanh cán gậy rồi lại nới lỏng ra, ngón chân cô hơi khựng lại trong giày trước khi bước tiếp theo nhịp của Fuyuko. Fuyuko không nhận ra, hoặc có nhận ra thì cũng không nói gì, chỉ tiếp tục bước đi, mắt nhìn thẳng phía trước, hơi thở tạo thành từng làn khói mỏng nối đuôi nhau tan biến.
Họ đi ngang qua tiệm giặt đồ đã đóng cửa, qua bưu điện tối om vì hôm nay không phải ngày làm việc, qua quán mì nơi ánh đèn bên trong đã bật sáng, hơi nước bốc lên mờ cả lớp kính cửa. Kiyora lại liếc sang một lần nữa. Lần này Fuyuko tình cờ quay đầu lại cùng lúc, ánh mắt hai người chạm nhau trong một khoảnh khắc ngắn.
“Gì vậy?”
Cô hỏi, bước chân khựng lại nửa nhịp, đầu hơi nghiêng sang một bên chờ câu trả lời, một bên chân mày nhướn lên nhẹ như đã bắt được Kiyora đang giấu điều gì đó.
“Dạ không có gì ạ.”
Fuyuko nhìn cô thêm một giây, như không tin hẳn câu trả lời đó, nhưng rồi cũng chỉ nhún vai, quay đầu lại nhìn về phía trước, tiếp tục bước đi.
Một quán nướng nằm ở một góc phố nhỏ, tấm biển hiệu treo trước cửa đã bạc màu, chữ sơn đỏ phai gần hết chỉ còn lại nét viền mờ. Cánh cửa kính trượt có một vết nứt dài được dán băng keo trong ở góc dưới, bên trong hắt ra ánh đèn vàng ấm cùng với làn khói mỏng bốc lên từ đâu đó.
Fuyuko kéo cửa trượt ra, tiếng bánh xe cửa cọ vào rãnh trượt kêu cót két.
Bên trong, mấy cái bàn thấp kê sát nhau, mỗi bàn có một cái bếp nướng than gắn giữa, phần vành bếp đã ố đen vì dầu mỡ bám lâu ngày, vài chỗ móp méo nhẹ. Cái quạt hút mùi trên trần kêu è è mỗi khi quay, không đủ mạnh để hút hết làn khói lởn vởn trong không gian, khiến cả quán phảng phất mùi thịt nướng đã ngấm vào tường, vào rèm cửa, vào cả những tấm đệm ngồi sờn cũ.
Một tấm lịch năm cũ vẫn còn treo trên tường, dù đã qua vài năm không ai buồn thay, góc dưới đã cong lên vì hơi ẩm. Người chủ quán, một ông già đeo tạp dề bạc màu, ngẩng lên từ sau quầy, nhận ra Fuyuko thì gật đầu chào, không nói gì nhiều, chỉ ra hiệu cho cả hai chọn bàn tùy ý.
Fuyuko đi đến một bàn gần góc trong, kéo ghế ngồi xuống, tay cô với lấy cái thực đơn nhựa đã ngả màu, mấy góc bị bong tróc lộ ra lớp giấy in bên dưới.
“Chỗ này không sang trọng gì đâu, nhưng đồ nướng ngon.”
Kiyora ngồi xuống đối diện, cây gậy dựng vào cạnh bàn, mắt cô nhìn quanh quán một lượt, từ cái quạt hút mùi kêu è è đến tấm lịch cũ trên tường.
Họ ngồi xuống một cái bàn gần cửa sổ, từ đó có thể nhìn ra con đường bên ngoài qua lớp kính đã hơi mờ vì hơi nóng bên trong ngưng tụ. Fuyuko cầm tấm thực đơn lên nhưng gần như không nhìn vào nó, chỉ liếc qua một cái rồi đặt xuống, ngẩng lên gọi ông chủ quán đang đứng sau quầy.
“Cho cháu một chai bia như mọi lần.”
Ông già gật đầu, không hỏi lại loại gì, cỡ nào, chỉ quay lưng đi lấy, dáng vẻ của người đã quen phục vụ cùng một yêu cầu qua nhiều lần đến mức không cần hỏi thêm nữa. Fuyuko quay sang Kiyora.
“Em muốn ăn gì?”
Kiyora cầm tờ thực đơn lên, mắt cô lướt qua từng tên món, chữ Kanji dày đặc kèm hình ảnh minh họa nhỏ, nhưng cô không biết bắt đầu từ đâu, không biết phần nào là thịt sống để tự nướng, phần nào đã chế biến sẵn, không biết nên gọi bao nhiêu là đủ cho một người chưa từng ăn kiểu này bao giờ.
Cô cầm tấm thực đơn hơi lâu hơn cần thiết, ngón tay lướt qua lướt lại trên cùng một dòng chữ.
Fuyuko nhận ra sự lúng túng đó, không đợi cô trả lời, cầm tấm thực đơn qua tay mình, gọi luôn một phần khai vị gồm vài loại thịt cơ bản, giọng cô dứt khoát và quen thuộc như đã gọi món này nhiều lần trước đây.
“Ăn thử phần này trước đi, có thiếu thì gọi thêm.”
Sau một lúc bếp than được mang ra, đặt vào giữa bàn, than hồng bắt đầu cháy đều, hơi nóng lan tỏa nhanh chóng trong không gian vốn đã ấm sẵn nhờ những bếp than khác trong quán. Từng bàn xung quanh dần đông khách hơn, tiếng trò chuyện, tiếng dao thớt từ bếp, tiếng quạt hút mùi trên trần kêu è è cố gắng hút bớt lớp khói đang dày lên.
Kiyora cảm thấy nóng lên nhanh chóng dưới lớp áo khoác xanh cô vẫn mặc hằng ngày. Cô cởi nó ra, gấp lại đặt lên đùi, để lộ ra bên trong lần đầu tiên trước mặt Fuyuko, chiếc váy yếm xanh dương đậm với dây quai chéo sau lưng, cùng cái áo sơ mi trắng dài tay có phần cổ tay hơi phồng lên theo đường khâu vòng.
Fuyuko liếc nhìn một cái, không nói gì ngay, chỉ có một khoảng dừng rất ngắn trong ánh mắt cô, như đang điều chỉnh lại hình dung của mình về người ngồi trước mặt.
Kiyora tháo găng tay ra, nhét vào túi áo khoác đã gấp gọn, rồi cô nhìn xuống hai cổ tay áo sơ mi đang phồng lên, thử kéo tay áo bên phải lên nhưng không xoay được góc đủ để cuộn gọn nó lại, cổ tay còn lại thì càng khó hơn khi phải dùng một tay đã vướng víu.
“Chị giúp em cuộn tay áo lên được không ạ?”
Fuyuko gật đầu, không hỏi thêm, đưa tay qua, ngón tay cô cuộn từng vòng vải gọn gàng quanh cổ tay Kiyora, động tác nhanh và thuần thục như đã làm việc này nhiều lần với ai đó khác. Đầu ngón tay cô lướt qua da cổ tay Kiyora trong lúc chỉnh lại nếp cuộn cuối cùng, rồi cô buông ra, chuyển sang tay còn lại, làm y hệt.
“Xong rồi.”
Cô nói, vỗ nhẹ hai cái lên phần vải vừa cuộn xong như để chắc chắn nó không bung ra, rồi rút tay lại, cầm đũa lên từ phía giỏ đũa đặt giữa bàn.
“Cảm ơn chị ạ.”
Fuyuko không đáp lại, chỉ cầm đũa gắp miếng thịt đầu tiên đặt lên vỉ nướng, tiếng xèo xèo vang lên ngay khi thịt chạm vào bề mặt nóng.
Kiyora cầm đôi đũa, cố bắt chước theo cách Fuyuko vừa làm, gắp một miếng thịt đặt lên vỉ. Cô không biết canh thời gian, trở miếng thịt sớm hơn cần thiết một lần, rồi để nó trên vỉ hơi lâu ở lần thử tiếp theo, miếng thịt cháy xém một góc.
Cô vẫn ăn nó.
Vị cháy xém hòa lẫn với mùi khói, với vị mặn ngọt của nước sốt ướp sẵn, khác hẳn với bất cứ thứ gì cô từng nếm qua trong hai mươi năm cuộc đời. Cô nhai chậm, mắt cô nhìn xuống miếng thịt còn lại trên đĩa như đang cân nhắc có nên ăn tiếp không, dù câu trả lời đã rõ ràng trong cách cô đưa đũa gắp miếng tiếp theo ngay sau đó.
Fuyuko uống một ngụm bia, đặt chai xuống bàn, mắt cô không rời khỏi Kiyora, khóe miệng cô hơi cong lên khi thấy cô loay hoay với đôi đũa.
“Em bao nhiêu tuổi rồi?”
Cô hỏi, ngón tay gõ nhẹ lên thân chai bia, mắt vẫn dán vào Kiyora đang mải nhai miếng thịt cháy xém.
“Em hai mươi rồi, sao vậy chị?”
Fuyuko không trả lời ngay, chỉ đưa tay ra, kéo nhẹ tay áo của người phục vụ đang đi ngang qua bàn. Cô liếc Kiyora một cái, khóe miệng nhích lên thành một nụ cười nhỏ đầy ẩn ý trước khi quay sang gọi món.
“Cho thêm một ly umeshu.”
Người phục vụ gật đầu, mang đến ngay sau đó một ly nhỏ, chất lỏng màu hổ phách nhạt, vài viên đá lấp lánh bên trong. Fuyuko đẩy ly đó về phía Kiyora.
“Thử cái này xem.”
Kiyora nhìn ly rượu một lúc, không chắc mình có nên uống không, ngón tay cô chạm vào thành ly lạnh rồi mới cầm hẳn lên, nhấp một ngụm nhỏ.
Vị ngọt đến trước, dịu và dễ chịu như nước mơ ngâm đường, nhưng ngay sau đó là một luồng ấm lan xuống cổ họng, khác hẳn với bất cứ thứ nước nào cô từng uống, một cảm giác không có tên gọi cụ thể trong vốn từ của cô. Mặt cô nhăn lại một chút, không phải vì khó chịu, chỉ là bối rối trước thứ cảm giác mới lạ đó. Fuyuko bật cười làm vai cô rung lên nhẹ.
“Em làm cái mặt gì đấy.”
Cô nói, đưa tay lên che miệng cười, mắt cô nheo lại nhìn Kiyora đang còn ngồi im với vẻ mặt ngơ ngác.
“Nó... ấm ấm lạ lắm ạ.”
Kiyora đáp, tay cô vẫn giữ nguyên ly rượu, mắt cô nhìn xuống chất lỏng màu hổ phách như đang cố tìm ra lời giải thích chính xác hơn cho cảm giác đó.
“Đó là rượu mơ đấy, nhẹ thôi, không say đâu.”
Kiyora nhấp thêm một ngụm nữa, lần này chậm hơn, cố cảm nhận rõ hơn cái cảm giác ấy, và một chút màu hồng nhạt dần lan lên hai gò má cô.
Bữa ăn tiếp tục, những miếng thịt mới liên tục được đặt lên vỉ, Kiyora dần quen tay hơn với việc trở thịt đúng lúc. Ly umeshu cạn dần, và theo đó giọng nói của cô cũng trở nên nhẹ nhõm hơn, những câu trả lời ngắn gọn thường ngày giờ kéo dài thành những câu chuyện nhỏ, cô kể về con thỏ bông cô vẫn mang theo, về cái mũ len mẹ cô đưa cho hồi còn nằm viện, về việc cô ghét mùi cồn sát trùng đến mức nào.
Đến khi ly umeshu gần cạn, đôi má cô đã ửng hồng rõ rệt, ánh mắt cô sáng hơn, cử chỉ cô cũng phóng khoáng hơn bình thường, hai tay hoa lên mỗi khi kể đến đoạn nào đó khiến cô thấy buồn cười.
“Chị biết không, lúc em tỉnh dậy sau khi ghép phổi ấy… ”
Cô nói, giọng nhẹ tênh như đang kể một chuyện phiếm, tay cô xoay nhẹ cái ly rỗng trên bàn, ngón trỏ miết theo vành ly thành một vòng tròn nhỏ.
“Người ta bảo người cho phổi còn trẻ lắm. Bị tai nạn gì đó. Em nghĩ chắc là người ở vùng này luôn ấy chị, vì bác sĩ nói ca ghép được sắp xếp cho người gần nhất, không phải chuyển đi đâu xa.”
Fuyuko đang đưa đũa gắp một miếng thịt, động tác đó khựng lại giữa chừng, đôi đũa lơ lửng trên không một giây trước khi cô đặt hẳn xuống bàn. Cô không nói gì. Ánh mắt cô nhìn xuống mặt bàn gỗ, không nhìn vào Kiyora, không nhìn vào bất cứ thứ gì cụ thể, chỉ là một sự tĩnh lặng đột ngột phủ lên khuôn mặt cô, khác hẳn với vẻ thoải mái vừa rồi.
Khoảnh khắc đó kéo dài không quá vài giây. Rồi Fuyuko cầm đũa lên lại, tiếp tục gắp miếng thịt đặt lên vỉ, tay cô hơi chậm hơn bình thường một nhịp, ngón cái siết nhẹ vào thân đũa trước khi thả lỏng ra.
“Vậy à.”
Kiyora không để ý thấy sự thay đổi đó, vẫn đang mải với câu chuyện tiếp theo trong đầu, tiếp tục kể về một điều gì khác, và cuộc trò chuyện trôi đi theo hướng mới, không ai nhắc lại điều vừa được nói ra.
Họ rời quán khi trời đã tối hẳn, không khí lạnh bên ngoài ập vào ngay khi cánh cửa kính trượt mở ra, đối lập hẳn với cái nóng ngột ngạt trong quán. Kiyora mặc lại áo khoác, kéo cổ áo lên cao, hơi rượu vẫn còn lan tỏa nhẹ trong người khiến cô cảm thấy ấm hơn bình thường dù gió đang thổi lạnh buốt qua mặt.
Đi được vài bước, cô sực nhớ ra điều gì đó, dừng lại, lục túi áo khoác tìm điện thoại. Đồng hồ hiện tám giờ tối. Cô nhanh chóng bấm số gọi về nhà, áp điện thoại lên tai, đứng yên chờ chuông đổ. Trong lúc chờ, cô cắn nhẹ môi dưới, cố giữ cho giọng mình bình thường trở lại, cố xóa đi chút ngập ngừng còn sót lại từ men rượu, hít vào một hơi sâu rồi thở ra chậm rãi.
“Alo mẹ.”
Cuộc gọi diễn ra ngắn, những câu hỏi thăm quen thuộc, những câu trả lời quen thuộc không kém, và Kiyora cúp máy sau khi hứa sẽ ngủ sớm. Cô bỏ điện thoại vào túi, đứng đó một lúc, hơi thở tạo thành từng làn khói tan nhanh trong không khí lạnh. Rồi cô quay sang, kéo nhẹ tay áo khoác của Fuyuko đang định bước tiếp.
“Em chưa muốn về đâu ạ.”
Họ đi dọc theo con đường vắng, hơi lạnh của đêm dần thấm qua lớp áo khoác, nhưng hơi ấm từ bữa ăn và chút men rượu còn sót lại khiến Kiyora không thấy khó chịu lắm. Ánh đèn đường phía trước hắt xuống thành từng quầng vàng cam rải rác, khoảng tối giữa mỗi cột đèn kéo dài hơn khi họ rời xa khu trung tâm thị trấn.
“Chị biết không, hôm trước em phải đi nhờ sửa máy sưởi, mà bà hàng xóm cứ giới thiệu con trai bà ấy cho em, kiểu như đã sắp xếp sẵn rồi vậy.”
Fuyuko bật cười, hơi thở tạo thành một làn khói ngắn tan trong không khí, vai cô rung nhẹ theo tiếng cười, một tay cô đưa lên ôm bụng như đang cố nín bớt.
“Rồi sao, có ưng cậu trai đó không?”
Cô hỏi, giọng còn vương chút cười, liếc sang Kiyora chờ phản ứng.
“Chị đừng trêu em nữa.”
Kiyora đẩy nhẹ vai Fuyuko một cái, mặt cô đỏ ửng hơn cả lúc còn ngồi trong quán, hai tay cô đưa lên che má như thể làm vậy có thể giấu bớt màu đỏ đang lan ra.
“Em ngại muốn chết luôn ấy, đứng đó không biết nhìn đi đâu.”
Cô rên lên một tiếng nhỏ, dậm chân xuống đất một cái như đang trút bớt cái ngượng còn sót lại từ hôm đó.
“Nghe cũng bình thường mà, mấy bà ở đây hay vậy lắm, thấy đứa nào một mình là bắt đầu tính chuyện mai mối liền.”
Fuyuko nói, giọng thản nhiên như đang kể một chuyện đã quá quen ở cái thị trấn này, vai cô nhún nhẹ một cái.
“Chị cũng bị vậy à?”
Kiyora hỏi, đầu cô nghiêng sang nhìn Fuyuko, tò mò rõ rệt trên mặt.
“Chị á?”
Fuyuko nhún vai, giọng có chút cạn, mắt cô nhìn thẳng về phía trước như đang ôn lại một ký ức không mấy dễ chịu.
“Còn tệ hơn. Có bà phụ huynh học sinh cứ hỏi chị bao giờ lấy chồng suốt, mỗi lần họp phụ huynh là một lần bị hỏi.”
Kiyora cười thành tiếng, tay cô che miệng lại theo phản xạ, đầu hơi ngửa ra sau, vai cô rung lên vì tiếng cười không kìm được.
“Vậy chị trả lời sao ạ?”
Cô hỏi, giọng vẫn còn vương chút cười, mắt cô hấp háy chờ câu trả lời.
“Chị bảo bận dạy học không có thời gian nghĩ tới chuyện đó.”
Họ đi tiếp một đoạn, tiếng cây gậy gõ đều xen giữa tiếng bước chân của cả hai, hòa vào tiếng gió thổi qua những tán cây trụi lá ven đường. Men rượu vẫn còn khiến Kiyora nói nhiều hơn thường lệ, giọng cô nhẹ và thoải mái hơn, hai tay cô thỉnh thoảng đưa lên làm điệu bộ mỗi khi kể đến đoạn nào đó khiến cô thấy buồn cười.
“Chị này, em nghĩ ra rồi.”
Cô nói, giọng đột nhiên trở nên nghiêm túc hơn hẳn câu chuyện phiếm vừa rồi, bước chân cô chậm lại một nhịp.
“Nghĩ ra gì?”
Fuyuko hỏi, đầu hơi nghiêng sang nhìn cô, giọng cũng chùng xuống theo, như đã cảm nhận được sự thay đổi trong không khí.
“Cái chị hỏi em hôm trước ấy. Về việc nếu không bị bệnh thì em sẽ làm gì.”
Kiyora nhìn xuống mặt đường, bước chân cô chậm lại một nhịp, không phải vì mệt mà vì đang cố sắp xếp lời nói cho đúng, ngón tay cô siết nhẹ quanh cán gậy như đang tìm điểm tựa cho cả câu nói.
“Em nghĩ cả tuần nay. Em nghĩ em muốn đi học đại học.”
Fuyuko quay sang nhìn cô, bước chân cô cũng chậm lại theo, không nói gì ngay, chỉ chờ cô nói tiếp, ánh mắt cô có phần chăm chú hơn bình thường.
“Em không biết mình nên học ngành gì nữa, nhưng em muốn thử. Em muốn biết cảm giác ngồi trong giảng đường, có bạn bè, có hạn bài tập phải chạy. Chắc sẽ vui lắm chị nhỉ.”
Cô cười nhẹ khi nói câu cuối, mắt cô nhìn lên bầu trời tối như đang thử hình dung cảnh đó trong đầu.
“Vậy thì đi học đi.”
Fuyuko nói, đơn giản như thể đó là điều hiển nhiên nhất trên đời, không có gì phải cân nhắc thêm, giọng cô chắc nịch không chút do dự. Cô nhìn thẳng vào mắt Kiyora khi nói, không có chút mỉa mai hay đùa cợt nào trong đó, chỉ là một sự khẳng định rõ ràng.
Kiyora không đáp lại ngay, chỉ mỉm cười, một nụ cười nhỏ khác với những nụ cười gượng cô vẫn hay có, mắt cô nhìn xuống mặt đường như đang giấu đi phần nào sự ngại ngùng trước lời khẳng định dễ dàng đó.
Họ tiếp tục đi, con đường dần vắng hơn khi rời xa khu trung tâm thị trấn, đèn đường thưa dần, khoảng tối giữa mỗi cột đèn kéo dài hơn, chỉ còn tiếng sóng biển vọng lại từ xa hòa lẫn với tiếng gió.
Kiyora không nhận ra mình đang chậm lại. Ban đầu chỉ là một khoảng cách nhỏ, nửa bước, rồi một bước, giữa cô và Fuyuko. Cây gậy gõ xuống mặt đường không còn đều như trước, có những nhịp ngắt quãng, có những lúc cô phải dồn sức nặng lên nó lâu hơn bình thường trước khi bước tiếp, hơi thở cô bắt đầu nặng nhọc hơn, tạo thành từng làn khói dày đặc hơn trong không khí lạnh.
