Actions

Work Header

Vĩnh hằng

Summary:

Sequel của Oneshot "Rồi hoa lê sẽ nở". Đặt trong giả định sau này Soo-won ra đi thật và Yona lên làm nữ vương, Kouka trở thành cường quốc như giấc mơ bấy lâu. Cuối cùng Kye-sook và Joo-doh cũng phải đối mặt với nỗi bi thương không gì khoả lấp nổi, cũng như cảm giác vô định khi mục đích sống duy nhất của họ đã không còn nữa.

Đây là một câu chuyện về sự sống và cái chết, phai tàn và tái sinh, giữa vòng luân chuyển của bốn mùa và sự vô thường của kiếp người.

Notes:

Có chứa kha khá suy nghĩ và hành vi tiêu cực. Fic lê thê dông dài buồn ngủ như trước giờ vẫn thế, lại còn tràn đầy chết chóc. Tác giả có sở trường hành nhân vật nên ai không chịu được xin đừng xem. Người nào ghét Kye-sook và Soo-won cũng đừng vào đây, tác giả có thể đồng cảm với họ và yêu thương họ nên không có nhu cầu nghe mắng chửi sỉ vả.

Lấy cảm hứng từ bài hát Đồng quy – Vân Khấp và một số bài thơ Waka của Saigyo Hoshi, sau này sẽ nói rõ hơn trong các chú thích. Ngoài ra, có một điển tích được sử dụng xuyên suốt cả 2 fic là “Lê vân mộng” (mộng thấy hoa lê như mây) ý chỉ mơ về những tháng ngày tươi đẹp ngày xưa, tích này bắt nguồn từ một bài thơ của Vương Kiến thời Đường.

Hoa lê, cây lê mang khá nhiều ý nghĩa, nhưng trong fic chỉ chọn ra một số để sử dụng xuyên suốt: Vĩnh cửu, một khởi đầu mới, sự xoa dịu và tình bạn không phai tàn

Tác giả có hứng thú bất tận với tương tác của Kye-sook và Joo-doh, do vốn thích mối quan hệ được xây nên từ niềm tin tưởng kiên định. Tác giả luôn coi hai người này giống cha con hoặc anh em chứ không ship gì đâu. Để thống nhất với bản dịch của NXB, tác giả sẽ gọi Kye-sook là quân sư thay vì tham mưu, Không tộc thay vì Thiên tộc.

Chữ 空 - không đặt ở tên chương 1, 2 là trong tên gọi của Không tộc, vừa có nghĩa là bầu trời, vừa có nghĩa là sự trống rỗng

Chapter 1: 空 – Không (thượng)

Chapter Text

Vị quân sư thậm chí không nhỏ một giọt nước mắt trong đám tang người quan trọng nhất của ngài. Suốt buổi lễ, ngài ta không quay đi, không cúi mặt hay biến sắc lấy một lần. Trước sau vẫn giữ nguyên biểu cảm lạnh lẽo như băng, đến mức đôi lúc người ta ngỡ rằng ngài ta đã hoá thành một trong những bức tượng đá canh giữ lăng mộ. Chẳng ai biết được đức vua đã nói gì với ngài vào giây phút sinh ly tử biệt. Chỉ biết rằng kể từ khoảnh khắc bước ra khỏi căn phòng mà sự sống đã rời bỏ ấy, quân sư dường như đã thẳng tay xoá bỏ mọi kí ức lẫn bi ai khỏi trái tim vốn đã chai sạn của mình. Ngài vẫn triệu họp như ngày thường, bàn luận về tình hình biên giới, mọi kế hoạch được vạch ra rõ ràng – kể cả những nghi thức tiễn biệt. Vài lính gác xì xào rằng quân sư sắp xếp mọi thứ – tuần tự và đúng quy tắc – một cách vô cảm, như thể ngài ta xem tang lễ của đức vua là ca gác hằng ngày.

Vị quân sư thậm chí còn không để Không tộc có thời gian tiếc thương. Chỉ vài ngày sau, họ phải sẵn sàng cho đợt viễn chinh cuối cùng, đề phòng nước đối địch biết được Kouka vừa mất đi quân vương nên sĩ khí có phần suy giảm – khi đó chắc chắn chúng sẽ chớp thời cơ tấn công trước. Cả đội quân, theo những mệnh lệnh sắt đá được ban hành chỉ trong một đêm, phải nén đi nỗi đau cùng sự hoang mang ngờ vực, quên đi mọi sợ hãi lẫn bi ai, tập trung vào trận chiến rồi đây sẽ quyết định tương lai của Kouka – cũng chính là giấc mơ chưa hoàn thành của vị vua trẻ. Quân sư thức trắng đêm, không lãng phí thời gian dù chỉ một giây, có mặt ở mọi nơi trong doanh trại, theo dõi sát sao việc luyện tập của binh lính, và triệu họp vào bất cứ khi nào ngài ta cảm thấy có gì đó không ổn trong chiến thuật.