Fuyuko nhận ra, cố ý chậm bước lại, liếc mắt về phía sau vài lần, nhưng khoảng cách vẫn không thu hẹp, thậm chí còn rộng ra thêm một chút. Rồi cả hai đều dừng lại, gần như cùng lúc, trước khi kịp nhận ra vì sao.
Kiyora đứng đó, một tay chống hẳn lên đầu cây gậy, dồn toàn bộ trọng lượng xuống nó, các khớp ngón tay siết chặt đến mức trắng bệch dưới lớp găng đen, ngực cô lên xuống nhanh hơn bình thường, hơi thở gấp gáp tạo thành từng làn khói ngắn liên tục trong không khí lạnh.
“Em ổn không?”
Fuyuko hỏi, bước nhanh lại gần, tay cô đưa ra nhưng chưa chạm vào Kiyora, còn lơ lửng giữa không trung như đang chờ xem cô có cần đỡ ngay không.
“Em… không sao ạ. Chỉ hơi mệt thôi.”
Giọng cô không giống bình thường, có phần đứt quãng giữa các từ, vai cô hơi khom xuống như đang cố giấu đi gì đó. Fuyuko bước lại gần, nhìn cô một lúc, ánh mắt lướt qua cây gậy đang run nhẹ dưới sức nặng dồn lên nó, rồi nhìn lên khuôn mặt Kiyora, nơi lớp mồ hôi lạnh đã bắt đầu lấm tấm trên trán dù trời đang rét buốt.
“Để chị cõng về.”
Cô nói, giọng không còn chỗ cho sự từ chối, đã quay lưng lại và hơi khuỵu gối xuống trước khi Kiyora kịp trả lời.
“Không cần đâu ạ, em đi được mà.”
Kiyora cố bước thêm một bước như để chứng minh, nhưng đầu gối cô liền khuỵu xuống. Cô ngã nhào về phía trước, nhưng Fuyuko đã kịp bước tới, vòng tay đỡ lấy trước khi cô chạm đất, giữ cô đứng vững lại trong vòng tay mình, cây gậy suýt rơi khỏi tay Kiyora nhưng sợi dây vòng cổ tay đã giữ nó lại đúng lúc.
Kiyora không nói gì nữa, chỉ thở dốc, hai tay cô nắm lấy tay áo Fuyuko, không còn sức để phản đối thêm, trán cô gần như tựa hẳn vào vai Fuyuko. Fuyuko quay lưng lại, hơi khuỵu gối xuống, tay đưa ra sau chờ sẵn.
“Lên đi.”
Lần này Kiyora không từ chối, cô vòng hai tay yếu ớt qua cổ Fuyuko, để cơ thể mình đổ hẳn lên lưng cô. Fuyuko đứng thẳng dậy, hai tay đỡ chắc dưới đùi Kiyora, bước đi chậm rãi, cây gậy giờ đung đưa theo sợi dây vòng nơi cổ tay Kiyora đang bám lỏng lẻo trên vai cô.
Không có tiếng giày dẫm vào mặt đường phủ tuyết như những lần khác. Chỉ còn tiếng sóng vọng lại từ xa, đều đặn và mờ nhạt sau lớp không khí lạnh, hòa cùng tiếng thở của cả hai người. Đầu Kiyora tựa hẳn vào vai Fuyuko, hơi thở cô dần đều lại theo từng bước chân vững chãi của người đang cõng mình, và những quầng đèn đường vàng cam lần lượt trôi qua phía sau lưng họ, xa dần vào bóng tối.
Kiyora nhẹ hơn Fuyuko nghĩ. Cả người cô gần như đổ hẳn về phía trước, đầu cô tựa vào vai trái Fuyuko, hai tay vòng lỏng qua cổ, không còn chút lực nào để bám chặt. Cây gậy vẫn còn nắm trong tay cô, sợi dây vòng cổ tay giữ nó không rơi, đầu gậy đung đưa nhẹ theo từng bước chân, thỉnh thoảng chạm khẽ vào lưng Fuyuko rồi lại đung đưa ra xa, một nhịp điệu nhỏ lặp đi lặp lại trong bóng tối.
Fuyuko bước đi, hai tay đỡ dưới đùi Kiyora, giữ cô ổn định trên lưng mình. Gió lạnh thổi qua, luồn vào cổ áo cô, nhưng hơi ấm từ người Kiyora áp sát vào lưng cô lại là một cảm giác khác hẳn, một sức nặng nhỏ nhưng thật, phó thác hoàn toàn vào từng bước chân của cô.
Kiyora đã im lặng được một lúc, không còn nói gì kể từ khi được cõng lên. Âm thanh duy nhất còn lại là hơi thở của cô, đều đặn nhưng vẫn còn hơi gấp, phả sát vào tai trái Fuyuko theo từng bước chân.
Rồi có một tiếng thì thầm, nhỏ đến mức gần như tan vào hơi thở.
“Em xin lỗi…”
Fuyuko không đáp lại ngay. Hàng mi cô hạ xuống một nhịp rồi mở ra, ngón tay cô siết chặt hơn quanh đùi Kiyora, hàm cô nghiến lại một cái rồi thả lỏng. Cô dừng bước lại, chỉ một nhịp ngắn, mắt nhìn ra con đường tối phía trước. Rồi cô hơi xốc người lên, đẩy Kiyora lên cao hơn một chút trên lưng mình, tay siết chặt hơn dưới đùi Kiyora
“Ngủ đi. Sắp về đến nơi rồi.”
Cô nói khẽ, giọng trầm hơn bình thường, gần như chỉ đủ để gió mang đi chứ không hẳn để Kiyora nghe thấy. Cô tiếp tục bước, không nói gì thêm nữa, chỉ có tiếng sóng vọng lại từ xa và hơi thở của Kiyora vẫn còn phả bên tai trái cô, đều dần theo từng bước chân trong đêm tối, con đường phía trước vẫn còn dài trước khi họ về đến nơi.
Kiyora mở mắt khi ánh sáng đã tràn đầy qua khe rèm, muộn hơn hẳn giờ cô vẫn thường dậy. Cô nằm yên một lúc, nhìn lên trần nhà, đầu óc còn mơ hồ, một cơn đau âm ỉ nằm ở đâu đó phía sau thái dương, không dữ dội nhưng đủ để cô nhận ra ngay khi vừa tỉnh giấc.
Cô cố nhớ lại làm sao mình về đến đây, làm sao mình lên được futon, nhưng chỉ có những mảnh rời rạc hiện lên trong đầu, tiếng sóng, hơi lạnh, một cảm giác chông chênh nào đó, rồi tất cả nhòe đi thành khoảng trống, và cô đưa tay lên xoa nhẹ hai bên thái dương.
Nhìn xuống người mình, cô nhận ra mình vẫn còn mặc nguyên bộ váy yếm và áo sơ mi từ tối qua, phần cổ tay áo vẫn còn cuộn gọn như lúc Fuyuko giúp cô. Cô ngồi dậy, chậm rãi, sợ đầu mình sẽ đau hơn nếu cử động nhanh. Đôi mắt cô lướt sang phía cửa và dừng lại ở cái áo khoác xanh treo ngay ngắn trên móc, không phải vắt tạm hay để trên ghế như cô vẫn hay làm, mà được treo cẩn thận, cổ áo xếp phẳng phiu.
Mùi khói thịt nướng vẫn còn vương lại đâu đó trên tóc, trên lớp vải áo cô đang mặc, nhưng đã nhạt đi nhiều so với tối qua, không còn nồng đến mức lấn át mọi thứ khác nữa, chỉ còn phảng phất như một dư âm mờ nhạt của buổi tối hôm trước, hòa lẫn với mùi gối chăn quen thuộc của căn phòng.
Cô ngồi ở mép tấm futon một lúc lâu, hai tay ôm lấy đầu, cố ghép lại những mảnh ký ức rời rạc còn sót lại, nhưng phần lớn buổi tối hôm qua vẫn nằm trong một khoảng mờ đục mà cô không thể chạm tới được.
Chương 4: Đêm Giao Thừa
Buổi sáng đó Kiyora không ra ngoài sớm như mọi khi.
Hai chân cô mỏi rã rời khi cô thử đứng dậy khỏi tấm futon. Cô nắm lấy khung cửa để giữ thăng bằng, một tay ấn xuống đùi trong, nơi cơn đau nhức âm ỉ chạy dọc lên tận hông, khác hẳn cái mỏi quen thuộc sau những buổi tập đi trong bệnh viện.
Cô nhấc chân lên rồi lại hạ xuống, thử thêm một bước, nhưng đầu gối khuỵu nhẹ khiến cô phải ngồi thụp trở lại xuống mép futon ngay lập tức. Ngón tay cô xoa vòng tròn lên phần đùi đang đau, mắt cô nhìn xuống đó như đang cố tìm ra nguyên do trong khi ký ức đêm qua chỉ hiện lên thành từng mảnh rời rạc.
Điện thoại cô để trên bàn sáng đèn thông báo. Cô nằm lại xuống, kéo chăn lên, với tay lấy điện thoại, thấy một tin nhắn từ mẹ gửi lúc nửa đêm, chỉ vài chữ hỏi cô đã ngủ chưa và có ăn uống đầy đủ không. Cô nhìn tin nhắn đó một lúc lâu, ngón tay cô lướt trên màn hình mà chưa gõ chữ nào để trả lời, ánh mắt cô mất dần sự tập trung vào dòng chữ, trôi ra một khoảng không nào đó xa hơn màn hình điện thoại.
Cô đưa tay lên chạm nhẹ vào trán mình rồi giữ nguyên ở đó vài giây, những ngón tay khum lại theo đúng cách bàn tay mẹ cô vẫn hay áp lên. Rồi cô hạ tay xuống, gõ vài chữ trả lời, ngắn gọn như mọi khi, đặt điện thoại xuống, nằm nhìn lên trần nhà, cơn đau đầu nhẹ vẫn còn lảng vảng đâu đó phía sau thái dương.
Buổi trưa cô mới ra khỏi phòng, xuống bếp xin bà cụ chủ nhà một bát cháo, ăn chậm rãi trong im lặng, không đi đâu xa hơn khoảng sân trước nhà nghỉ suốt cả ngày hôm đó.
Vài ngày sau, khi cơn mỏi đã tan hẳn, Kiyora quay lại nhịp sống thường ngày của mình. Một buổi chiều, cô kéo ngăn kéo ra, lấy hộp thuốc đặt lên bàn, mở nắp, đổ từng viên ra lòng bàn tay rồi đếm lại, môi cô mấp máy theo từng con số, ngón tay đẩy từng viên thuốc sang một bên sau khi đếm xong, một thói quen cô vẫn giữ nguyên vẹn từ những ngày còn nằm viện.
Số thuốc còn lại không nhiều như cô tưởng. Cô ngồi xuống bàn, tính nhẩm, đếm số ngày còn lại trước khi hộp thuốc cạn hẳn bằng cách gõ ngón tay lên mặt bàn theo từng nhịp đếm, rồi lấy sổ tay nhỏ ra, cây bút chì trong tay cô ấn hơi mạnh khi viết con số đó xuống, gạch dưới hai lần liên tiếp đến mức đầu chì hơi lún vào giấy.
Cô gấp cuốn sổ lại, nhét vào túi áo khoác treo trên móc, tay cô dừng lại ở đó một giây trước khi rút ra, rồi quay đi làm việc khác, để cuốn sổ nằm yên trong túi áo không động đến nữa.
Chiều hôm ấy, cô đi ngang qua tiệm bánh quen thuộc, bước vào, đứng trước tủ kính chọn một cái bánh bao nhân đậu đỏ như mọi lần. Người phụ nữ bán hàng gói bánh vào túi giấy, đưa qua quầy. Kiyora mở ví, đếm đúng số tiền cần trả, không còn phải nhìn kỹ từng đồng xu như những ngày đầu nữa, tay cô đặt số tiền vừa đủ lên quầy mà không cần thối lại đồng nào.
“Cảm ơn cháu.”
Người phụ nữ nói, mỉm cười quen thuộc, tay bà đẩy túi bánh về phía Kiyora, mắt bà lướt qua mấy đồng tiền lẻ được đặt ngay ngắn trên quầy thay vì rải rác như mọi lần trước.
“Dạo này cháu rành hẳn tiền bạc ở đây rồi nhỉ.”
Kiyora nhận túi bánh, khóe miệng cô nhích lên một chút, vai cô hơi nhún lại như đang giấu bớt sự hài lòng nhỏ trước lời khen đó.
“Dạ, cũng quen dần rồi ạ.”
Cô cầm túi bánh bước ra khỏi tiệm, cái bánh vẫn còn ấm trong tay, hơi nóng lan qua lớp giấy vào lòng bàn tay cô. Cô đi được vài bước rồi nhìn xuống mấy đồng tiền lẻ còn lại trong ví, xếp chúng gọn lại theo mệnh giá bằng một tay trong lúc tay kia vẫn giữ túi bánh, không còn phải dừng hẳn lại để nhìn kỹ từng đồng như buổi sáng đầu tiên cô mua nó nữa.
Vài ngày trôi qua, Kiyora bắt đầu để ý những thay đổi nhỏ quanh thị trấn mà cô chưa từng thấy trước đó.
Trước cửa mấy căn nhà, người ta treo lên những sợi dây thừng được bện bằng rơm, xen kẽ vài tua giấy trắng cắt zigzag, một số nhà còn đặt thêm một chậu tre và thông nhỏ ngay lối vào, buộc lại gọn gàng bằng dây đỏ trắng. Khu chợ đông hơn hẳn mọi khi, người ta xếp hàng dài trước mấy sạp bán cá, mua với số lượng nhiều hơn thường lệ, những loại nguyên liệu cô chưa từng thấy trước đây cũng bắt đầu xuất hiện, đóng gói cẩn thận trong hộp gỗ nhỏ xếp tầng.
Cô đứng nhìn một chậu tre trước cửa tiệm tạp hóa một lúc, đầu hơi nghiêng sang một bên, không hiểu ý nghĩa của nó, rồi bước vào trong khi thấy người chủ tiệm đang lau dọn quầy hàng.
“Cô ơi, mấy cái đó trước cửa để làm gì vậy ạ?”
Người phụ nữ ngẩng lên, nhìn theo hướng tay Kiyora chỉ, rồi cười, tay bà vẫn không ngừng lau khăn qua mặt quầy kính.
“À, cái đó là kadomatsu để đón năm mới đấy. Sắp đến giao thừa rồi mà, cháu không chuẩn bị gì à?”
Kiyora đứng khựng lại một nhịp, ngón tay cô siết nhẹ quanh cán gậy, mắt cô nhìn xuống nền gạch của tiệm trước khi ngẩng lên đáp.
“Dạ, cháu cũng không biết chuẩn bị gì cả.”
Cô nói, hai vai hơi thu lại, giọng nhỏ hơn câu hỏi lúc nãy một chút.
“Người ta hay dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ trước đó, nấu osechi để cả nhà ăn cùng nhau, rồi đi đền chùa cầu may đầu năm nữa.”
Bà nói điều đó một cách hết sức bình thường, như đang kể lại một việc ai cũng biết, tay bà vẫn tiếp tục lau quầy trong lúc nói, không để ý đến khoảng dừng nhỏ trên gương mặt Kiyora sau câu trả lời đó.
“Cháu cảm ơn cô ạ.”
Cô bước ra khỏi tiệm, tiếp tục đi dọc theo con đường quen thuộc, mắt cô giờ đây bắt gặp thêm nhiều chậu kadomatsu khác dựng trước từng cánh cửa, một số nhà còn treo thêm đèn lồng giấy nhỏ, sợi dây rơm quấn quanh cột đèn đường.
Vài hôm sau, khi cô đang đứng đợi mua bánh mì, một gia đình đi ngang qua trên vỉa hè đối diện.
Ông bà đi trước, bước chậm rãi, tay ông xách một túi giấy lớn đựng gì đó nặng, có lẽ là đồ cúng hoặc thực phẩm chuẩn bị cho bữa tiệc cuối năm. Theo sau là một cặp vợ chồng trẻ hơn, người chồng bế một đứa bé còn nhỏ, người vợ dắt tay một đứa lớn hơn đang nhảy chân sáo trên tuyết, miệng cười nói líu lo điều gì đó khiến cả nhà cùng bật cười.
Họ đi cùng nhau theo một nhịp điệu quen thuộc, không ai phải chờ ai, như thể đã quen bước đi cùng nhau qua rất nhiều năm tháng, không cần sắp xếp trước mà tự nhiên hòa vào nhau thành một khối di chuyển thống nhất. Kiyora đứng đó, tay vẫn cầm túi bánh vừa mua, nhìn theo họ cho đến khi cả gia đình khuất sau góc phố.
Kiyora chỉ đứng yên thêm một giây, ngón tay siết nhẹ quanh cán gậy, rồi cô quay người, tiếp tục bước đi theo hướng ngược lại, cây gậy gõ đều xuống nền tuyết đã đóng cứng dưới chân.
Tối hôm đó, cô ngồi ở bàn nhỏ trong phòng, tay cầm điện thoại, ngón tay lơ lửng trên đoạn tin nhắn đang gõ dở gửi cho mẹ, một câu hỏi về món osechi mẹ vẫn hay làm mỗi năm.
Cô nhìn dòng chữ đó một lúc, rồi xóa đi, gõ lại một câu khác ngắn hơn hỏi về thời tiết ở nhà có lạnh không. Cô gửi đi, đặt điện thoại xuống, tắt đèn bàn, rồi nằm xuống tấm futon, kéo chăn lên đến vai.
Thoáng chốc, đêm giao thừa đã đến. Kiyora ngồi một mình trong căn phòng nhỏ của nhà nghỉ, ánh đèn bàn duy nhất tỏa một quầng sáng vàng nhạt lên mặt chăn. Bên ngoài, thị trấn vốn yên tĩnh giờ mang một nhịp sống khác, xa xa vọng lại tiếng chuông chùa ngân dài từng hồi, đứt quãng rồi lại tiếp tục, hòa cùng tiếng cười nói lao xao của những gia đình đang tụ họp đâu đó trong đêm tối. Thỉnh thoảng có tiếng pháo giấy nổ lách tách từ phía xa, rồi tắt lịm, nhường chỗ lại cho tiếng chuông đều đặn.
Cô cầm điện thoại lên, bấm số gọi về nhà sớm hơn thường lệ, tính toán trước múi giờ để kịp bắt được bố mẹ trước khi họ bận rộn với giao thừa của riêng mình. Chuông đổ ba tiếng thì mẹ cô bắt máy.
“Alo, con gái mẹ đây rồi.”
Có tiếng sột soạt ở đầu dây bên kia, như mẹ cô vừa đổi tay cầm điện thoại, rồi một khoảng lặng rất ngắn trước khi bà nói tiếp, giọng cao hơn bình thường một chút ở đầu câu rồi dịu lại giữa chừng.
“Giao thừa bên đó với con thế nào? Có lạnh không?”
Kiyora kéo chăn lên cao hơn một chút, mắt cô nhìn vào quầng sáng vàng nhạt của đèn bàn, ngón tay cô miết lên mép chăn theo một đường thẳng.
“Dạ, cũng bình thường thôi mẹ. Con ổn mà.”
Cô nói, giọng mình cố giữ đều, nhưng đến chữ ổn thì có một khoảng ngập ngừng rất nhỏ, một sự đứt quãng chỉ kéo dài chưa đến một giây trước khi cô kịp làm phẳng nó lại bằng câu tiếp theo.
“Con tự lo được, mẹ đừng lo cho con.”
Họ nói chuyện thêm vài câu, về món ăn mẹ cô đang chuẩn bị, về việc bố cô đang xem pháo hoa trên tivi, những câu chuyện nhỏ nhặt lấp đầy khoảng cách giữa hai đầu dây điện thoại. Kiyora cười đúng lúc, hỏi đúng câu, đáp đúng lời, như một bài diễn tập cô đã thuộc lòng từ những cuộc gọi trước.
“Thôi, con nghỉ sớm đi nhé. Mẹ thương con.”
Có một tiếng hít vào nhẹ ở đầu dây bên kia trước khi mẹ cô nói hết câu, khác hẳn với nhịp nói đều đặn suốt cuộc gọi.
“Dạ, con thương mẹ.”
Cô cúp máy. Màn hình điện thoại tối đi ngay sau đó, căn phòng bỗng chốc trở nên yên lặng hơn hẳn so với khi còn tiếng nói của mẹ vang lên bên tai, một sự im lặng đặc quánh đến mức cô có thể nghe rõ cả tiếng kim đồng hồ nhỏ trên bàn chạy đều, tiếng gió lùa qua khe cửa sổ, tiếng chuông chùa xa xa vẫn còn ngân vọng lại.
Kiyora đặt điện thoại xuống bàn, kéo hai chân lên futon, thu người lại, hai tay vòng qua đầu gối, cằm tựa lên đó. Vai cô so lại gần sát tai, lưng cong xuống thành một đường cong nhỏ, cả người cô co rút vào giữa tấm chăn mỏng như đang cố lọt vừa một khoảng không chỉ đủ chứa chính mình.
Cô nhìn xuống bàn tay mình, những ngón tay đang bám vào nhau trước ống chân chỗ đùi, rồi cô siết chặt lại, các khớp ngón trắng bệch ra dưới lớp da, dù trong tay cô lúc này chẳng có gì ngoài chính lớp vải quần của mình.
Cô ngồi như vậy, bất động, chỉ có vai cô khẽ nhô lên rồi hạ xuống theo từng nhịp thở, chậm dần, sâu dần, cho đến khi một hơi thở nào đó không trọn vẹn, đứt gãy giữa chừng thành một tiếng nấc nhỏ.
Một giọt nước ấm bắt đầu chạy xuống má Kiyora. Không phải chỉ một hai giọt như lần trước mà cứ thế tuôn ra, chậm rãi nhưng không ngừng, thấm vào lớp vải quần nơi cô đang tựa cằm. Hai tay cô vẫn siết chặt quanh đầu gối, ngày một chặt hơn, không một lần đưa lên lau mặt. Vai cô rung lên từng đợt ngắn, không đều, mỗi lần rung lại kéo theo một tiếng nấc nhỏ khác bị nén xuống ngay khi vừa thoát ra khỏi cổ họng.
Cô thu mình lại nhỏ hơn nữa mỗi khi một đợt nước mắt mới dâng lên, trán cô gần như ép hẳn xuống đầu gối, hai cánh tay siết quanh ống chân đến mức run lên theo từng nhịp thở. Rồi dần dần, khoảng cách giữa các tiếng nấc thưa ra, vai cô hạ thấp xuống, các ngón tay nới lỏng khỏi đầu gối từng chút một, cho đến khi cả người cô chỉ còn hơi rung khẽ theo nhịp thở đã đều trở lại.
Cô ngẩng đầu lên, lau mặt bằng tay áo, nhìn ra cửa sổ nơi bóng tối vẫn còn bao trùm, tiếng chuông chùa giờ đã thưa hơn, xa hơn.
Cô đứng dậy, cầm cây gậy dựng cạnh tấm futon, khoác chiếc áo khoác xanh dương treo trên móc, cài từng nút một cách chậm rãi. Cô đưa mắt nhìn một vòng quanh phòng, tấm chăn còn nhăn nhúm trên futon, chiếc gối lệch khỏi vị trí ban đầu, không có gì khác cần chỉnh lại, không có ai để cô phải hạ giọng khi bước ngang qua, và cô kéo cửa mở ra, bước thẳng vào khoảng hành lang tối om phía ngoài mà không ngoái lại.
Kiyora khép cửa lại, bước xuống cầu thang gỗ, ra ngoài con đường vắng, nơi không khí lạnh buốt của đêm giao thừa lập tức phả vào mặt cô, mang theo hơi muối biển quen thuộc.
Cô bắt đầu bước đi, để đôi chân dẫn mình đi theo con đường nào đó, xa dần khỏi nhà nghỉ, về phía tiếng sóng đang vọng lại từ đâu đó trong bóng tối.
Con đường về đêm giờ khác hẳn buổi tối cô vẫn quen đi ngang qua. Từng ngôi nhà cô đi qua đã tắt dần ánh đèn, cửa sổ này rồi đến cửa sổ khác chìm vào bóng tối khi gia đình bên trong đã xong bữa tất niên, đã cúng bái xong xuôi, đã đi ngủ để đón một năm mới bắt đầu từ giấc ngủ yên bình. Tiếng chuông chùa giờ chỉ còn vọng lại rất xa, mỏng và đứt quãng, gần như tan biến hẳn vào tiếng gió.
Cây gậy cứ gõ đều xuống nền tuyết đã đông cứng, âm thanh duy nhất còn sót lại trong con đường vắng lặng này. Đến một đoạn đường không có gì đặc biệt, không phải góc rẽ, không phải điểm nào cô từng ghi nhớ, cô bỗng dừng lại. Cô đứng đó một lúc rồi lấy điện thoại ra khỏi túi áo khoác.
Ánh sáng màn hình bật lên chói lòa giữa bóng tối đặc quánh xung quanh, khiến cô phải nheo mắt lại một chút trước khi có thể nhìn rõ. Đồng hồ hiện một giờ bốn mươi chín phút sáng.
Hình nền là bức ảnh chụp cả gia đình ở Otaru, con kênh và những tòa nhà đá cũ làm phông nền phía sau, cô đứng giữa, hai bên là bố và mẹ, cả ba đều cười, riêng nụ cười của cô hơi gượng, khóe miệng kéo lên không đều, ánh mắt nhìn hơi lệch khỏi ống kính như chưa kịp chuẩn bị khi máy chụp bấm xuống.
Cô nhìn bức ảnh đó một lúc, ngón tay cái lướt nhẹ qua màn hình mà không chạm vào bất cứ đâu. Rồi cô tắt màn hình, nhét điện thoại lại vào túi áo khoát, bóng tối lập tức nuốt chửng lấy cô một lần nữa, đậm đặc hơn cả trước khi ánh sáng đó xuất hiện.
Cô tiếp tục bước đi. Con đường dần dốc xuống, mùi muối biển đậm hơn theo từng bước chân, lẫn vào đó là mùi cá và dầu máy quen thuộc của khu vực gần bến cảng. Cô đi qua dãy nhà kho tối om, không một ánh đèn nào còn sáng ở khu vực này giờ khắc đêm khuya của năm cũ sắp qua.
Phía trước, xa hơn hẳn khoảng cách cô vẫn thường đi vào những buổi sáng, một quầng sáng lạ xuất hiện, tách biệt hẳn với bóng tối xung quanh, như một hòn đảo ánh sáng nhỏ nằm giữa biển đêm.
Cô chậm bước lại, không tiến gần thêm ngay, đứng nhìn quầng sáng đó từ xa, cố định hình xem đó là gì giữa đêm khuya thế này.
Có tiếng người, mơ hồ và nhỏ, vọng lại từ phía đó, xen lẫn với tiếng sóng vỗ đều đặn vào bờ đá. Kiyora đứng lại cách quầng sáng đó một khoảng xa, nơi con đường ven biển uốn cong ra ngoài mặt nước một chút, tạo thành một điểm nhìn tự nhiên xuống phía bến cảng. Cô đặt một tay lên thanh lan can sắt lạnh buốt chạy dọc theo mép đường, tay kia vẫn giữ cây gậy, không tiến thêm bước nào nữa.
Từ khoảng cách này, cô không thể nhìn rõ mặt bất cứ ai.
Bến cảng đêm đó chật kín thuyền, neo sát nhau thành từng hàng dọc theo cầu tàu, đèn trên mỗi chiếc bật sáng cùng lúc, hắt xuống mặt nước thành những vệt vàng vọt dài lay động theo con sóng nhỏ, rồi tràn lên tận lối đi bằng bê tông, nhuộm cả mặt đường ẩm ướt một màu vàng cam loang lổ.
Cô thấy một nhóm người đứng thành một vòng cung không đều quanh khu vực cầu cảng, dáng người họ chỉ là những khối bóng tối đậm hơn nền trời đêm, đứng yên, không di chuyển nhiều. Ở giữa vòng người đó, một bóng dáng khác đang chuyển động, khác hẳn với sự tĩnh lặng của những người xung quanh
Bóng dáng đó khoác một lớp trang phục màu xanh lam đậm, đậm đến mức gần như đen dưới ánh đèn cao áp, chỉ khi ánh sáng chiếu trúng một góc nhất định thì sắc xanh mới hiện rõ, phần vai và tay áo rộng, phồng lên mỗi khi người đó vung tay. Trên đầu là một chiếc mặt nạ, cũng mang cùng sắc xanh lam với phần trang phục, đường nét trên mặt nạ dữ tợn với khuôn miệng tô đỏ tươi, cong lên ở hai khóe như đang gầm gừ, nổi bật hẳn giữa cả một khối màu tối của đêm và trang phục.
Trong một tay, người đó cầm một vật gì đó dài, ánh kim loại lóe lên mờ nhạt mỗi khi xoay chuyển, hình dáng như một lưỡi rìu nhỏ, được vung lên rồi hạ xuống theo từng nhịp chậm rãi, không phải để chém hay đe dọa, mà như một phần của điệu bộ đã được quy định từ trước.
Người đó di chuyển chậm, từng bước một, không giống bất kỳ điệu nhảy nào Kiyora từng thấy trên tivi hay trong sách vở, không có nhịp điệu vui tươi hay phô diễn gì mà là một chuỗi động tác trầm và có chủ đích, hai tay đưa ra rồi thu về, cả thân người xoay nửa vòng rồi dừng lại, chiếc rìu nhỏ trong tay vẽ thành những đường cung chậm rãi trong không khí như đang thực hiện một nghi thức đã được lặp lại qua không biết bao nhiêu năm tháng đến mức từng động tác đã ăn sâu vào cơ thể người thực hiện.
Tiếng chuông vang lên. Không phải tiếng chuông chùa xa xăm cô nghe được lúc nãy mà là một âm thanh khác, nhỏ hơn và sắc hơn, nó rung lên mỗi khi bóng dáng đó vung tay theo một hướng nhất định, rồi tắt đi, rồi lại vang lên khi động tác lặp lại. Âm thanh đó truyền qua mặt nước lạnh lẽo, rõ ràng đến kỳ lạ dù khoảng cách xa thế này như thể mặt biển phẳng lặng đang giúp nó đi trọn vẹn hơn thay vì tan biến giữa không khí.
Xen giữa tiếng chuông lớn là một chuỗi âm thanh nhỏ hơn, lách cách liên tục, có lẽ từ một vật gì đó đeo ở cổ tay người đang múa, những mảnh kim loại nhỏ va vào nhau theo từng nhịp chuyển động, tạo thành một lớp âm thanh mỏng phủ lên trên tiếng chuông chính.
Kiyora đứng bất động tại đó, tay cô trên thanh lan can siết chặt lại. Cô nghiêng người về phía trước một chút, như thể muốn rút ngắn khoảng cách bằng chính cơ thể mình dù đôi chân không hề bước thêm dù chỉ nửa bước.
Hơi thở cô chậm lại, nông hơn, ánh mắt cô vẫn dán chặt vào chiếc mặt nạ xanh lam với khuôn miệng đỏ tươi kia mà không rời đi dù chỉ một giây, đến mức cô không còn cảm nhận rõ cái lạnh đang cắn vào các đầu ngón tay không đeo găng của mình nữa.
Có gì đó trong tiếng chuông ấy, trong nhịp điệu chậm rãi và nặng nề của từng động tác ấy, khiến ngực Kiyora thắt lại. Cô đứng thẳng người hơn, tay bám lan can siết chặt thêm một chút, hơi thở cô chậm lại theo đúng nhịp tiếng chuông đang vang lên rồi tắt ngoài kia, như thể cơ thể cô đang tự động đồng bộ với thứ âm thanh đó mà không cần cô cho phép.
Chỉ là một cảm giác được kéo về phía trước, nhẹ nhàng nhưng chắc chắn, như thủy triều kéo một vật trôi nổi về phía bờ mà chính vật đó không hề biết vì sao mình lại di chuyển. Bàn chân cô nhích lên nửa bước, gần sát hơn về phía lan can, dù cô không nhớ mình đã quyết định bước tới, và ngón tay cô nới lỏng khỏi cây gậy một chút, chỉ để giữ thăng bằng chứ không còn cần nó làm điểm tựa chính nữa.
Cô đứng đó, không biết bao lâu, tay vẫn bám chặt lan can, mắt vẫn không rời khỏi quầng sáng nhỏ giữa biển đêm, nơi bóng dáng khoác áo nghi lễ vẫn tiếp tục những động tác chậm rãi của mình, chiếc rìu nhỏ vẫn vẽ những đường cung đều đặn trong không khí, tiếng chuông vẫn đều đặn vang lên rồi tắt, rồi lại vang lên, như một nhịp thở khác của đêm giao thừa mà cô vô tình bước vào giữa chừng.
Nghi lễ ấy dần đi đến hồi kết, những chuyển động của bóng dáng khoác trang phục xanh lam chậm lại, cuối cùng dừng hẳn ở giữa vòng người vẫn đứng yên quan sát. Có tiếng vỗ tay lác đác, nhỏ và trang nghiêm hơn là hào hứng, rồi đám đông bắt đầu tản ra, một vài người cúi đầu về phía người vừa thực hiện nghi lễ trước khi quay lưng rời đi.
Một chiếc thuyền đầu tiên nổ máy, đèn mũi thuyền quét một vệt sáng dài trên mặt nước trước khi tách khỏi hàng, rẽ sóng đi ra phía cửa biển. Ít phút sau một chiếc khác cũng rời bến theo, rồi một chiếc nữa, cứ thế lần lượt tách ra khỏi dãy thuyền neo sát nhau, để lại những khoảng trống ngày một rộng hơn giữa các cầu tàu. Cuối cùng chỉ còn lại ánh đèn cao áp hắt xuống bến cảng, mờ và vàng vọt, chiếu lên mặt nước giờ đã trống trải, không còn quầng sáng nào từ thuyền phản chiếu lên đó nữa.
Kiyora vẫn đứng đó, tay bám lan can, không rời mắt.
Người mặc trang phục nghi lễ đưa hai tay lên, tháo chiếc mặt nạ xanh lam ra khỏi mặt, động tác chậm rãi, cẩn thận. Bên dưới mặt nạ, đầu người đó vẫn còn quấn một lớp vải, che kín phần tóc, chỉ để lộ khuôn mặt, nhưng dưới ánh sáng vàng yếu ớt hắt xuống từ dây bóng đèn treo dọc theo cầu tàu, mọi đường nét đều nhòe thành một mảng nhợt nhạt không rõ hình thù, khoảng cách quá xa để Kiyora phân biệt được gì hơn thế.
Một bóng người khác tiến lại gần, dáng đi và vóc dáng quen thuộc, có lẽ là người cảnh sát già cô từng gặp ở đồn hôm nào đó. Ông dừng lại trước mặt người vừa cởi mặt nạ, nói gì đó, hai người đứng trò chuyện một lúc, khoảng cách quá xa để Kiyora nghe được bất cứ từ nào.
Người kia đưa tay lên, kéo lớp vải quấn đầu ra.
Mái tóc xõa xuống, chỉ thấy được từ phía sau vì người đó đang quay mặt về hướng viên cảnh sát, nhưng có gì đó trong cách mái tóc đó rơi xuống, trong dáng đầu nghiêng nhẹ khi lắng nghe ai đó nói chuyện, khiến Kiyora khựng lại một giây.
Cô nheo mắt, cố nhìn rõ hơn, nhưng khoảng cách quá xa, ánh đèn cao áp hắt từ phía sau khiến cả bóng người chỉ còn là một khối sẫm viền sáng, không cách nào phân định được đường nét gương mặt hay dáng vai trong lớp bóng tối ngược sáng đó. Cô lắc đầu nhẹ, tự nhủ chắc chỉ là do trời tối và do cô đã đứng đây quá lâu nên mắt bắt đầu nhìn nhầm, dáng người nào ban đêm nhìn xa cũng na ná nhau cả.
Hai người kia nói chuyện thêm một lúc rồi cùng quay người, đi về hướng ngược lại với chỗ Kiyora đang đứng, khuất dần sau những dãy nhà kho tối om.
Cô đứng thêm một lúc nữa, nhìn nơi bến cảng giờ đã vắng người, chỉ còn vài bóng đèn treo chiếu xuống mặt nước tĩnh lặng. Rồi cô buông tay khỏi lan can, quay người, bắt đầu bước trở về theo con đường cô vừa đi qua, cây gậy gõ đều xuống nền tuyết trong đêm tối, mang theo cả cảm giác mơ hồ chưa kịp gọi tên vừa lướt qua tâm trí cô.
Chương 5: Căn Hộ Nhỏ
Sáng hôm đó, Kiyora không dậy nổi.
Cô mở mắt được, nhìn thấy ánh sáng nhợt nhạt lọt qua khe rèm, nhận ra trời đã sáng từ lâu, nhưng cơ thể cô không phản hồi lại mệnh lệnh muốn ngồi dậy. Tay chân cô nặng trịch, như bị ai đó đè xuống từ bên trong, mỗi lần cô cố nhích người sang một bên thì đầu lại quay cuồng, một cơn chóng mặt kéo cô chìm ngược trở lại mặt chiếu.
Cổ họng cô đau rát, nuốt nước bọt cũng phải mất một khoảng thời gian dài hơn bình thường mới làm được, và mỗi hơi thở đi vào lồng ngực đều mang theo một cảm giác nằng nặng, không hẳn là khó thở, chỉ là như đang hít thở qua một lớp vải dày phủ lên mũi.
Cô nằm đó, mắt nhìn lên trần nhà, và có một khoảnh khắc, chỉ một khoảnh khắc thôi, cô không chắc mình đang ở đâu.
Trần nhà màu gỗ sẫm của căn phòng nhà nghỉ bỗng mờ đi trong đầu cô, thay vào đó là hình ảnh trần nhà trắng với ánh đèn huỳnh quang dài không chớp, cái cảm giác nặng nề khắp người này quen thuộc đến kỳ lạ, như một thước phim cũ bị tua lại mà không báo trước. Cô đưa mắt lướt sang bên trái, tìm cái giá treo dịch truyền vẫn hay đứng ở đó, chỉ thấy cái móc áo trống trên tường. Cô lại đưa tay sờ lên cánh mũi, lên khóe miệng, không chạm phải dây ống nào, chỉ có da thịt trần trụi của chính mình.
Nhưng cái nặng nề đó vẫn còn nguyên, bám riết lấy cơ thể cô như một lớp sương không chịu tan.
Cô cố chống tay ngồi dậy một lần, chỉ nhấc được đầu lên khỏi gối vài phân trước khi cánh tay khuỵu xuống, người cô đổ lại xuống chiếu, một tiếng rên khẽ thoát ra khỏi cổ họng cô mà chính cô cũng không định phát ra.
Cô nằm yên sau đó, không cố thử lại lần nữa.
Có lúc cô nhắm mắt lại, khi mở ra thấy vệt nắng trên tấm rèm đã dịch sang một góc khác, đậm hơn hẳn màu nhạt lúc trước, không có ký ức nào lấp vào khoảng giữa hai lần đó. Có lúc tiếng chim kêu ngoài cửa sổ vang lên rõ ràng ngay cạnh tai cô, có lúc cô chỉ nghe được tiếng kim đồng hồ nhỏ trên bàn chạy đều giữa một sự im lặng đặc quánh của buổi trưa vắng người trong nhà nghỉ.
Cơn khát dần trở nên rõ rệt hơn cơn đau, nhưng cái ly nước cô vẫn để sẵn trên bàn đêm qua lại nằm ngoài tầm với, xa hơn khoảng cách cô có thể vươn tay tới trong tình trạng này. Cô nằm đó, mắt nhắm hờ, hơi thở nông và có phần khò khè, để mặc cơ thể mình chìm trong cái trạng thái lơ lửng giữa tỉnh và mê đó.
Bà cụ chủ nhà lên tìm cô vào lúc quá trưa, khi thấy Kiyora không xuống ăn cơm như mọi ngày và cũng không thấy động tĩnh gì từ phòng cô suốt cả buổi sáng. Bà gõ cửa vài lần, không nghe tiếng trả lời, cuối cùng đẩy cửa bước vào.
“Cháu ơi, cháu có sao không?”
Kiyora hé mắt nhìn về phía giọng nói, môi cô mấp máy nhưng không phát ra được âm thanh rõ ràng nào ngoài một tiếng thở dài yếu ớt. Bà cụ bước nhanh đến bên tấm futon, đặt lưng bàn tay lên trán Kiyora, nhíu mày ngay khi chạm vào.
“Trời đất ơi, nóng như vậy mà nằm im re không kêu ai hết vậy con.”
Bà đi ra ngoài, quay lại ngay sau đó với một chậu nước và một chiếc khăn nhỏ, vắt khăn rồi đắp lên trán Kiyora, tay bà nhẹ nhàng vén mấy lọn tóc dính mồ hôi ra khỏi mặt cô.
“Nằm yên đó, bà đi lấy thuốc hạ sốt với nước ấm cho.”
Kiyora chỉ khẽ gật đầu, mí mắt nặng trĩu như thể không đủ sức giữ chúng mở lâu hơn được nữa.
Buổi chiều hôm đó, bà cụ thay phiên chạy lên chạy xuống, mang theo lúc thì cháo trắng nấu loãng, lúc thì một ly nước ấm pha chút muối, ngồi cạnh đút cho Kiyora từng thìa nhỏ khi cô đã tỉnh táo hơn một chút, lau người cho cô bằng khăn ấm mỗi khi cơn sốt lại lên cao, giọng bà lẩm bẩm những câu trách yêu quen thuộc của người già, rằng con gái gì mà không biết giữ sức khỏe, trời lạnh vậy còn đi lang thang khuya khoắt làm gì.
Kiyora nằm đó, để mặc cho bà chăm sóc, không còn sức để phản đối hay tự làm bất cứ điều gì cho bản thân, cơn sốt kéo cô trôi dạt giữa những khoảng tỉnh táo ngắn ngủi và những giấc ngủ chập chờn không yên.
Không rõ khi nào, cánh cửa phòng khẽ mở, không một tiếng động, ánh đèn hành lang tràn vào một khoảng nhỏ trước khi bị bóng tối trong phòng nuốt lấy.
Fuyuko bước vào, mắt cô quét qua căn phòng nhỏ, dừng lại ở hình dáng Kiyora đang cuộn tròn trong lớp chăn dày trên tấm futon, mái tóc bết mồ hôi dính vào trán, hơi thở nặng nhọc phát ra thành tiếng khò khè nhỏ mỗi lần hít vào.
Cô đi đến gần bàn nhỏ đặt cạnh tấm futon, nơi một lọ thuốc nằm cạnh ly nước đã cạn quá nửa. Cô cầm lọ thuốc lên, xoay nó dưới ánh đèn ngủ mờ nhạt để đọc rõ hàng chữ in trên nhãn.
Cô nhíu mày, mắt cô dò từng dòng chữ nhỏ trên nhãn thuốc, môi cô mấp máy đọc thầm cái tên thuốc lạ lẫm không giống bất cứ loại thuốc cảm hay hạ sốt nào cô từng biết. Cô lật lọ thuốc lại, tìm dòng hướng dẫn sử dụng in ở mặt sau, nhưng những thuật ngữ y khoa dày đặc trên đó không cho cô manh mối gì hơn ngoài một liều lượng và tần suất uống được ghi rất cụ thể, như thể đây không phải loại thuốc người ta có thể tùy tiện bỏ qua một liều.
Cô đặt lọ thuốc trở lại đúng vị trí cũ, ánh mắt cô lại chuyển sang Kiyora đang thở khò khè trên futon, hàng lông mày cô vẫn còn nhíu lại. Cô đứng yên một lúc, mắt cô lướt từ lọ thuốc sang cây gậy dựng ở góc phòng, rồi quay lại nhìn Kiyora rồi nuốt khan một cái.
Cô ngồi xuống cạnh Kiyora, một tay đỡ nhẹ vai cô, giúp cô nằm ngay ngắn lại trên gối thay vì tư thế cuộn vẹo mà bà cụ để cô nằm trước đó. Cô kéo lại phần chăn bị xô lệch dưới vai Kiyora, gập gọn mép chăn lại một lần rồi mới rút tay ra, ngón tay cô khẽ chạm lên trán Kiyora một giây trước khi cất tiếng gọi.
“Kiyora.”
Kiyora hé mắt, ánh nhìn mờ đục vì sốt, phải mất một lúc mới nhận ra người đang ngồi cạnh mình. Mí mắt cô nặng trĩu, mở ra rồi lại sụp xuống mấy lần trước khi cô cố định thần được vào khuôn mặt trước mặt.
“Fuyuko-san… chị đến khi nào vậy…”
Giọng cô khàn đặc, mỗi chữ thốt ra đều kéo theo một hơi thở khò khè ngắn phía sau.
“Vừa đến thôi. Bà chủ nhà gọi chị.”
Fuyuko đặt mu bàn tay lên trán Kiyora, cảm nhận cái nóng vẫn còn hầm hập dưới da, hàm cô siết lại nhẹ. Cô giữ nguyên bàn tay ở đó một lúc lâu hơn cần thiết, mắt cô nhìn xuống gò má đỏ ửng vì sốt của Kiyora, rồi mới rút tay về, xoa hai lòng bàn tay vào nhau như để gạt đi cảm giác nóng còn vương lại trên da.
“Em uống thuốc này bao lâu rồi?”
Cô hỏi, mắt cô liếc sang lọ thuốc trên bàn rồi lại quay về nhìn Kiyora, giọng cô cố giữ bình thường nhưng có một sự thận trọng khác hẳn mọi khi.
“Từ sau khi... em ghép phổi ạ. Cả đời còn lại chắc cũng phải uống ạ.”
Fuyuko không nói gì thêm mà chỉ gật đầu, tay cô rút khỏi trán Kiyora, kéo lại tấm chăn cho ngay ngắn hơn quanh vai cô. Ngón tay cô dừng lại một chút ở mép chăn, siết nhẹ lớp vải trong lòng bàn tay trước khi buông ra hẳn.
“Chỗ này lạnh quá, với lại một mình bà cụ không chăm em cả đêm được đâu.”
Cô nói, mắt cô đưa một vòng quanh căn phòng nhỏ, dừng lại ở khe cửa sổ nơi gió vẫn còn lùa qua dù đã cài chặt then cài.
“Em ổn mà chị…”
Kiyora thều thào, cố nhấc đầu lên khỏi gối một chút nhưng chỉ được vài phân trước khi lại ngả xuống, hơi thở cô gấp hơn một chút.
“Không ổn đâu.”
Fuyuko cắt ngang, giọng cô không gay gắt nhưng dứt khoát. Cô đưa tay đỡ nhẹ sau gáy Kiyora, giữ đầu cô yên trên gối, ánh mắt cô không rời khỏi mặt Kiyora khi nói tiếp.
“Nhà chị gần đây, ấm hơn, với lại có chị ở đó cả đêm để trông chừng. Em qua đó vài hôm cho đến khi khỏe hẳn rồi về lại.”
Kiyora không còn đủ sức để làm gì nữa, chỉ khẽ gật đầu một cái rồi mí mắt lại sụp xuống, hơi thở cô dần chậm lại thành một nhịp đều hơn khi cơn buồn ngủ do sốt kéo cô chìm trở lại vào giấc ngủ.
Một lúc sau, Fuyuko dẫn xe đạp ra khỏi sân nhà nghỉ, dựng nó cạnh bậc thềm rồi quay vào đỡ Kiyora dậy, một tay vòng qua lưng, tay kia nắm lấy cánh tay cô, dìu từng bước chậm rãi ra ngoài. Bà cụ đi theo sau, tay cầm sẵn cái túi nhỏ đã gói vội vài bộ quần áo và lọ thuốc, dúi vào tay Fuyuko trước khi họ ra đến cổng, dặn dò thêm vài câu về giờ giấc uống thuốc.
Ngoài trời, không khí lạnh buốt phả vào mặt Kiyora, khiến cô run lên một cái trong vòng tay Fuyuko. Cô co người lại, cả người rúc sâu hơn vào phần ngực áo khoác đang đỡ mình, hai hàm răng cô va nhẹ vào nhau một tiếng trước khi Fuyuko kịp bước tới chỗ chiếc xe đạp dựng cạnh hiên nhà.
Fuyuko đỡ cô ngồi lên yên sau xe đạp, rồi cởi chiếc khăn quàng cổ của mình ra, vòng qua người Kiyora và eo mình, buộc lại thành một nút chắc chắn phía trước bụng, giữ cho cô không bị trượt hay ngã xuống khi xe di chuyển.
“Ôm chặt lấy chị nhé.”
Kiyora vòng hai tay yếu ớt quanh eo Fuyuko, tựa má vào lưng cô, hơi ấm từ cơ thể Fuyuko truyền qua lớp áo khoác mỏng, dịu bớt phần nào cơn ớn lạnh đang chạy dọc sống lưng cô. Các ngón tay cô siết lại quanh vạt áo Fuyuko, không chặt được bao nhiêu, chỉ đủ để giữ mình khỏi tuột đi.
Fuyuko đạp xe chậm rãi qua những con đường vắng, tuyết đóng thành lớp mỏng dưới bánh xe kêu lạo xạo đều đặn. Gió lạnh tạt vào mặt cô nhưng cô không để ý nhiều, chỉ tập trung giữ tay lái vững vàng, thỉnh thoảng đưa một tay lên ngực kiểm tra lại nút thắt của chiếc khăn quàng.
“Còn xa không chị…”
Giọng Kiyora yếu ớt vọng lên từ sau lưng cô, hơi thở phả vào áo khoác Fuyuko. Cô cố nhấc một cánh tay lên cao hơn, vòng qua ngực Fuyuko thay vì chỉ ôm ngang eo, nhưng cánh tay run lên vì sức nặng của chính nó, rơi trở lại vị trí cũ trước khi kịp giữ được lâu.
“Sắp tới rồi, ráng chút nữa.”
Họ đi qua con dốc nhỏ dẫn vào khu nhà nơi Fuyuko sống, những căn nhà gỗ thấp nằm rải rác hai bên đường, phần lớn đã tắt đèn vì giờ này đã khuya. Fuyuko dừng xe trước một căn nhà nhỏ, dựng chân chống, rồi quay lại cởi nút thắt chiếc khăn, đỡ Kiyora xuống khỏi yên xe, gần như bế trọn cô trong vòng tay khi đôi chân Kiyora không còn đủ sức đứng vững một mình.
Fuyuko bế Kiyora vào trong, băng qua một hành lang ngắn, đẩy cửa phòng ngủ bằng vai vì hai tay đã bận đỡ lấy cô. Căn phòng tối, chỉ có ánh sáng mờ từ hành lang hắt vào, đủ để cô nhìn thấy đường đến chiếc giường kê sát tường.
Cô đặt Kiyora xuống nhẹ nhàng, kéo chăn đắp lên người cô, tay cô chỉnh lại gối sau đầu Kiyora cho ngay ngắn. Kiyora đã gần như thiếp đi ngay khi lưng chạm nệm, hơi thở vẫn còn nặng nhọc nhưng đều hơn so với lúc trên xe.
Fuyuko đứng nhìn cô một lúc trong bóng tối, rồi quay sang cái máy sưởi đặt ở góc phòng, cúi xuống vặn núm chỉnh lên mức cao hơn, tiếng quạt gió khởi động, hơi ấm bắt đầu lan tỏa chậm rãi khắp không gian nhỏ.
Cô kéo cửa phòng khép lại một nửa, để lại một khe hở đủ để nghe ngóng nếu có động tĩnh gì, rồi bước ra phòng khách. Căn phòng khách tối om, cô không bật đèn, chỉ để ánh sáng yếu ớt từ hành lang len qua khe cửa hắt vào một phần nhỏ. Cô ngồi xuống chiếc ghế sofa, người đổ hẳn ra sau, hai tay buông thõng xuống hai bên.
Cô nhìn về phía chiếc tivi đặt đối diện, màn hình đen tuyền không phát sáng, chỉ phản chiếu lại một cách mờ nhạt bóng dáng cô đang ngồi đó, cùng với khoảng không tối tăm phía sau lưng cô.
Cô ngồi như vậy rất lâu, không cử động, mắt vẫn dán vào tấm gương đen đó, không thực sự nhìn vào bất cứ thứ gì, chỉ để tâm trí trôi đi đâu đó xa xôi trong sự yên tĩnh của căn nhà, tiếng máy sưởi vọng ra từ khe cửa phòng ngủ là âm thanh duy nhất còn lại giữa đêm khuya.
Kiyora không biết mình đã ngủ bao lâu, hay liệu đó có phải là ngủ thật sự hay không.
Có lúc trần nhà phía trên cô trắng toát, ánh đèn huỳnh quang dài kéo dọc theo đó không hề chớp, mùi cồn sát trùng lởn vởn đâu đó trong mũi cô, và tiếng máy thở đều đều vang lên đâu đó rất gần, đủ gần để cô ngỡ mình vẫn còn nằm trên giường bệnh.
Rồi cô chớp mắt, trần nhà đó tan biến, thay vào đó là một khoảng tối đặc, không có ánh đèn huỳnh quang nào, chỉ có bóng tối và một mùi chăn gối lạ hoàn toàn khác với mùi cồn vừa rồi.
Cô đưa tay ra chạm lên tấm nệm dưới lưng, mềm hơn hẳn tấm futon mỏng cô vẫn nằm ở nhà nghỉ, ngón tay cô miết theo lớp vải trải giường, cố tìm ra một điểm neo nào đó để biết chắc mình đang ở đâu, nhưng cơn sốt kéo cô chìm trở lại trước khi cô kịp làm gì, và tấm nệm dưới lưng cô lại đổi thành tấm chiếu cứng của căn phòng nhà nghỉ chỉ trong một nhịp thở.
Rất lâu sau, có tiếng cửa mở, rất khẽ rồi bước chân nhẹ đến gần giường.
Kiyora cố mở mắt nhưng chỉ mở được một khe hẹp, đủ để thấy một bóng dáng đang cúi xuống, cầm lấy tay cô. Có gì đó lạnh và cứng chạm vào đầu ngón tay cô, một áp lực nhẹ giữ nguyên trong vài giây, một tiếng tách rất khẽ vang lên sau đó, như thứ gì đó vừa được mở khóa. Mí mắt cô sụp xuống rồi lại hé mở, hình dáng cúi xuống ấy cứ nhòe đi rồi rõ lại theo từng nhịp thở nặng nhọc của chính cô, không cách nào giữ được lâu để nhận ra đó là ai hay đang làm gì.
Bóng dáng đó đứng thẳng dậy, lùi ra một khoảng, và cô nghe tiếng những nút bấm nhỏ, tiếng chuông điện thoại đổ, rồi một giọng nói cất lên, thấp nhưng rõ, đứng đâu đó ngay ngưỡng cửa phòng. Tai cô lùng bùng, âm thanh đến chậm hơn một nhịp so với việc môi người kia mấp máy, như thể cô đang nghe qua một lớp nước dày bọc quanh đầu mình.
“Chào chị, tôi xin lỗi vì gọi vào giờ này ạ.”
Một khoảng lặng, chỉ có tiếng máy sưởi chạy đều đâu đó phía sau lưng cô lấp vào khoảng trống đó, rồi giọng nói tiếp tục.
“Tôi tên Shirogane Fuyuko, tôi là giáo viên chủ nhiệm của lớp 3-2 ở trường…”
Những từ sau đó trôi tuột khỏi nhận thức của Kiyora, chìm vào một khoảng mờ đục nào đó, chỉ còn lại âm thanh chứ không còn ý nghĩa. Cô cau mày rất nhẹ, cố ghép giọng nói quen thuộc kia vào một khuôn mặt cụ thể, nhưng khuôn mặt đó cứ trôi đi mất trước khi cô kịp nắm lấy nó, mọi thứ tách rời nhau như từng mảnh ghép không ai chịu dính vào đâu.
Cô cố căng tai lên, cơ thể cô không nghe lời, nhưng có một mảnh nào đó của ý thức vẫn còn bám lấy, lơ lửng ngay bên rìa của giấc ngủ.
“… có quen biết với đồn cảnh sát trong khu vực…”
Một khoảng trôi đi. Có thể vài giây, có thể lâu hơn thế, Kiyora không có cách nào biết chắc, chỉ biết khi cô mở mắt lại lần nữa thì câu chuyện phía ngưỡng cửa đã đi đến một đoạn khác hẳn.
“… Kiyora đang sốt cao mấy hôm nay, tôi đã cho em ấy uống thuốc hạ sốt nhưng…”
Đến đoạn đó, ngón tay Kiyora khẽ co lại trên mặt chăn. Cô cố nhấc bàn tay lên, chỉ để nó rời khỏi mặt nệm được vài phân trước khi rơi trở lại, nặng như thể có ai đó đang ấn nó xuống từ bên trên.
Một tiếng rên nhỏ thoát ra khỏi cổ họng cô, đứt quãng và không thành hình một từ nào, chỉ đủ để làm rung nhẹ lồng ngực cô một cái rồi tắt lịm ngay sau đó, chìm vào tiếng máy sưởi vẫn đang chạy đều trong phòng.
Cô có thể cảm nhận nhịp tim mình dồn dập trong tai, thái dương cô giật lên theo từng nhịp đập, nhưng đôi mắt cô cứ díu lại, hàng mi cô rung nhẹ trong một nỗ lực mở ra lần cuối rồi cũng khép hẳn, để giọng nói kia tiếp tục vang lên phía ngưỡng cửa mà cô không còn cách nào chen vào giữa nó được nữa.
“…tôi sẽ chăm sóc em ấy cho đến khi khỏe hẳn, anh chị yên tâm…”
Giọng nói đó nhỏ dần, không rõ là vì người nói đã hạ giọng xuống hay vì tai cô đang chìm sâu hơn vào lớp bông dày của cơn sốt. Những âm cuối cùng cô còn nghe được chỉ còn là một chuỗi âm thanh rời rạc, không còn ranh giới giữa từng chữ, hòa lẫn vào tiếng quạt máy sưởi đều đều bên tai.
Mí mắt cô khép hẳn lại. Tay cô buông lỏng trên mặt chăn, hơi thở trở lại thành một nhịp chậm và nặng, đưa cô chìm sâu xuống dưới một lớp tối đặc không còn nghe thấy gì nữa.
Những ngày sau đó trôi qua theo một nhịp điệu Kiyora không còn khả năng đo đếm chính xác.
Có những khoảng cô tỉnh dậy thấy ánh sáng ban ngày lọt qua khe rèm, có những khoảng lại là bóng tối đặc quánh của ban đêm, không có gì đánh dấu rõ ràng ranh giới giữa các ngày với nhau ngoài những lần cô cảm nhận được bàn tay ai đó đặt lên trán mình, kiểm tra nhiệt độ, rồi rút đi.
Có lúc cô tỉnh dậy thấy một bát cháo đã nguội đặt sẵn trên bàn cạnh giường, có lúc lại là một cái khăn ấm phủ lên trán khi cơn sốt lên cao trở lại, hơi nước từ khăn tỏa ra mùi thảo dược nhẹ nhàng. Cô ăn được vài thìa mỗi lần, không nhiều, rồi lại chìm vào giấc ngủ trước khi kịp ăn hết.
Một buổi sáng, hoặc có thể là buổi trưa, cô mở mắt và lần đầu tiên cảm thấy đầu óc mình nhẹ hơn hẳn, cơn chóng mặt quen thuộc đã lắng xuống phần nào, ánh sáng qua khe rèm không còn khiến mắt cô nhức nhối như những lần trước. Cô ngồi dậy, nhìn quanh căn phòng lần đầu kể từ lúc đến đây.
Căn phòng nhỏ, gọn gàng một cách vừa phải, không hẳn là bừa bộn nhưng cũng không có sự chăm chút nào rõ rệt. Trên lưng ghế đặt cạnh bàn học, một chiếc áo sơ mi bị vắt hờ, tay áo buông thõng xuống sàn, như đã nằm đó qua nhiều ngày mà không ai buồn cất lại vào tủ. Trên bàn, một chiếc cốc uống nước đã cạn, vệt nước khô đóng thành vòng tròn mờ ở đáy. Cô nhìn chúng một lúc lâu rồi lại nằm xuống giường.
Những ngày tiếp theo, cô dần tỉnh táo hơn mỗi ngày một chút, có thể ngồi dậy lâu hơn, ăn được nhiều hơn vài thìa cháo, nhưng cô không nói nhiều. Fuyuko cũng không ép cô phải nói gì, chỉ lặng lẽ làm những việc cần làm, đặt khay đồ ăn xuống, đo nhiệt độ, thay khăn, đôi khi ngồi lại một lúc trên mép giường mà không cần lấp đầy khoảng lặng bằng bất cứ câu chuyện nào.
Một buổi chiều, khi Kiyora đã tỉnh táo hơn hẳn, ngồi dựa vào đầu giường với bát cháo trong tay, cô lên tiếng, giọng vẫn còn hơi khàn.
“Bố mẹ em… phản ứng sao khi nghe chị gọi vậy ạ?”
Fuyuko đang gấp lại chiếc khăn vừa dùng để lau trán cho cô, tay cô khựng lại một nhịp rất ngắn trước khi tiếp tục động tác đó.
“Đừng lo về chuyện đó.”
Cô nói, giọng bình thản, rồi cô đứng dậy, mang chiếc khăn ra khỏi phòng, để lại Kiyora ngồi đó với bát cháo đang nguội dần trong tay.
Kiyora nhìn theo bóng lưng đó khuất sau cánh cửa, rồi cúi xuống múc một thìa cháo đưa lên miệng. Mấy ngày sau đó trôi qua theo một nhịp điệu chậm rãi, cơn sốt hạ dần từng chút một, những khoảng tỉnh táo kéo dài hơn những khoảng thiếp đi, cho đến khi cô có thể tự ngồi dậy ăn hết một bát cháo mà không cần ai đỡ.
Trong một đêm Kiyora giật mình tỉnh dậy, cả người ướt đẫm mồ hôi, lớp áo ngủ dính chặt vào lưng cô. Căn phòng tối om, chỉ có tiếng vo ve đều đặn của máy sưởi đặt ở góc phòng, thứ âm thanh cô đã quen nghe suốt mấy ngày qua nhưng đêm nay lại vang lên rõ hơn.
Cô nhắm mắt lại, cố ngủ tiếp nhưng tiếng vo ve đó không chịu nhỏ đi mà lại còn lớn dần lên theo từng giây trôi qua, len vào tai cô một cách ám ảnh, gợi nhắc đến thứ âm thanh khác cô đã cố quên đi từ lâu.
Cô mở mắt ra, ngực cô hơi thắt lại, hơi thở gấp hơn một chút. Cô ngồi dậy, kéo theo cả gối lẫn chăn ôm vào lòng, bước ra khỏi giường bằng những bước chân trần trên sàn gỗ lạnh.
Lần đầu tiên kể từ khi đến đây, cô thực sự nhìn rõ căn nhà mình đang ở. Ánh sáng duy nhất đến từ khe cửa phòng tắm để hé, hắt một vệt sáng vàng vọt ra hành lang. Phòng khách hiện ra trong ánh sáng yếu ớt đó, không bừa bộn đến mức khó chịu nhưng cũng không gọn gàng. Có vài cuốn sách chất chồng lệch trên kệ, một chiếc áo khoác vắt qua thành ghế thay vì treo lên móc, vài tờ giấy tờ để rải rác trên mặt bàn cà phê.
Fuyuko nằm ngủ trên chiếc sofa, người cuộn lại một bên, chiếc chăn mỏng đắp cho cô đã tuột xuống quá nửa, để lộ một phần vai và cánh tay trần ra ngoài không khí lạnh của đêm. Kiyora bước lại gần, đứng nhìn khuôn mặt đang ngủ đó một lúc.
Không còn vẻ điềm tĩnh thường thấy ban ngày, không còn sự kiểm soát trong từng đường nét mà chỉ là một khuôn mặt đang ngủ, hơi thở đều, đôi lông mày hơi cau lại như đang mang theo một giấc mơ không mấy dễ chịu.
Cô cúi xuống, kéo lại tấm chăn lên cao hơn, phủ kín vai và cánh tay đang để trần của Fuyuko. Rồi Kiyora ngồi xuống sàn nhà ngay cạnh sofa, lưng tựa vào phần khung gỗ bên dưới. Cô ôm chặt lấy gối và chăn trong lòng, từ từ nằm xuống, đầu gối lên một phần của chiếc gối, thân người co lại trên nền sàn lạnh.
Rồi Kiyora nhắm mắt lại.
Tiếng máy sưởi đã lùi vào nền, không còn vang vọng như lúc nãy nữa, chỉ còn lại một âm thanh khác, gần hơn, đều đặn hơn, hơi thở của Fuyuko vọng xuống từ trên sofa, chậm rãi và ổn định. Rồi Kiyora dần chìm vào giấc ngủ theo nhịp thở đó.
Ánh nắng sớm len qua khe rèm, rơi thẳng vào mặt Kiyora, kéo cô ra khỏi giấc ngủ một cách chậm rãi.
Cô mở mắt. Ánh sáng chưa kịp chạm vào ý thức thì cô đã nhận ra mình đang nằm trên giường, tấm nệm êm dưới lưng, khác hẳn sàn nhà nơi cô nhớ mình đã ngồi xuống đêm qua. Cô cố lần lại xem mình đã lên giường bằng cách nào, nhưng chỉ có một khoảng trống trơn nằm giữa lúc mí mắt cô sụp xuống và lúc chúng mở ra ở đây, không một mảnh ký ức nào lấp vào.
Rồi cô cảm nhận được sức nặng của thứ gì đó, một cánh tay vắt ngang qua eo cô, bàn tay đặt hờ gần bụng, hơi ấm truyền qua lớp vải áo ngủ mỏng. Có ai đó nằm sát sau lưng cô, hơi thở đều đặn phả nhẹ vào gáy theo từng nhịp.
Cô nằm im đó, đôi mắt dù mở nhưng chỉ nhìn vào một khoảng ở góc phòng, chỉ lắng nghe cơ thể mình, cố giữ hơi thở cho đều và nhẹ như thể một tiếng thở mạnh hơn cũng đủ làm tan biến thứ gì đang tồn tại giữa hai người.
Cả hai người nằm nghiêng, cùng một hướng. Ánh nắng đã lan rộng hơn trên tấm rèm, nhuộm vàng nhạt khoảng không giữa cả hai người. Tiếng thở phía sau đổi nhịp, không còn cái đều đặn sâu của giấc ngủ mà ngắn lại, có một khoảng ngừng rất nhỏ giữa mỗi lần hít vào, như người ta vẫn làm khi vừa mở mắt nhưng chưa muốn động đậy. Fuyuko chưa cử động, cánh tay vẫn giữ nguyên vị trí cũ, như thể cũng đang nằm yên để cảm nhận gì đó.
Rồi có một chuyển động rất nhỏ, có thể từ cánh tay khẽ dịch trong lúc tỉnh giấc hoặc có thể từ chính cơ thể Kiyora vô tình xê dịch nhẹ, nhưng những ngón tay ở cuối cánh tay đó tìm đến một đường viền khác dưới lớp vải áo, một đường gờ nhỏ nổi lên nơi ngực cô, chỗ vết sẹo vẫn còn âm ỉ. Bàn tay đó khựng lại đúng chỗ đó, không rút đi ngay như khi vừa chạm phải một điều gì đó bất ngờ, cũng không lần tiếp, chỉ dừng hẳn.
Cảm giác lan ra ngay, nhẹ nhưng rõ, nơi lớp da từng bị rạch mở chưa bao giờ thực sự trở lại như cũ dù bao thời gian đã qua. Ngón tay Kiyora siết chặt vào tấm ga giường trước mặt mình, các đốt ngón trắng bệch ra dưới lớp vải, hàm cô khẽ nghiến lại, hơi thở cô nín lại đúng một nhịp rồi mới thả ra chậm hơn bình thường.
Cô để cảm giác đó ở nguyên đấy một lúc. Rồi tay cô nhấc khỏi tấm chăn, chậm rãi, các ngón tay dò dẫm trong khoảng không mắt không nhìn thấy, lướt qua nếp gấp của chăn, dọc theo bụng mình cho đến khi chạm phải những ngón tay kia.
Cô đặt bàn tay mình lên trên một cách nhẹ nhàng. Những ngón tay của Fuyuko dịch nhẹ, để bàn tay Kiyora nằm giữa, và Fuyuko nắm lấy nó từ phía dưới, giữ nguyên như vậy. Cánh tay vẫn ở đó, sức nặng ấm áp không đổi, chỉ có bàn tay phía dưới giờ khép chặt quanh bàn tay Kiyora, ngón cái Fuyuko miết nhẹ một đường qua mu bàn tay cô rồi giữ yên.
Ánh nắng tiếp tục len qua khe rèm, di chuyển chậm trên mặt chăn, đo thời gian trôi qua mà không ai buồn để ý. Hơi thở của cả hai dần hòa vào nhau thành một nhịp chung, chậm và đều. Kiyora nằm đó, bàn tay được giữ chặt trong tay Fuyuko, cảm nhận hơi ấm từ lòng bàn tay kia, cánh tay vẫn nguyên vị trí ngang qua eo, và nhịp thở đều đặn phía sau gáy mình.
Khoảng lặng đó kéo dài rất lâu, nhưng không ai thấy khó chịu. Chỉ có ánh sáng dịch chuyển, hơi thở hòa vào nhau, bàn tay vẫn nằm yên trong tay nhau. Không ai vội buông ra. Không ai vội lên tiếng.
Rồi, sau một khoảng thời gian không thể đo đếm, Fuyuko khẽ cử động, chuẩn bị cho một ngày mới đang chờ đợi bên ngoài tấm chăn ấm áp này.
Sáng hôm đó, sau khi Fuyuko rời khỏi phòng để chuẩn bị đến trường, Kiyora nằm lại thêm một lúc, nhìn lên trần nhà, cảm giác ấm áp từ bàn tay đan vào nhau lúc nãy vẫn còn vương lại đâu đó trên da mình dù đã buông ra từ lâu.
Cô nghe tiếng nước chảy trong phòng tắm, tiếng tủ quần áo mở ra rồi đóng lại, tiếng bước chân qua lại ngoài phòng khách. Ít lâu sau, tiếng cửa chính mở ra rồi khép lại, tiếng ổ khóa xoay một vòng, rồi im lặng hoàn toàn bao trùm căn hộ.
Cô ngồi dậy, chậm rãi, không còn phải bám vào thành giường như những lần trước, hai chân đặt xuống sàn vững vàng hơn hẳn, chỉ còn một chút mỏi nhẹ nơi bắp chân khi cô đứng thẳng người lên.
Kiyora bước ra phòng khách, ánh sáng ban ngày giờ đã tràn ngập khắp không gian, làm hiện rõ những chi tiết cô chỉ thấy lờ mờ trong bóng tối đêm qua. Chiếc áo sơ mi vẫn còn vắt trên lưng ghế. Cô đến gần rồi cầm nó lên, gấp lại gọn gàng theo từng đường nếp cẩn thận, đặt nó lên tay ghế thay vì để tuột xuống sàn như trước. Cô cầm chiếc cốc trên bàn, mang vào bếp, rửa sạch, úp lên giá để ráo nước cạnh bồn rửa.
Cô không làm gì thêm nữa mà chỉ đứng nhìn quanh phòng khách một lượt cuối rồi quay lại phòng ngủ để thay đồ, để lại sau lưng chỉ một chiếc áo gấp gọn trên tay ghế và một chiếc cốc úp ngay ngắn cạnh bồn rửa, hai dấu vết nhỏ của một buổi sáng cô đã ở đó.
Ngày hôm sau, khi sức khỏe đã hồi phục gần như hoàn toàn, Kiyora thu dọn túi đồ, chuẩn bị quay về nhà nghỉ cũ. Fuyuko đứng ở cửa phòng, hai tay khoanh trước ngực, nhìn Kiyora xếp từng món đồ vào túi.
“Ở thêm một ngày nữa cũng được mà.”
“Em khỏe hẳn rồi ạ, ở lại thêm chị lại phải lo cho em thôi.”
Kiyora nói trong khi khoác chiếc áo khoác mào xanh đậm lên, không ngẩng lên nhìn Fuyuko, giọng cô nhẹ nhưng chắc.
“Với lại bà chủ nhà nghỉ chắc cũng đang mong em về lắm rồi ạ, em phải ra thăm bà nữa.”
Fuyuko im lặng một lúc, mắt cô nhìn cái túi đang dần đầy lên, rồi cô thở ra một hơi qua mũi, không phản đối thêm, chỉ với tay lấy chìa khóa xe treo trên móc.
“Được rồi, để chị chở về.”
Fuyuko chở cô về bằng xe đạp, họ không nói nhiều trên đường đi, chỉ dặn dò vài câu về việc uống thuốc đúng giờ, về việc gọi ngay nếu có dấu hiệu gì bất thường trở lại. Bà cụ chủ nhà nghỉ ra tận cổng đón, ôm chầm lấy Kiyora ngay khi cô vừa bước xuống xe, hai tay bà siết chặt quanh vai cô, mắt bà đỏ hoe nhìn cô từ trên xuống dưới như đang kiểm tra xem có còn thiếu sót gì không.
“Trời ơi, cuối cùng cũng khỏe lại rồi. Bà lo muốn chết luôn đó, cứ hỏi thăm cô giáo suốt mấy hôm nay.”
Bà vỗ nhẹ lên lưng Kiyora mấy cái, giọng bà nghẹn lại giữa chừng.
“Cháu xin lỗi vì làm bà lo ạ.”
Kiyora cúi đầu, hai tay siết nhẹ lấy tay bà cụ đang đặt trên vai mình.
“Thôi thôi, khỏe lại là mừng rồi. Vào nhà đi, để bà nấu gì đó bồi bổ cho.”
Fuyuko đứng lại một lúc ngoài cổng, nhìn theo hai bà cháu bước vào trong, rồi mới quay xe đạp đi, không nói thêm lời tạm biệt nào ngoài một cái gật đầu nhẹ trước khi rời đi.
Kiyora đứng ở cửa, nhìn theo bóng chiếc xe đạp khuất dần cuối con đường, rồi cô quay vào, bước lên căn phòng quen thuộc của mình, nơi mọi thứ vẫn còn nguyên như lúc cô rời đi, chỉ có cái gậy gỗ sồi đã theo cô đi và về suốt những ngày qua giờ đây được đặt lại đúng chỗ cũ, dựa vào tường cạnh tấm futon.
Chương 6: Điều Không Cần Nói Ra
Buổi chiều hôm đó, Kiyora lại ngồi ở bồn hoa quen thuộc trước cổng trường, cây gậy đặt ngang đùi như mọi lần.
Fuyuko bước ra khóa cổng như thường lệ, thấy cô ngồi đó, không nói gì nhiều, chỉ đi đến, và cả hai bắt đầu bước đi cùng nhau trên con đường quen thuộc, không cần bàn bạc trước, như một thói quen đã hình thành từ lâu mà không ai còn nhớ rõ nó bắt đầu từ khi nào.
“Chị này.”
Kiyora lên tiếng sau một đoạn im lặng, mắt nhìn xuống mặt đường.
“Chắc em sắp phải về nhà rồi.”
Fuyuko không dừng bước, chỉ gật đầu nhẹ, giọng cô bình thản như đã lường trước điều này từ lâu. Mắt cô vẫn nhìn thẳng về phía trước, không quay sang, tay cô đút sâu hơn vào túi áo khoác.
“Ừm, chị biết mà.”
Cô đáp, nhịp bước không hề chậm lại, như câu nói vừa rồi chẳng có gì đáng để dừng chân.
“Thuốc em mang theo cũng sắp hết rồi. Với lại…”
Kiyora ngập ngừng một chút, ngón tay cô siết nhẹ quanh cán gậy, mắt cô liếc sang Fuyuko rồi lại quay đi.
“Chắc bố mẹ em cũng mong em về lắm.”
Fuyuko im lặng vài giây, chỉ có tiếng bước chân và tiếng gậy gõ đều lấp vào khoảng đó, rồi cô mới lên tiếng.
“Về là đúng rồi. Em không thể ở đây mãi được.”
Câu nói đó không mang theo chút buồn bã nào rõ rệt, chỉ là một sự thật được nói ra thẳng thắn, như cách Fuyuko vẫn luôn nói mọi điều, giọng cô đều đặn không lên không xuống, mắt cô vẫn nhìn thẳng về phía con đường phía trước.
Vài ngày cuối cùng ở thị trấn trôi qua theo một nhịp điệu vừa quen thuộc vừa mang một sắc thái khác. Kiyora không nói ra thành lời, nhưng cô đứng lâu hơn trước mỗi sạp hàng quen ở chợ, ngón tay cô lướt chậm hơn qua từng món đồ trên kệ tiệm tạp hóa, và mỗi bước chân trên con đường ra bến cảng cô đều đi chậm lại một nhịp so với thường ngày, như đang cố nén từng khung cảnh vào trong đầu trước khi phải rời xa nó.
Một hôm cô ghé qua chợ, người phụ nữ bán hải sản gói cho cô thêm một túi rong biển khô, dặn cô mang về nhà làm quà cho bố mẹ nếm thử đặc sản vùng này.
“Cháu về rồi nhớ ghé lại chơi nhé, cô để dành đồ ngon cho.”
Bà nhét túi rong biển vào tay Kiyora, vỗ nhẹ lên mu bàn tay cô mấy cái trước khi buông ra.
“Dạ, cháu nhớ ạ.”
Một hôm khác cô ra quảng trường đánh cờ với mấy ông lão, vẫn thua liên tiếp như mọi lần, quân cờ của cô bị dồn vào góc bàn chỉ sau vài nước đi. Cô nhìn bàn cờ, môi cô bĩu ra một cái trước khi bật cười theo tiếng cười của cả bàn.
“Trình độ này về nhà chắc quên hết sạch cho coi.”
Một ông lão trêu, cười khà khà, tay ông gõ mấy cái xuống bàn đá ra chiều đắc thắng.
“Cháu sẽ luyện tập thêm ạ.”
Một hôm nữa cô ghé tiệm bánh, mua một cái bánh bao nhân đậu đỏ như thói quen đã hình thành từ lâu, người chủ tiệm gói bánh cẩn thận hơn thường lệ, thêm vào túi một cái bánh nữa không tính tiền.
“Ăn đi đường cho vui miệng.”
Bà đẩy túi bánh qua quầy, xua tay khi Kiyora định mở ví trả thêm.
“Cháu cảm ơn cô nhiều ạ.”
Một buổi chiều, trên đường trở về, Kiyora đi ngang qua con đường dẫn đến căn nhà hoang cô từng dừng lại rất lâu vào những ngày đầu ở đây. Cô dừng bước, đứng nhìn nó lần nữa.
Hàng rào gỗ vẫn mục nát như cũ, cỏ dại giờ đã khô héo hẳn dưới lớp tuyết mỏng phủ lên trên, chiếc xe đạp trẻ em vẫn nằm nghiêng ở góc sân, bánh xe giờ đã đóng một lớp băng mỏng. Lần này cô không thấy ngực mình thắt lại như trước, không có giọt nước mắt nào chực trào ra.
Mắt cô lướt qua khung cửa gỗ cạnh lối vào, nơi lần trước cô không để ý đến, và giờ đây cô nhận ra những vạch kẻ nhỏ khắc trên khung cửa, xếp thành một hàng dọc từ thấp lên cao, mỗi vạch cách nhau một khoảng không đều, bên cạnh vài vạch còn có những con số mờ nhạt viết bằng bút chì, gần như đã phai hết theo thời gian và mưa nắng.
Cô đứng nhìn những vạch kẻ đó một lúc lâu, hình dung ra cảnh một đứa trẻ nào đó đứng áp lưng vào khung cửa mỗi năm, một bàn tay người lớn đặt lên đỉnh đầu nó rồi kẻ một đường ngang, đánh dấu sự lớn lên qua từng năm tháng.
Kiyora đứng đó, nhìn những vạch kẻ mờ nhạt ấy thêm một lúc, rồi tay cô siết chặt lại quanh cán gậy, một cái siết chặt bình thản chứ không phải để kìm nén điều gì. Cô quay người, tiếp tục bước đi trên con đường quen thuộc, không ngoái đầu lại lần nào nữa.
Buổi sáng thứ Bảy, nắng lên không đủ gắt để chói mắt nhưng cũng đủ sáng để soi rõ con đường đất nhỏ dẫn ra nghĩa trang, hai bên là hàng cây trơ trụi lá phủ một lớp tuyết mỏng mới rơi trong đêm. Kiyora bước đi chậm rãi, cây gậy chạm xuống nền đất cứng theo từng nhịp quen thuộc, hơi thở cô tạo thành những làn khói mỏng tan nhanh trong không khí buổi sáng lạnh giá.
Kiyora dừng lại trước cổng nghĩa trang, đứng đó một lúc, nhìn vào bên trong qua khoảng trống của cánh cổng sắt đã hoen gỉ ở vài chỗ. Không có ai khác ở đây vào giờ này ngoài cô.
Cô bước vào, cây gậy để lại những dấu chấm nhỏ trên lớp tuyết mỏng phủ dọc lối đi. Cô đi vòng qua từng hàng bia mộ, mắt lướt qua từng tấm một, phần lớn đã phủ một lớp tuyết mềm mỏng như đường viền trắng bao quanh những dòng chữ khắc bên dưới, một vài tấm có hoa cũ đã héo úa cắm nghiêng trong lọ đá, một vài tấm khác trống trơn, chỉ có tuyết và im lặng.
Sau một lúc Kiyora đến gần khu vực nhóm học sinh đã tụ tập hôm trước. Tấm bia đó chỉ là một phiến đá đơn giản, không cầu kỳ, hơi nghiêng một góc nhỏ so với mặt đất bằng phẳng xung quanh, như thể nền đất bên dưới đã lún nhẹ qua thời gian. Lớp tuyết phủ đều trên bề mặt, che khuất gần hết những nét khắc bên dưới.
Kiyora đứng đó, nhìn nó một lúc lâu. Rồi cô bước tới, quỳ xuống, hai đầu gối chạm đất trước, sau đó cô ngồi hẳn lên gót chân, đùi cô ép sát vào lớp tất dày nhưng cái lạnh của mặt đất đóng băng vẫn xuyên qua, len lỏi qua từng lớp vải, chạm vào da thịt bên dưới thành một cơn buốt nhói kéo dài từ đầu gối lên đến tận đùi.
Cô đưa một tay lên, hướng về phía lớp tuyết phủ trên mặt bia, những ngón tay hơi co lại, chỉ còn cách bề mặt đá vài phân, đủ gần để cảm nhận được hơi lạnh tỏa ra từ đó.
Nhưng cô dừng lại.
Bàn tay cô lơ lửng trong không khí một giây, rồi hai giây, rồi cô rút nó về, đặt xuống đùi mình, không chạm vào lớp tuyết đó. Cô ngồi thẳng lưng lại hoàn toàn, trọng lượng dồn đều lên hai đùi đang ép chặt vào gót chân, hai bàn tay cô chắp lại trước ngực, mắt cô nhắm lại.
Cô ngồi như vậy một lúc lâu, không nhúc nhích, chỉ có hơi thở của cô tạo thành từng làn khói nhỏ đều đặn tan vào không khí, gió thổi qua nghĩa trang mang theo tiếng xào xạc của mấy cành cây trơ trụi phía xa.
Sau vài phút, cô mở mắt ra, chống tay xuống đùi, đứng dậy, hai chân cô hơi tê cứng vì quỳ lâu trong cái lạnh, cô đứng yên một giây cho máu trở lại chân trước khi cử động thêm. Cô đưa tay xuống, phủi nhẹ lớp tuyết bám vào chân và gót giày, những mảnh tuyết nhỏ rơi xuống đất, tan lẫn vào lớp tuyết đã có sẵn.
Cô cúi đầu, bái một cái sâu và chậm rãi rồi đứng thẳng người dậy, quay lưng bước đi, không ngoái lại nhìn tấm bia đó thêm lần nào nữa.
Cô ra khỏi nghĩa trang, khép cánh cổng sắt lại sau lưng, tiếp tục bước đi trên con đường dẫn về phía bờ kè. Cô đi hết bậc thang dẫn lên mặt đê, ngồi xuống đúng chỗ cô vẫn hay ngồi, đặt cây gậy sang một bên. Cô lấy trong túi áo khoác ra một túi giấy nhỏ, bên trong là hai cái bánh bao còn nóng hổi, hơi nước bốc lên mờ cả lớp giấy gói, đặt nó xuống nền bê tông cạnh mình.
Kiyora ngồi đó, nhìn ra mặt biển, không làm gì khác ngoài việc để thời gian trôi qua chậm rãi. Một tiếng đồng hồ, có lẽ hai, trôi qua như vậy. Rồi có tiếng bước chân trên bậc thang phía sau, đều đặn, không vội vã. Kiyora quay đầu lại nhìn.
Fuyuko dừng lại một giây khi thấy Kiyora đã ngồi đó từ trước, hai lon cà phê trong tay khẽ va vào nhau một tiếng nhỏ. Chiếc áo len mỏng cô mặc không đủ dày cho cái lạnh buổi sáng cuối tuần này, cổ áo để hở một khoảng, không khăn quàng, không áo khoác ngoài, gió biển lùa qua khiến vai cô hơi co lại. Cô đứng khựng lại đúng một nhịp chân, mắt cô nhìn Kiyora một cái rồi mới bước tiếp, khóe miệng cô nhích lên một chút.
“Chào buổi trưa.”
Kiyora ngẩng lên khi nghe thấy giọng của Fuyuko, cô gật đầu rồi mỉm cười một cái nhẹ.
“Dạ…”
Fuyuko không nói gì thêm, chỉ bước đến, ngồi xuống cạnh Kiyora, đặt hai lon cà phê xuống nền bê tông, ngay cạnh túi giấy đựng bánh bao vẫn còn bốc hơi nhẹ. Cả hai ngồi im lặng một lúc, chỉ có tiếng sóng vỗ đều vào chân kè, tiếng gió thổi qua tai, mang theo hơi lạnh len vào từng lớp áo.
“Thế... khi nào em lên đường?”
Fuyuko hỏi, mắt vẫn hướng ra khoảng nước tối phía xa, hai tay cô đan vào nhau đặt trên đầu gối, ngón tay cái xoa nhẹ lên mu bàn tay còn lại một vòng trước khi câu hỏi kịp dứt.
“Sáng mai ạ.”
Fuyuko không đáp ngay, chỉ nhìn ra biển, tay cô cầm lấy một lon cà phê, xoay nhẹ trong lòng bàn tay nhưng chưa mở ra, ngón tay cái miết theo đường viền lạnh của lon nhôm.
“Vậy sao…”
Cô nói, giọng nhẹ, không mang theo cảm xúc rõ rệt nào. Sau một khoảng lặng ngắn, cô quay đầu sang nhìn Kiyora lần đầu tiên.
“Thế em định đi bằng gì?”
Kiyora đưa mắt nhìn ra con đường dẫn ra khỏi thị trấn, như đang hình dung lại hành trình sắp tới trong đầu cô.
“Em sẽ đi xe buýt về lại Otaru, rồi bắt tàu qua đảo bên kia ạ.”
Fuyuko gật đầu chậm, ánh mắt cô lướt qua cây gậy đặt cạnh Kiyora rồi mới lên tiếng, ngón tay cô gõ nhẹ hai cái lên vỏ lon cà phê vẫn chưa mở.
“Đi một mình không sao chứ?”
Kiyora bật cười nhẹ, tay cô với lấy túi bánh, mở ra, đưa một cái cho Fuyuko, hơi ấm còn sót lại phả lên mấy ngón tay cô trong không khí lạnh. Cô xoay người sang một chút, đưa cái bánh gần hơn về phía Fuyuko như để chắc chắn cô sẽ nhận lấy nó.
“Em nghĩ là không sao đâu ạ. Với lại…”
Cô ngừng lại một nhịp, khóe miệng vẫn còn giữ nụ cười, mắt cô hướng ra biển, nơi một con thuyền nhỏ đang lướt qua tận đường chân trời.
“Em cũng quen đi một mình rồi mà.”
Fuyuko gật đầu, nhận lấy chiếc bánh đã nguội trong tay, cầm nó một lúc mà không cắn, chỉ nhìn nó rồi lại nhìn ra khoảng biển phẳng lặng phía trước, như đang để tâm trí trôi đi đâu đó xa hơn câu chuyện đang diễn ra. Ngón tay cô bóp nhẹ vào lớp vỏ bánh, để lại một vết lõm nhỏ trên đó rồi thả lỏng ra ngay.
“Chị này.”
Kiyora nói, cắn một miếng bánh, nhai chậm rãi, mắt cô liếc sang quan sát biểu cảm của Fuyuko, chờ Fuyuko sẽ làm gì đó trước khi tiếp tục câu hỏi đang định hỏi.
“Nếu em muốn làm giáo viên như chị thì phải học gì vậy ạ?”
Có một khoảng dừng rất ngắn trước khi Fuyuko trả lời, chỉ là một cái chớp mắt chậm hơn bình thường một nhịp.
“Em muốn dạy môn gì?”
Kiyora nhìn xuống túi bánh trong lòng, ngón tay cô vân vê một góc giấy gói, cuộn nó lại thành một hình xoắn nhỏ rồi lại vuốt phẳng ra.
“Em chưa biết. Có lẽ Văn, vì chị biết em thích đọc chuyện mà ạ.”
Fuyuko khựng lại một nhịp rất ngắn, tay cô vẫn giữ nguyên lon cà phê trước miệng nhưng không uống tiếp. Khóe môi cô hơi nhích lên như sắp mỉm cười, rồi mắt cô hạ xuống nhìn lon cà phê trong tay, ngón tay cô siết chặt quanh nó hơn một chút.
“Vậy thì em nên tìm trường đại học nào có ngành sư phạm Văn tốt một chút. Em nghĩ thế nào?”|
Kiyora ngồi thẳng người lên một chút, giọng cô hào hứng hơn hẳn khi nói đến điều này, hai tay cô đặt cái bánh đang ăn dở xuống đùi để rảnh tay ra hiệu khi nói.
“Em nghĩ vậy ạ. Em muốn học ở Tokyo trước, rồi... rồi có khi quay lại đây dạy cũng được. Ở gần biển, được gần chị luôn.”
Fuyuko không trả lời ngay. Cô nhìn ra mặt nước, hai tay đặt lên đầu gối, các ngón tay siết nhẹ vào lớp vải quần, một lúc lâu sau mới lên tiếng, giọng cô chậm và cân nhắc từng chữ hơn bình thường.
“Em nên học xong đã, rồi mới nghĩ đến chuyện dạy ở đâu.”
Kiyora hơi cau mày, không hiểu hết ý của câu nói đó, cô xoay người nghiêng hẳn về phía Fuyuko hơn.
“Nhưng em nghĩ ở đây cũng tốt mà, có chị, có mọi người quen…”
Cô nhích lại gần Fuyuko thêm nửa gang tay trên nền bê tông, mắt cô nhìn thẳng vào cô như đang chờ Fuyuko đồng ý với mình.
“Kiyora.”
Giọng Fuyuko đột nhiên nghiêm hơn một chút nhưng không hề gay gắt, cô quay hẳn người sang nhìn thẳng vào mắt Kiyora, đặt lon cà phê xuống nền bê tông để rảnh cả hai tay, một tay đặt lên đầu gối mình như để giữ cho câu nói tiếp theo được chắc chắn hơn.
“Em còn chưa chắc được mình thích dạy môn gì, chưa biết thế giới ngoài kia rộng đến đâu. Đừng chọn nơi ở trước khi chọn được thứ em thật sự muốn làm.”
Kiyora im lặng, nhìn xuống chiếc bánh trong tay, ngón tay cô bóp nhẹ vào lớp giấy gói đã nguội, vết nhăn trên lớp giấy lan rộng ra dưới áp lực của mấy ngón tay.
“Em cứ đi Tokyo trước đã. Học xong rồi thích ở đâu thì ở, thích dạy gì thì dạy. Đừng vì một chỗ nào đó mà giới hạn mình lại sớm quá.”
Kiyora ngẩng lên nhìn Fuyuko, môi cô mím lại, mắt cô chớp nhanh mấy cái như đang cố nuốt xuống một điều gì đó trước khi nó kịp bật ra thành giọng nói.
“Chị nói như thể chị không muốn em quay lại đây vậy.”
Fuyuko bật cười nhẹ, một tiếng cười ngắn không có gì vui vẻ trong đó, vai cô nhún lên rồi hạ xuống, mắt cô nhìn xuống nền bê tông giữa hai người, ngón tay cô gõ nhẹ một nhịp lên đầu gối mình trước khi ngẩng lên nhìn lại Kiyora.
“Không phải vậy. Chỉ là em còn cả một quãng đường dài phía trước, đừng để một góc nhỏ như thế này giữ chân em lại.”
Kiyora không nói gì thêm, chỉ cắn cái bánh thêm lần nữa, nhai chậm, mắt cô nhìn ra mặt biển thay vì nhìn Fuyuko, để câu nói đó lắng xuống trong không khí giữa hai người, tiếng sóng vẫn đều đặn vỗ vào bờ đá.
Gió thổi qua, cuốn theo vài mảnh giấy gói bánh còn sót trên nền bê tông, xoay tròn một vòng trước khi dừng lại ở chân Kiyora. Cô cúi xuống nhặt nó lên, vo tròn trong lòng bàn tay, rồi mới lên tiếng, không nhìn Fuyuko khi hỏi.
“Chị có bao giờ tiếc điều gì không?”
Câu hỏi đến bất ngờ, khiến Fuyuko quay sang nhìn cô một cái trước khi trở lại nhìn biển, tay cô đặt xuống rồi siết chặt hơn quanh lon cà phê chưa mở dưới nền bê tông lạnh lẽo.
“Có chứ.”
Kiyora nghiêng đầu, nhìn vào mặt Fuyuko.
“Chị có thể kể em nghe không ạ? Nếu chị không phiền…”
Fuyuko im lặng một lúc lâu, đủ lâu để Kiyora nghĩ có lẽ cô sẽ không trả lời câu này. Vai cô hơi chùng xuống, ánh mắt cô nhìn ra một điểm nào đó rất xa trên đường chân trời, nơi bầu trời và biển gần như hòa làm một.
“Có những điều lẽ ra chị nên nói ra sớm hơn. Với một người.”
Cô nói, giọng chậm và xa xăm, mắt vẫn không rời khỏi mặt biển, ngón tay cô mở nắp lon cà phê nhưng không đưa lên uống ngay, chỉ giữ nó trong lòng bàn tay, hơi lạnh của lớp nhôm thấm dần qua da.
“Nhưng chị cứ nghĩ còn nhiều thời gian mà. Rồi đến khi chị nhận ra thì đã không còn gì nữa.”
Kiyora không hỏi thêm, dù có một câu hỏi đang thành hình trong đầu cô. Cô chỉ ngồi đó, để khoảng lặng đó tồn tại, không cố lấp đầy nó bằng bất cứ điều gì, chỉ đưa mắt nhìn ra cùng hướng với Fuyuko, nơi ánh nắng cuối ngày đang dần nhạt đi trên mặt nước.
Họ tiếp tục ngồi đó, nói về những chuyện nhỏ nhặt khác, về thời tiết, về mấy ông lão đánh cờ, về việc con mèo hoang ở bến cảng dạo này béo hẳn ra vì được cho ăn nhiều. Túi bánh bao vơi dần cho đến khi hết sạch, hai lon cà phê cũng cạn từ lúc nào không ai để ý, đặt nghiêng ngả trên nền bê tông bên cạnh.
Ánh nắng dịch chuyển chậm rãi trên bầu trời, từ trắng nhạt sang vàng, rồi cam, rồi cuối cùng tắt hẳn sau đường chân trời, để lại một màu xanh đen bao trùm lên mặt biển. Không ai trong hai người nhận ra trời đã tối tự lúc nào. Fuyuko đứng dậy trước, phủi tay vào quần, nhìn xuống Kiyora vẫn còn ngồi đó.
“Về thôi, tối rồi.”
Kiyora gật đầu, cầm lấy cây gậy, đứng dậy theo. Họ nhặt lại túi giấy rỗng và hai lon cà phê đã cạn, mang theo khi bước xuống bậc thang, đi vào con đường đất nhỏ dẫn về thị trấn, bóng tối đã phủ kín hai bên hàng cây, chỉ còn ánh đèn xa xa từ những căn nhà đầu tiên dẫn đường cho họ.
Họ ra đến chỗ Fuyuko dựng xe đạp ở đầu con đường đất, ánh đèn từ một cột đèn xa xa hắt xuống một quầng sáng yếu ớt.
“Lên đi, chị chở về.”
Kiyora leo lên yên sau, chân váy khiến cô phải ngồi nghiêng sang một bên, hai tay vòng ra trước, ôm lấy eo Fuyuko. Fuyuko đẩy xe lăn bánh vài vòng lấy đà rồi leo lên yên trước, đạp chầm chậm vào con đường tối.
Kiyora nghiêng đầu, tựa má vào lưng Fuyuko, cảm nhận hơi ấm còn sót lại qua lớp áo len mỏng dưới lớp áo khoác của cô. Sợi xích xe đã lâu ngày không được tra dầu, phát ra tiếng kêu cọt kẹt đều đặn theo từng vòng quay của bàn đạp, hòa lẫn với tiếng sóng vọng lại từ phía biển đang dần lùi xa sau lưng họ.
Cô nhắm mắt lại, lắng nghe nhịp thở của Fuyuko vang lên đều đặn ngay trước mặt mình, hơi thở hơi gấp một chút vì phải dồn sức đạp xe, xen giữa tiếng xích kêu và tiếng sóng, tạo thành một bản hòa âm nhỏ chỉ dành riêng cho khoảnh khắc này.
Con đường đất chuyển dần sang đường nhựa khi họ vào gần khu trung tâm thị trấn, ánh đèn đường xuất hiện thưa thớt rồi dày dần lên. Không ai nói gì trong suốt quãng đường, chỉ có tiếng xích xe, tiếng thở, và tiếng sóng xa dần theo từng vòng bánh lăn.
Họ đến trước nhà nghỉ, Fuyuko phanh xe lại, chống chân xuống đất. Kiyora trèo xuống, đứng đó một lúc, cây gậy trong tay, nhìn Fuyuko cũng xuống xe, dựng nó nghiêng vào bức tường bên cạnh cổng. Cả hai đứng đối diện nhau trong ánh đèn vàng vọt yếu ớt hắt ra từ khung cửa sổ tầng dưới của nhà nghỉ.
“Chị về đây.”
Fuyuko nói, hai tay đút trong túi áo khoác, mắt cô nhìn thẳng vào Kiyora, không quay đi ngay như thường lệ.
“Vâng ạ.”
Không ai trong hai người bước đi ngay, chỉ đứng đó, khoảng cách giữa họ không thu hẹp cũng không giãn ra.
Bất chợt Kiyora bước lên trước, vòng hai tay qua người Fuyuko, ôm lấy cô. Fuyuko khựng lại một giây rồi cũng vòng tay ôm lại, một tay đặt sau lưng Kiyora, tay kia trên vai cô, cái ôm không quá chặt nhưng cũng không hời hợt, giữ nguyên như vậy trong một khoảng thời gian dài.
Trong lúc đó, một bàn tay của Fuyuko lách nhẹ vào túi áo khoác của Kiyora, động tác nhanh và kín đáo đến mức Kiyora không nhận ra gì khác ngoài cảm giác vải áo hơi xê dịch một chút. Kiyora áp má vào vai Fuyuko, giọng cô nhỏ, hơi nghẹn ở đầu câu.
“Em sẽ nhớ chị lắm đấy…”
Có một khoảng ngừng rất ngắn trước khi Fuyuko phản ứng, cánh tay cô khựng lại giữa chừng, như câu nói đó đến bất ngờ hơn cô có thể chuẩn bị trước. Fuyuko không trả lời ngay, chỉ siết nhẹ tay đang đặt sau lưng cô thêm một chút, rồi thả lỏng dần.
“Ừm, ngủ ngon nhé.”
Cô nói, giọng trầm hơn bình thường một chút, cằm cô khẽ tựa lên đỉnh đầu Kiyora trong đúng một nhịp thở trước khi ngẩng lên.
“Chị cũng vậy ạ.”
Họ buông nhau ra, chậm rãi, như thể cả hai đều để cái ôm tự nới lỏng theo nhịp riêng của nó chứ không ai chủ động rút tay trước.
“Chị đi cẩn thận nhé.”
Kiyora nói, lùi lại nửa bước, mắt cô vẫn không rời khỏi Fuyuko đang quay người lại phía chiếc xe đạp.
“Ừ. Em vào trong đi, lạnh rồi.”
Kiyora gật đầu, lùi lại một bước. Fuyuko quay người, dắt xe ra khỏi tường, leo lên yên, đạp đi.
Kiyora đứng đó, không vào nhà ngay, nhìn theo bóng dáng Fuyuko nhỏ dần trên con đường tối, tiếng xích xe kêu cọt kẹt xa dần theo từng vòng quay, cho đến khi cả bóng dáng lẫn âm thanh đó khuất hẳn sau một khúc rẽ, chỉ còn lại con đường vắng lặng dưới ánh đèn vàng nhạt.
Cô đứng thêm một lúc nữa, rồi mới quay người, bước vào trong nhà nghỉ, cây gậy gõ nhẹ lên bậc thềm đá trước cửa.
Đêm đó, Kiyora nằm trên tấm futon nhưng không thể ngủ được. Cô nằm yên một lúc, mắt mở trong bóng tối, nghe tiếng gió thổi qua khe cửa sổ quen thuộc, tiếng sóng biển vọng lại từ xa như mọi đêm khác cô từng nằm nghe ở đây. Cuối cùng cô ngồi dậy.
Kiyora nhìn quanh căn phòng trong ánh sáng mờ nhạt hắt vào từ khe rèm. Cái túi lớn đã được xếp gọn gàng từ hôm qua, đặt ngay ngắn cạnh cửa, khóa kéo đã kéo kín, sẵn sàng cho buổi sáng mai. Cây gậy gỗ sồi nằm ở góc quen thuộc cạnh đầu giường. Chiếc áo khoác xanh treo trên móc, con thỏ bông vẫn còn móc vào vòng đai áo, cái đầu nhỏ của nó hơi nghiêng sang một bên trong bóng tối, im lìm như đang ngủ cùng cô.
Cô nhìn nó một lúc lâu.
Bên ngoài, thị trấn vẫn còn vài âm thanh rời rạc của đêm khuya, tiếng một cánh cửa đóng lại đâu đó xa xa, tiếng xe máy chạy ngang qua rồi mất hút, tiếng chó sủa vu vơ một lần rồi im bặt. Những âm thanh cô đã quen thuộc mỗi đêm, nhưng chúng như vang lên rõ ràng hơn trong đêm nay, như thể cô đang cố nghe lại chúng một lần cuối. Kiyora chỉ ngồi đó, để chúng trôi qua tai mình
Sau một lúc, cô nằm xuống trở lại, xoay người nghiêng sang một bên, đối diện với khoảng tường trống, kéo chăn lên đến vai. Cô nhắm mắt lại, để bóng tối và những âm thanh quen thuộc của thị trấn ru cô vào giấc ngủ theo cách của riêng chúng.
Trời chưa sáng hẳn khi Kiyora đã tỉnh dậy, sớm hơn cả chiếc đồng hồ báo thức cô đặt sẵn từ tối qua.
Cô đứng trước tấm gương nhỏ treo trên tường, ánh đèn ngủ vàng nhạt hắt lên bề mặt gương một quầng sáng mờ. Cô đã mặc xong bộ đồ chuẩn bị cho chuyến đi, chiếc váy yếm quen thuộc bên trong lớp áo khoác xanh dương dày, và giờ đang cài nốt chiếc nút cuối cùng của áo khoác xanh bằng hai ngón tay đeo găng, động tác hơi chậm hơn bình thường vì lớp vải găng tay khiến các ngón tay kém linh hoạt.
Cô nhìn mình trong gương một lúc. Cô đứng thẳng, hai vai không nghiêng về phía nào để tìm điểm tựa, cây gậy dựng yên ở góc phòng phía sau lưng cô trong hình phản chiếu. Cô nghiêng đầu sang một bên, nhìn kỹ hơn vào đôi mắt trong gương, rồi lại thẳng đầu lại, môi mím lại thành một đường thẳng.
Cô đứng đó thêm một nhịp thở, rồi quay lưng lại, cầm cây gậy gỗ sồi dựng ở góc phòng.
Cô đeo cái túi nhỏ lên vai, tay kia kéo theo chiếc vali lớn hơn ra khỏi phòng, con thỏ bông vẫn móc chặt vào vòng đai áo khoác, lắc nhẹ theo từng bước chân cô xuống cầu thang gỗ.
Bà cụ chủ nhà nghỉ đã đứng chờ sẵn dưới nhà, taxi đã đậu ngoài cổng từ trước, đèn xe còn bật sáng trong bóng tối trước bình minh. Bà giúp Kiyora khiêng chiếc vali ra xe, đặt vào cốp, tay bà run nhẹ vì lạnh hoặc vì điều gì khác cô không chắc. Kiyora cúi đầu thật thấp.
“Cháu cảm ơn bà rất nhiều vì thời gian qua ạ.”
Cô nói, hai tay siết chặt quai túi trước bụng, giữ nguyên tư thế cúi đầu lâu hơn một chút.
“Đi đường cẩn thận nhé con. Nhớ giữ ấm, đừng để cảm lại đấy.”
Bà đưa tay xoa nhẹ lên vai Kiyora một cái, ngắn gọn, rồi lùi lại, đứng nhìn cô bước vào trong xe. Kiyora ngồi vào ghế sau, kéo cửa lại, tài xế bắt đầu cho xe lăn bánh chậm rãi ra khỏi con đường nhỏ. Cô quay đầu lại, nhìn qua tấm kính sau, thấy bà cụ vẫn đứng đó, một tay giơ lên vẫy nhẹ, bóng dáng nhỏ dần theo từng mét đường xe đi qua.
Cô nhìn theo cho đến khi con đường rẽ vào một khúc cua, bóng dáng nhà nghỉ và bà cụ khuất hẳn sau dãy nhà kho quen thuộc, không còn gì để nhìn thấy nữa ngoài bóng tối nhạt dần của buổi sáng sớm. Cô quay lại, nhìn thẳng về phía trước.
Chiếc taxi đưa cô đến Otaru mất gần hai tiếng đồng hồ, cảnh vật bên ngoài cửa kính trôi qua trong một trạng thái mơ hồ mà cô không thực sự chú ý đến, đầu óc cô như bị bọc trong một lớp sương mỏng không tan.
Đến ga tàu, cô di chuyển theo bảng chỉ dẫn, mua vé, tìm đúng sân ga. Chân cô bước đúng nhịp, tay cô đưa vé qua khe soát vé đúng lúc, nhưng mắt cô lại dừng lâu hơn cần thiết ở một tấm biển chỉ đường vô nghĩa, và có lúc cô đứng khựng lại giữa sân ga vài giây, không nhớ mình vừa định rẽ trái hay phải, như thể một nửa con người cô vẫn còn đứng lại ở con đường đất dẫn ra bờ kè.
Cô lên tàu, tìm đúng chỗ ngồi, đặt vali lên giá hành lý phía trên, ngồi xuống ghế cạnh cửa sổ, cây gậy dựa vào chân cô. Đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh.
Cô nhìn ra ngoài cửa kính, phong cảnh Hokkaido trôi qua chậm rãi rồi nhanh dần khi tàu tăng tốc, mọi thứ vẫn còn mang cảm giác không thật, như đang xem lại một đoạn phim mà chính cô là nhân vật nhưng lại đứng ngoài quan sát.
Mũi cô bỗng nhột lên, rồi cô hắt hơi một cái, phản xạ khiến cô với tay vào túi áo khoác tìm chiếc khăn tay quen thuộc.
Một mảnh giấy nhỏ rơi ra theo cùng chiếc khăn, đáp xuống đùi cô. Cô nhìn nó một lúc trước khi cầm lên, mở ra. Bên trong là nét chữ viết tay, gọn gàng nhưng có phần vội vã, chỉ vài dòng ngắn.
“Hãy ăn những gì em muốn, làm những gì em thích.”
Phía dưới, chỉ có một chữ Kanji.
Fuyu.
Kiyora nhìn dòng chữ đó, không cử động, không thở, cả toa tàu và tiếng bánh xe lăn trên đường ray dường như lùi ra xa khỏi nhận thức của cô trong một khoảnh khắc.
Một giọt nước rơi xuống đùi cô, thấm vào lớp vải quần, để lại một chấm sẫm màu nhỏ. Cô đưa tay lên, định lau mặt mình, nhưng một giọt khác đã rơi xuống trước khi tay cô kịp chạm tới, rồi một giọt nữa, rồi liên tiếp không ngừng, không theo nhịp nào cô có thể kiểm soát được.
Cô cụp mặt xuống, hai tay ôm lấy tờ giấy nhỏ đó áp vào ngực, vai cô rung lên từng đợt nhẹ, chỉ là một dòng nước cứ thế tuôn ra không ngừng nghỉ, thấm ướt cả lòng bàn tay đang đeo găng của cô.
Tàu vẫn tiếp tục lăn bánh, cảnh vật bên ngoài cửa kính vẫn trôi qua, những hành khách khác trong toa không ai để ý đến cô gái nhỏ đang lặng lẽ khóc một mình bên cửa sổ.
Cô cứ để hàng nước ấm nóng rơi như vậy, không cố ngăn lại nữa, cho đến khi mọi thứ dần dịu xuống, từng đợt run rẩy thưa dần rồi tắt hẳn. Mí mắt cô nặng dần, tờ giấy vẫn còn nắm chặt trong tay, và cô chìm vào giấc ngủ ngay trên ghế tàu, đầu tựa nhẹ vào tấm kính cửa sổ lạnh, trong lúc đoàn tàu vẫn tiếp tục đưa cô rời xa Hokkaido.
Rất lâu sau, Kiyora giật mình tỉnh dậy vì tiếng điện thoại rung liên hồi trong túi áo khoác.
Cô mở mắt, mí mắt vẫn còn nặng và hơi rát. Ánh sáng bên ngoài cửa kính đã đổi khác hẳn so với lúc cô thiếp đi, không còn là màu trắng bạc của buổi sáng sớm nữa mà đã ngả sang một sắc vàng cam đậm của buổi chiều muộn, những bóng dài đổ ngang qua cánh đồng và những rặng núi trôi qua ngoài cửa sổ. Cô đã ngủ lâu hơn cô tưởng, cả một quãng đường dài đã trôi qua trong lúc cô chìm trong giấc ngủ đó.
Cô lục túi, lấy điện thoại ra, màn hình hiện tên mẹ.
“Alo mẹ ạ.”
Giọng cô còn hơi khàn, cô hắng giọng nhẹ một cái trước khi nói tiếp.
“Con sắp đến ga chưa? Bố mẹ ra đón được rồi đấy.”
Giọng mẹ cô nghe rộn ràng hơn hẳn ngày thường, có tiếng gì đó lạch cạch phía sau như bà đang vừa nói vừa làm việc gì đó trong lúc chờ câu trả lời.
“Dạ, con gần đến rồi ạ.”
Cô đáp, mắt vẫn nhìn ra ngoài cửa kính, nơi ánh chiều đang dần chuyển sang những sắc cam sẫm hơn, báo hiệu trời sắp tối.
Họ nói thêm vài câu ngắn, mẹ cô dặn dò về việc ra cổng nào, đợi ở đâu, giọng bà vui vẻ và bình thường như bất cứ cuộc gọi nào khác trong suốt những tháng qua. Kiyora đáp lại đúng lúc, đúng nhịp, không để lộ ra bất cứ điều gì về những gì vừa xảy ra trên chuyến tàu này. Cô cúp máy, đặt điện thoại lại vào túi.
Mảnh giấy nhỏ vẫn còn nằm trong lòng bàn tay cô, cô gấp nó lại cẩn thận, cất vào một ngăn riêng trong túi áo, nơi không có gì khác lẫn vào.
Cô cúi xuống, nhìn đôi giày thể thao trên chân mình. Lớp vải trắng ngày nào giờ đã ngả màu xám nhạt, vài vệt bẩn không thể giặt sạch hoàn toàn đã bám vào các đường chỉ may, phần mũi giày hơi sờn đi vì đã đi qua không biết bao nhiêu con đường đất, đường tuyết, đường đá của thị trấn nhỏ đó suốt mấy tháng qua. Cô nhìn đôi giày đó một lúc lâu, rồi ngồi thẳng người dậy, chỉnh lại tà áo khoác, chuẩn bị cho tàu vào ga.
Chương 7: Một Tương Lai Cho Tôi?
Vài tháng sau, Kiyora bước xuống tàu ở ga Tokyo với chiếc vali kéo lê phía sau. Cây gậy gỗ sồi trong tay kia, giữa dòng người đông đúc chảy qua chảy lại không ngừng nghỉ. Cô đứng lại một giây giữa lối ra, để dòng người tự động tách ra hai bên mình như nước chảy quanh một hòn đá, một điều cô chưa từng trải qua ở thị trấn nhỏ nơi mọi người đều biết mặt nhau.
Căn phòng ký túc xá của cô nhỏ, chỉ đủ kê một chiếc giường đơn, một bàn học, một tủ quần áo hẹp. Cô mở vali, treo từng chiếc áo lên, chiếc váy yếm xanh đậm quen thuộc giờ có thêm vài người bạn mới, một chiếc váy yếm màu nâu đất, một chiếc áo sơ mi cổ ren thay cho kiểu cổ tay phồng cũ, nhưng vẫn cùng một gu, vẫn cùng một cách cô chọn lựa những thứ vừa kín đáo vừa có chút gì đó riêng biệt.Con thỏ bông giờ ngồi trên đầu giường, không còn móc vào vòng đai áo khoác nữa
Học kỳ đầu tiên trôi qua tương đối suôn sẻ, cô quen dần với nhịp độ giảng đường, với việc phải tự sắp xếp lịch học, tự nấu ăn trong gian bếp chung với những sinh viên khác. Nhưng đến học kỳ thứ hai, cô đăng ký một lớp văn học cổ điển bắt buộc, và mọi thứ bắt đầu trở nên khó khăn hơn hẳn.
Giáo sư dạy môn đó là một ông già khó tính, giọng nói đều đều không cảm xúc, yêu cầu sinh viên phải đọc và dịch những đoạn văn cổ viết bằng thứ tiếng Nhật cổ mà ngay cả những bạn học giỏi nhất trong lớp cũng phải vật lộn. Kiyora ngồi hàng ghế thứ ba, vở ghi chép của cô dày đặc những ký hiệu, những mũi tên nối các từ với nhau, cố gắng giải mã một câu văn mà cô đã đọc đi đọc lại năm lần vẫn chưa hiểu trọn vẹn.
Bài kiểm tra giữa kỳ trả về, điểm số của cô nằm ở mức thấp nhất cô từng nhận được trong đời, thấp hơn cả những bài kiểm tra hồi còn học với gia sư tại nhà.
Cô ngồi trong phòng, tờ bài kiểm tra đặt trên bàn, những dòng chữ đỏ của giáo sư gạch chân dày đặc khắp trang giấy. Cô nhìn nó một lúc lâu, tay cô siết lại quanh cây bút, không phải để ném nó đi, chỉ là một phản ứng của cơ thể trước một điều gì đó không như ý muốn.
Cô lật lại từng trang sách giáo khoa, đọc lại từ đầu, chậm hơn, kỹ hơn, gạch chân những chỗ cô không hiểu, mang đến giờ tư vấn của giáo sư hỏi từng câu một dù giọng ông vẫn cộc lốc không mấy kiên nhẫn. Cô ở lại thư viện đến khuya nhiều hơn, để cây gậy dựa vào cạnh bàn, tay cô mỏi nhừ vì viết quá nhiều nhưng cô vẫn tiếp tục.
Người bạn đầu tiên của cô ở đại học là một cô gái tên Aoi, ngồi cạnh cô trong lớp văn học cổ điển đó, người cũng đang vật lộn với môn học không kém gì cô.
“Cái đoạn này dịch ra là cái quái gì vậy trời.”
Aoi than thở một buổi chiều, đẩy cuốn sách sang phía Kiyora, ngón tay gõ gõ vào một câu văn dài loằng ngoằng.
“Ông giáo này chắc ghét sinh viên lắm mới ra đề kiểu này.”
Kiyora bật cười, cúi xuống nhìn vào đoạn văn đó cùng Aoi, cả hai đầu chụm lại gần nhau trên trang sách. Từ đó họ bắt đầu học nhóm cùng nhau, rồi dần dần mở rộng ra thêm vài người bạn khác trong lớp, tụ tập ở quán cà phê gần trường mỗi cuối tuần, không phải lúc nào cũng học bài, đôi khi chỉ ngồi tán gẫu về những chuyện vặt vãnh không đầu không cuối.
Có một lần, một cậu bạn trong nhóm than phiền về bạn gái cũ bằng những từ ngữ khá thô, đấm tay xuống bàn kể lể sự bực bội của mình, rồi chợt khựng lại, liếc sang Kiyora với vẻ hơi ngại.
“Ơ, xin lỗi, tớ nói tục quá hả.”
Cậu ta gãi đầu, mắt nhìn Kiyora dò xét như đang chờ một phản ứng khó chịu nào đó. Kiyora chỉ nhún vai, tay vẫn cầm ly trà đá khuấy nhẹ, mắt cô liếc lên nhìn cậu bạn với vẻ hơi buồn cười trước sự cẩn trọng thừa thãi đó.
“Kệ đi, tớ nghe quen rồi mà.”
Cậu bạn nhìn cô một giây, rồi cười xòa, tiếp tục câu chuyện dở dang của mình mà không giữ ý thêm nữa. Aoi là người biết rõ nhất về chuyện ghép phổi của Kiyora, vì có lần Kiyora phải xin nghỉ học một buổi để đi tái khám, và khi quay lại, Aoi chỉ hỏi một câu ngắn gọn.
“Đi khám ổn không?”
Cô hỏi mà mắt vẫn đang lục tìm gì đó trong cặp sách, giọng thản nhiên như đang hỏi về một bài tập bị bỏ lỡ.
“Ổn mà.”
Kiyora đáp, kéo ghế ngồi xuống cạnh Aoi, không có gì thêm để giải thích.
“Vậy tốt. Tối nay đi ăn lẩu với tụi tớ không, có đứa mới chia tay đang cần bị chọc quê.”
Aoi biết chuyện đó, rồi để nó sang một bên, đối xử với Kiyora như với bất cứ đứa bạn nào khác trong nhóm. Có hôm cô sải bước nhanh qua mấy dãy phố để kịp giờ, mải nói chuyện điện thoại với ai đó mà quên mất Kiyora đang đi cạnh, cho đến khi liếc sang thấy Kiyora hơi thở dốc, vai hơi khom xuống theo từng bước, mới khựng lại giữa chừng.
“Ơ, đi vậy có mệt không? Xin lỗi, tớ quên mất.”
Aoi dừng phắt lại giữa vỉa hè, quay hẳn người lại, tay đưa ra như định đỡ lấy cánh tay Kiyora nhưng lại rụt về ngay khi thấy cô vẫn đứng vững.
“Không sao, đi tiếp đi.”
Kiyora nói, giọng nhẹ nhõm, cây gậy gõ đều theo bước chân cô trên vỉa hè đông đúc của thành phố, hòa lẫn vào giữa tiếng cười nói của cả nhóm bạn đang đi phía trước.
Thư viện trường đông nghẹt người vào mùa thi cuối kỳ, gần như không còn một chỗ trống nào giữa những dãy bàn dài trải khắp các tầng. Kiyora bước vào, một tay xách ba lô nặng trĩu sách vở, tay kia vừa cầm thêm hai cuốn giáo trình dày vừa chống cây gậy gỗ sồi đã sờn màu qua bao năm tháng, mỗi bước đi đều phải tính toán cẩn thận để không làm rơi thứ gì.
Cô đi dọc qua từng dãy bàn, mắt lướt qua tìm một chỗ trống, nhưng đâu đâu cũng đã kín người, đầu cúi xuống trang sách, tai nghe cắm chặt, ánh đèn bàn cá nhân bật sáng khắp nơi tạo thành một biển những quầng vàng nhỏ giữa không gian rộng lớn của thư viện.
Đến gần cuối tầng ba, cô thấy một cái bàn đôi chỉ có một người ngồi, phía đối diện còn trống.
Người đó đang cắm cúi gõ bàn phím laptop, mái tóc rối bù, xoăn tự nhiên và dựng lên từng chỗ như chưa từng biết đụng đến lược, một cách vô thức mà quen mắt đến kỳ lạ. Trên bàn, một chồng giấy in đầy chữ, vài cuốn sách mở ra chồng lên nhau, một ly cà phê đã cạn quá nửa.
Kiyora đứng lại gần đó, không chắc có nên hỏi mượn chỗ ngồi hay không, chỉ đứng với đống sách vở nặng trong tay, cây gậy dựa hờ vào chân mình.
Người đó ngẩng lên, có lẽ nhận ra ai đó đang đứng gần bàn mình trong khoảnh khắc mắt rời khỏi màn hình, rồi không nói gì nhiều, chỉ đẩy nhẹ chiếc ghế đối diện ra một chút, ra hiệu bằng cằm, mắt đã quay lại màn hình gần như ngay lập tức, còn đang bận nghĩ tiếp câu chữ gì đó cho bài luận.
“Cảm ơn anh.”
Kiyora nói khẽ, ngồi xuống, đặt chồng sách lên bàn, cây gậy dựa vào cạnh ghế. Người đó chỉ gật đầu qua loa, không thực sự nhìn cô, hai tay vẫn gõ liên tục trên bàn phím, thỉnh thoảng dừng lại, cau mày nhìn màn hình, xóa đi một đoạn rồi gõ lại.
Kiyora mở sách ra, cúi đầu vào bài đọc của riêng mình, cả hai chìm vào sự im lặng chung của thư viện, chỉ có tiếng gõ phím, tiếng lật trang giấy, tiếng ho khan đâu đó xa xa.
Một lúc sau, người đó thở dài, ngả lưng ra sau ghế, hai tay đưa lên vò đầu một cách bực dọc, mái tóc vốn đã rối càng thêm dựng đứng lung tung theo từng ngón tay cào qua. Kiyora vô thức ngẩng lên nhìn, ánh mắt cô dừng lại ở mái tóc đó lâu hơn cần thiết.
Có gì đó trong hình ảnh này khiến một góc nào đó trong đầu cô khẽ động đậy, một cảm giác quen thuộc mơ hồ mà cô chưa kịp gọi tên, như đang cố nhớ lại một giấc mơ đã lâu không còn nhớ rõ chi tiết.
Cô cúi xuống lại trang sách của mình, nhưng ánh mắt cứ liếc lên lần nữa, rồi lần nữa, mỗi lần đều dừng ở cùng một chỗ, kiểu tóc xoăn bù xù không chịu nằm yên đó. Người đó cầm ly cà phê lên, phát hiện nó đã cạn, cau mày nhìn vào đáy ly trống rỗng rồi thời dài nhẹ, rồi đặt nó xuống, tiếp tục gõ phím với ánh mắt vẫn còn dán vào màn hình.
“Xin lỗi.”
Kiyora bất giác lên tiếng, không hoàn toàn chủ đích, chỉ là một câu hỏi đã thành hình sẵn trong đầu cô và buột ra trước khi cô kịp cân nhắc. Người đó ngẩng lên, hơi ngạc nhiên.
“Vâng?”
Anh tháo tai nghe ra khỏi một bên tai, nghiêng người về phía cô để nghe rõ hơn.
“Anh có từng... thực tập ở một bệnh viện không ạ? Cách đây mấy năm ấy.”
Người đó chớp mắt, biểu cảm thoáng chút bối rối trước câu hỏi đường đột, rồi gật đầu chậm rãi.
“Có. Sao cô biết vậy?”
Kiyora nhìn anh một lúc, cố ghép những mảnh ký ức rời rạc trong đầu lại với nhau, gương mặt trẻ hơn trong hành lang xanh nhạt của đêm khuya, cái cúi đầu sâu đến mức thẻ đeo chạm sàn, tiếng dép chạy vội vã khuất sau góc hành lang.
“Hồi đó anh có làm rơi mấy cái hộp, rồi va vào cây gậy của một người, khiến người đó suýt ngã.”
Người đó khựng lại hẳn, hai tay ngừng trên bàn phím, ánh mắt anh lướt xuống cây gậy đang dựa cạnh ghế Kiyora, rồi từ từ ngước lên nhìn thẳng vào mặt cô, một biểu cảm nhận ra đang chậm rãi lan ra trên gương mặt anh.
“Là... là cô đó à?”
Anh nhoài người về phía trước, hai tay chống lên mặt bàn như không tin vào sự trùng hợp này.
“Đúng rồi ạ.”
Anh đưa một tay lên, gãi gãi sau gáy, một cử chỉ ngượng nghịu quen thuộc dường như chưa từng thay đổi qua bao năm.
“Tôi thành thật xin lỗi, lần đó là…”
Kiyora bật cười, lần đầu tiên kể từ khi ngồi xuống bàn này, khiến vài người ở bàn gần đó liếc mắt khó chịu vì tiếng ồn giữa không gian yên tĩnh của thư viện.
“Anh vẫn còn nhớ phải xin lỗi cơ à.”
Cô đưa tay lên che miệng, cố nén bớt tiếng cười, vai cô vẫn còn rung nhẹ.
“Sao mà tôi quên được.”
Anh cười, một tay vẫn còn xoa sau gáy, mắt anh nheo lại theo nụ cười nhưng có chút gì đó bối rối còn vương lại trên mặt.
“Hôm đó tôi bị mắng suốt cả tuần vì làm rơi mấy hộp đồ đó.”
Họ ngồi đó, nhìn nhau một lúc, khoảng cách năm tháng giữa hành lang bệnh viện tối om ngày ấy và thư viện đông đúc mùa thi này bỗng thu hẹp lại chỉ còn một cái bàn, một cuộc trò chuyện bất ngờ được nối lại sau nhiều năm không hẹn mà gặp.
Trong một buổi tối Kiyora nằm co ro trên giường trong căn phòng ký túc xá, mũi nghẹt cứng, cổ họng rát, cơn cảm lạnh thông thường nhưng đủ để khiến cơ thể cô mệt lử, phần vì hệ miễn dịch vốn đã suy giảm từ lâu do thuốc chống thải ghép, luôn phản ứng chậm hơn và mất nhiều thời gian hơn để hồi phục so với người bình thường. Có tiếng gõ cửa nhẹ vang lên.
“Ai đó ạ…”
Giọng cô khàn đặc, gần như không thành tiếng.
“Là tôi đây.”
Cửa mở, chàng thanh niên kia bước vào, tay xách một túi ni lông, người vẫn còn mặc nguyên áo khoác vì bên ngoài trời lạnh, tóc rối như thường lệ, có vẻ vừa chạy vội đến đây sau giờ học.
“Nghe Aoi nói cô bị cảm nên tôi ghé qua xem sao.”
Anh đặt túi đồ xuống bàn học, lấy ra một hộp thuốc cảm, một chai nước cam, và một hộp nhựa còn ấm, hơi nước còn đọng trên nắp.
“Tôi có nấu chút cháo, cho thêm chút gừng với một ít vỏ quýt khô, nghe nói tốt cho người mới cảm. Không biết ngon không, tôi nấu hơi vụng tí.”
Kiyora ngồi dậy một chút, tựa lưng vào đầu giường, nhìn hộp cháo anh đang mở nắp ra, hơi nước bốc lên phảng phất mùi gừng, mắt cô díu lại vì mệt nhưng vẫn cố mở to hơn để nhìn cho rõ.
“Cảm ơn anh.”
Cô nói, giọng khàn đặc, tay cô vịn vào thành giường để nhích người ngồi thẳng hơn.
“Đợi chút, để tôi đo nhiệt độ trước đã.”
Anh lấy nhiệt kế ra khỏi túi áo, cầm trong tay, dừng lại một giây rồi bỏ nó lại vào túi trước khi chồm về phía cô.
“Tôi chạm vào trán nhé, xem có sốt nhiều không.”
Kiyora gật đầu, và anh mới đưa tay lên, áp nhẹ lòng bàn tay vào trán cô, giữ đó vài giây, ánh mắt tập trung như đang cân nhắc điều gì đó bằng kinh nghiệm chuyên môn hơn là chỉ quan tâm thông thường.
“Hơi nóng, nhưng không đáng lo. Húp thử cháo xem, ấm bụng sẽ dễ chịu hơn.”
Anh múc một thìa cháo, thổi nhẹ cho bớt nóng, nhưng rồi nhận ra Kiyora đã tự cầm lấy thìa từ tay anh, cô mỉm cười yếu ớt.
“Em tự ăn được mà.”
Cô nói, tay cô đã cầm chắc cán thìa, không đợi anh phản đối.
“À, ừ, phải rồi.”
Anh hơi lúng túng, tay rụt lại, ngồi xuống mép giường đối diện, nhìn cô ăn từng thìa cháo chậm rãi. Cháo hơi nhạt, gừng cho hơi nhiều khiến vị hăng lấn át phần còn lại, nhưng Kiyora vẫn ăn hết, cảm nhận hơi ấm lan dần xuống bụng, dễ chịu hơn hẳn so với cơn ớn lạnh cô mang theo từ chiều.
“Ngon mà.”
Cô nói, đưa thìa cuối cùng lên miệng, húp sạch phần nước cháo còn sót lại đáy hộp, dù khóe mắt cô hơi nhăn lại khi vị gừng cay nồng lướt qua cổ họng.
“Cô nói dối cũng giỏi ghê.”
Anh cười, gãi gãi sau gáy, nhưng vẫn có vẻ hài lòng vì cô đã ăn hết cả hộp. Anh ở lại thêm một lúc, kể vài chuyện vặt vãnh ở bệnh viện nơi anh đang thực tập, giọng anh đều đều, không cần Kiyora phải đáp lại nhiều.
Đầu Kiyora dần nặng trĩu, gật gù theo từng câu chuyện của anh, mí mắt cô sụp xuống rồi lại cố mở ra, cho đến khi cô không còn chống lại được nữa, đầu cô nghiêng sang một bên gối, hơi thở dần đều lại. Anh ngừng kể giữa chừng, nhìn cô một lúc, rồi khẽ kéo tấm chăn đắp lại ngay ngắn hơn quanh vai cô, ngồi yên đó thêm một lúc trước khi đứng dậy tắt bớt đèn bàn, chỉ để lại một quầng sáng nhỏ đủ soi đường ra cửa.
Nhiều năm trôi qua theo cách những mùa vẫn thường trôi, lặng lẽ và không chờ ai nhận ra.
Trong một buổi chiều hè, Kiyora đứng trước cổng một trường mẫu giáo nhỏ, bóng cây phủ mát khoảng sân trước cổng, tiếng ve kêu râm ran đâu đó trên những tán lá. Cô mặc một chiếc váy nhẹ, kiểu dáng vẫn giữ nguyên nét quen thuộc từ nhiều năm trước, chỉ khác chất liệu mỏng hơn cho phù hợp cái nóng mùa hè, cây gậy gỗ sồi trong tay cô gõ nhẹ một nhịp xuống nền xi măng khi cô đứng chờ, một tấm bảng tên nhỏ đeo trước ngực áo ghi tên cô.
Từng tốp phụ huynh đến đón con dần tản ra khỏi sân trường, tiếng dép trẻ con lẹp xẹp trên nền gạch, tiếng cười nói lao xao hòa vào không khí oi ả cuối ngày. Kiyora đứng nép vào bóng mát của cổng trường, mắt cô dõi theo từng nhóm nhỏ đang tíu tít chào tạm biệt nhau.
Một đứa bé, chắc chỉ mới ba bốn tuổi, đang lẫm chẫm đi bên cạnh mẹ nó không xa chỗ cô đứng.
Đứa bé bỗng dừng phắt lại, nhìn về phía Kiyora, đôi mắt tròn xoe sáng lên như vừa nhận ra ai đó quen thuộc. Nó buông tay mẹ, chạy lạch bạch qua sân trường, hai tay nắm chặt một thứ gì đó nhỏ xíu trước ngực.
“Cô ơi!”
Kiyora quay đầu lại, hơi bất ngờ, rồi khuôn mặt cô giãn ra khi nhận ra đứa trẻ. Đứa bé đứng trước mặt cô, thở hổn hển vì vừa chạy, đưa hai tay ra, chìa một bông hoa gấp bằng giấy màu, cánh hoa không đều nhau, có chỗ gấp lệch hẳn, một cọng lá xanh dán lệch phía dưới bằng băng keo trong nhìn rõ cả những vệt nhăn.
“Con làm cho cô nè.”
Kiyora đón lấy bông hoa giấy bằng cả hai tay, cẩn thận như thể nó là một vật gì đó quý giá lắm, mắt cô nhìn nó một lúc rồi nhìn lên đứa bé đang cười toe toét khoe hàm răng sún.
“Đẹp quá, cảm ơn con nhé.”
Cô cúi hẳn người xuống ngang tầm đứa bé, xoay bông hoa một vòng trước mặt nó như đang khoe lại thành quả của chính đứa bé.
“Cô thích không?”
Đứa bé hỏi, kiễng chân lên, hai tay vẫn còn chắp sau lưng, mắt nó nhìn chằm chằm vào biểu cảm của Kiyora chờ câu trả lời.
“Cô thích lắm.”
Đứa bé gật đầu hài lòng, hai má nó ửng hồng vì vừa chạy vừa vì được khen, rồi quay lưng chạy vội về phía người mẹ đang đứng chờ cách đó không xa, vừa chạy vừa ngoái đầu lại nói với theo, một tay vẫy vẫy trong không trung.
“Thứ Hai gặp lại cô nha!”
Người mẹ mỉm cười, cúi đầu chào Kiyora từ xa, có chút ngại ngùng vì con mình đã tự ý chạy đi, rồi dắt tay đứa bé tiếp tục bước đi trên con đường trước trường. Kiyora nhìn theo hai mẹ con cho đến khi khuất sau một khúc rẽ, tay cô vẫn giữ chặt bông hoa giấy nhăn nhúm ấy, một nụ cười nhẹ và ấm áp còn đọng lại trên môi.
Cô đứng đó thêm một lúc, xoay bông hoa giấy trong lòng bàn tay, ngắm nghía từng cánh gấp lệch của nó dưới ánh nắng xuyên qua tán lá, rồi cẩn thận cất nó vào túi xách nhỏ đeo bên hông, giữ gìn như một vật gì đó cô sẽ không nỡ bỏ đi, trước khi cầm cây gậy lên, bước ra khỏi cổng trường, hòa vào dòng người đang tản dần trên con phố buổi chiều.
Vài năm trôi qua theo nhịp sống ổn định đó, những buổi chiều công viên, những giờ lên lớp, những ngày cuối tuần yên bình bên nhau, cho đến một buổi sáng khi cả hai cùng ngồi trong phòng khám của bác sĩ chuyên khoa, nơi Kiyora vẫn tái khám định kỳ suốt nhiều năm nay.
Nhưng lần này, cuộc hẹn không chỉ đơn thuần là kiểm tra chức năng phổi hay điều chỉnh liều thuốc như mọi lần. Vị bác sĩ, người đã theo dõi hồ sơ của cô từ sau ca ghép tạng năm nào, ngồi đối diện, tay lật qua vài trang giấy tờ, ánh mắt ông nghiêm túc hơn thường lệ.
“Đây là một quyết định quan trọng, nên tôi mong hai vợ chồng suy nghĩ thật kỹ trước khi tiến hành.”
Ông nói, giọng chậm rãi, nhấn mạnh từng chữ như muốn đảm bảo cả hai hiểu rõ trọng lượng của những gì sắp được thảo luận.
Kiyora ngồi đó, hai tay đặt gọn trên đùi, gật đầu theo từng lời ông nói, ánh mắt cô tập trung, có vẻ bình tĩnh, lắng nghe từng chi tiết về nguy cơ loãng xương nặng hơn, về áp lực lên hệ hô hấp vốn đã không hoàn toàn khỏe mạnh, về việc điều chỉnh thuốc chống thải ghép sao cho an toàn cho cả mẹ lẫn thai nhi, về khả năng phải nằm viện theo dõi sát sao suốt thai kỳ.
Cô gật đầu, gật đầu, gật đầu.
Dưới gầm bàn, nơi không ai nhìn thấy được, những ngón tay cô đã siết chặt vào lớp vải váy đang mặc từ lúc nào, các đốt ngón tay nhợt đi vì lực siết, nắm chặt đến mức những nếp vải nhăn lại dưới lòng bàn tay cô, một cơn căng thẳng âm thầm hoàn toàn tách biệt khỏi gương mặt điềm tĩnh cô đang cố giữ ở phía trên.
Đêm đó Kiyora không tài nào ngủ được.
Cô nằm nghiêng một bên, một cánh tay người chồng vòng qua người từ phía sau, hơi ấm quen thuộc lan tỏa dọc lưng cô nhưng không đủ để xoa dịu những suy nghĩ đang cuộn xoáy không ngừng trong đầu. Cô nhìn chằm chằm vào bức tường tối trước mặt, nghe tiếng thở đều đặn của chồng phía sau gáy mình, chậm rãi và bình yên, khác hẳn với nhịp tim đang đập nhanh hơn bình thường trong lồng ngực cô.
Cô đưa tay lên, đặt nhẹ lên bụng mình, lòng bàn tay áp xuống lớp áo ngủ mỏng, cảm nhận hơi thở của chính mình lên xuống dưới đó. Sau một lúc lâu, cơ thể cô cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ, không phải vì đã tìm được câu trả lời nào, chỉ đơn giản là kiệt sức.
Trời còn chưa sáng hẳn khi Kiyora tỉnh dậy, một khoảng tối nhàn nhạt vẫn còn bao trùm căn phòng ngủ. Cô xoay người, đối diện với chồng mình vẫn còn đang say ngủ, một tay gác lên gối. Cô đưa tay ra, lay nhẹ vai anh.
“Anh ơi…”
Anh không phản ứng ngay. Cô lay thêm một lần nữa, nhẹ hơn nhưng dứt khoát hơn.
“Anh ơi, dậy đi.”
Mắt anh hé mở, nhìn thấy vợ mình đang nằm sát bên, gương mặt còn ngái ngủ chưa kịp tỉnh táo hoàn toàn.
“Gì vậy em... còn sớm mà.”
Anh dụi mắt, giọng còn khàn đặc vì vừa tỉnh, một tay chống lên gối nhổm dậy nửa chừng.
“Em muốn đi Hokkaido. Em muốn xem vài thứ ạ…”
Anh chớp mắt vài cái, cố định thần lại trước câu nói bất ngờ đó, rồi nhíu mày nhẹ, chống tay ngồi dậy một chút.
“Bây giờ á?”
Anh liếc nhìn khung cửa sổ vẫn còn tối om, giọng anh có chút hoang mang vẫn chưa thoát hẳn khỏi cơn buồn ngủ.
“Không phải bây giờ, nhưng... sớm thôi. Em muốn đi cùng anh.”
Anh nhìn cô một lúc trong ánh sáng lờ mờ của buổi sớm, cố đọc điều gì đó ẩn sau lời đề nghị đột ngột này, rồi không hỏi thêm lý do mà chỉ đưa tay lên, xoa nhẹ lên đầu cô một cái.
Họ đến Furubira vào một buổi chiều muộn, chỉ còn vài ngày nữa là đến giao thừa. Kiyora không ghé qua nhà nghỉ cũ hay bất cứ nơi nào cô từng quen thuộc, chỉ thuê một phòng khách sạn nhỏ gần bến cảng, đủ ấm áp và tiện nghi hơn nhiều so với căn phòng lót chiếu tatami năm nào.
Đêm giao thừa, cả hai khoác thêm áo ấm, bước ra ngoài trong cái lạnh cắt da của mùa đông phương Bắc, đi theo con đường ven biển dẫn về phía bến cảng, nơi tiếng chuông chùa xa xa đã bắt đầu ngân lên những hồi đầu tiên.
Họ đứng lại ở khoảng cách xa, trên con đường uốn cong nhìn xuống bến cảng, nơi ánh đèn cao áp vẫn tỏa sáng như một hòn đảo nhỏ giữa biển đêm. Chồng cô đứng cạnh, một tay khoác qua vai cô, cả hai im lặng nhìn xuống nghi lễ đang diễn ra phía xa, bóng dáng khoác trang phục xanh lam quen thuộc di chuyển chậm rãi giữa vòng người, tiếng chuông nhỏ vang lên đều đặn xuyên qua không khí lạnh.
Kiyora đứng đó, tay bám nhẹ vào lan can, cảm nhận cơn mệt mỏi bắt đầu len vào cơ thể mình sau một ngày dài di chuyển, đôi chân cô mỏi hơn bình thường, hơi thở hơi nặng nhọc hơn trong cái lạnh gay gắt của đêm giao thừa phương Bắc.
“Em thấy sao rồi?”
Chồng cô hỏi, nhận ra sự thay đổi nhỏ trong dáng đứng của cô, tay anh siết nhẹ hơn quanh vai cô, đầu anh nghiêng xuống nhìn mặt cô trong bóng tối.
“Dạ, em có hơi mệt ạ.”
Cô đáp, hơi thở cô ngắn hơn giữa các từ, một tay cô đưa lên xoa nhẹ lồng ngực mình qua lớp áo khoác dày.
“Mình về nghỉ trước nhé, để mai còn sức đi thăm mấy chỗ em muốn ghé qua.”
Kiyora nhìn thêm một lúc về phía nghi lễ vẫn đang tiếp diễn, rồi gật đầu, để chồng dìu mình quay trở lại con đường về khách sạn, bỏ lại phía sau tiếng chuông vẫn còn ngân vang trong đêm tối.
Nghi lễ tiếp tục cho đến khi những vòng cung cuối cùng của chiếc rìu nhỏ khép lại, đám đông vây quanh dần tản ra, một vài người tiến đến gần hơn, cúi đầu trước bóng dáng khoác trang phục xanh lam như đang xin một lời cầu chúc cho chuyến ra khơi năm mới.
Những chiếc thuyền đánh cá lần lượt nổ máy, tách khỏi bến, rẽ sóng ra khơi trong bóng tối, đèn hiệu nhỏ trên mũi thuyền nhấp nháy xa dần cho đến khi hòa lẫn vào đường chân trời đen thẫm.
Khi bến cảng đã vắng bớt người, chỉ còn lại vài bóng dáng cuối cùng đang thu dọn, người khoác trang phục nghi lễ đưa hai tay lên, chậm rãi tháo chiếc mặt nạ xanh lam khỏi mặt.
Fuyuko kẹp chiếc mặt nạ vào dưới nách, tay kia đưa lên vuốt nhẹ mái tóc đã xổ tung sau lớp vải quấn đầu. Cô nhìn về phía con đường uốn cong nơi ánh đèn đường thưa thớt, nơi cô vừa cảm nhận có ai đó đứng đó một lúc trước, nhưng giờ chỉ còn lại khoảng tối trống không.
“Hôm nay em vất vả rồi, Fuyuko.”
Cô quay lại. Một người cảnh sát trẻ bước đến, tay cầm theo một tấm chăn mỏng, khoác nhẹ lên vai cô, rồi đưa tay ra đỡ lấy chiếc mặt nạ đang kẹp dưới nách cô.
“Cảm ơn anh.”
Fuyuko khẽ gật đầu, kéo tấm chăn sát hơn vào người, hơi ấm của nó dần lan tỏa qua lớp trang phục nghi lễ mỏng manh.
Họ đứng đó một lúc, nói vài câu ngắn về buổi lễ, về mấy chiếc thuyền vừa ra khơi, về cái lạnh năm nay có vẻ gắt hơn mọi năm. Xa xa, tiếng sóng vỗ đều vào bờ đá, bến cảng dần chìm vào tĩnh lặng khi những người cuối cùng cũng rời đi.
Fuyuko nhìn xuống đôi giày mình, ngón chân hơi co lại trong cái lạnh, rồi cô ngẩng lên, gọi tên anh, giọng cô ngập ngừng hơn thường lệ, tay cô siết nhẹ lấy mép tấm chăn đang khoác trên vai.
“Makoto-san…”
Anh quay sang nhìn cô, tay vẫn còn ôm chiếc mặt nạ xanh lam, ánh mắt anh dừng lại trên gương mặt cô lâu hơn một câu chào thông thường, như đang chờ đợi gì đó phía sau cái tên vừa được gọi.
“Hôm nay em qua nhà anh được không?”
Có một khoảng lặng ngắn, đủ để Fuyuko kịp hối hận vì đã hỏi, mắt cô hơi cụp xuống nhìn vào khoảng bê tông giữa hai người, nhưng rồi anh đáp, giọng cũng ngập ngừng không kém, tai anh đỏ ửng lên dưới ánh đèn cao áp mà không rõ là vì lạnh hay vì điều gì khác.
“Đ... được chứ.”
Cả hai đứng đó, không ai nói thêm gì, chỉ có tiếng gió biển thổi qua giữa họ và bến cảng đã vắng hẳn phía sau lưng. Những ngón tay của Fuyuko khẽ tìm đến bàn tay anh, chạm vào, rồi nắm lấy. Anh không rút tay lại.
Họ đứng đó một lúc lâu dưới ánh đèn cao áp mờ dần, hai bàn tay nắm chặt nhau trong cái lạnh của đêm giao thừa, trong khi những chiếc thuyền cuối cùng đã khuất hẳn vào bóng tối của đại dương, mang theo lời cầu chúc của một năm mới vừa bắt đầu.
~fin