Vị quân sư thậm chí không nán lại để tận hưởng chiến thắng sau cùng. Khi lá cờ trận Kouka giương cao trên chiến trường, khi những tràng hò reo bùng nổ và những khúc hoan ca bất tận cất lên, ngài ta lặng lẽ quay ngựa rời khỏi chiến địa, bỏ lại sau lưng tất cả. Đã từng có một thời, giây phút này là ý nghĩa sống của cả đời ngài. Nhưng đó là khi người ấy hãy còn ở bên ngài. Không thể cùng người chứng kiến giấc mơ thành hiện thực, ngay cả chiến thắng chung cuộc cũng có vị cay đắng không sao chịu nổi.

Ngài xuống ngựa ở đồng cỏ cách nơi đóng quân một quãng, khuất sau rặng đồi đá thấp, yên tâm rằng sẽ không ai để ý đến sự vắng mặt của mình. Âm thanh náo nhiệt từ đội quân đang ăn mừng cũng không thể vẳng đến đây. Thả cho ngựa gặm cỏ tự do, vị quân sư ngồi xuống, rồi nằm hẳn xuống cỏ, nhìn đăm đăm lên bầu trời cô độc trên đầu, cứ giữ nguyên tư thế ấy đến tận khi hoàng hôn nhuốm đỏ những đám mây và vì sao đầu tiên xuất hiện. Không ngủ, không cử động, không suy nghĩ, không cảm xúc, không quan tâm đến bất kì điều gì trên đời. Tất thảy chỉ còn một khoảng hư vô, trống rỗng như bầu trời xa xôi kia.   

 

Đó là những chuyện của một tháng trước.

Mới một tháng mà đối với Kye-sook tựa như hàng trăm hàng ngàn năm đã trôi qua. Anh không nhớ đêm đó ai đã tìm thấy mình, mọi người trong doanh trại đã nói gì, bằng cách nào anh có thể cưỡi ngựa theo đoàn quân trở về đến cung điện Hiryuu. Tâm tưởng anh như phủ một màn sương trắng xoá. Dường như vào một lúc nào đó, anh đã vô tình bước lạc khỏi dòng thời gian và không thể quay lại đúng nơi mình từng thuộc về.

Thực ra anh cũng không muốn quay lại. Chẳng còn ai ở đó chờ anh, cũng chẳng ai cần đến anh nữa.

Cuộc chiến cuối cùng đã khép lại, một triều đại mới đã bắt đầu. Công chúa Yona là người trị vì xứng đáng do chính tiên vương công nhận, người có Tứ Long huyền thoại sát cánh bên cạnh, và chính anh cũng đã đưa Hak lên vị trí tướng quân. Nhưng giữa anh và họ chỉ có liên minh đơn thuần vì lợi ích của Kouka. Giờ đây Kouka trở thành cường quốc, mục đích chung hoàn thành, liên minh ấy cũng đến ngày kết thúc. Anh chưa bao giờ là cố vấn được họ đặt trọn niềm tin, hơn nữa anh chưa từng nghĩ đến việc phò tá một ai đó bằng cả trái tim như từng làm với Soo-won, lại càng không tưởng tượng ra mình có thể tiếp tục sau khi ý nghĩa sống duy nhất không còn.

Thành thử tốt nhất là anh nên lặng lẽ biến mất. Khỏi cuộc đời của mọi người. Khỏi Không tộc. Khỏi kinh đô. Khỏi thế giới không còn gì ngoài bi thương này.

Tất cả đã kết thúc rồi. Kye-sook lặng lẽ nói với bản thân mình, cùng những bóng ma kí ức đang ẩn hiện trong góc phòng tối om. Vì lời trăn trối của đức vua, anh đã nén hết thương đau để thay ngài chiến đấu trận cuối cùng. Giờ đây Kye-sook mới có thời gian để tiếc thương, để đau đớn, để tuyệt vọng – tất cả những cảm xúc lẽ ra phải bộc lộ trong lễ tang một tháng trước. Nhưng lạ thay, vẫn không có giọt lệ nào ứa ra. Như thể chúng đã chảy ngược cả vào trong, kết thành những nhũ băng sắc nhọn, mãi mãi mắc kẹt trong tim.

Thật tệ khi không thể khóc cho người mình yêu thương. Nhưng thay vì cơn đau đớn bộc phát chảy ra theo nước mắt, nỗi buồn thương âm ỉ sẽ ghi khắc sâu hơn. Chúng sẽ ở đó cùng những kí ức về đức vua, vĩnh viễn không phai nhạt.

Ngoài cửa có tiếng động, nhưng có lẽ chỉ là do gió. Kye-sook không buồn ngoảnh ra. Anh hoàn toàn mất ý thức về thế giới xung quanh, chẳng rõ giờ là ngày hay đêm, mùa đông hay mùa xuân. Dòng thời gian vùn vụt trôi ngoài song cửa chẳng thể ảnh hưởng đến anh nữa. Vị quân sư cũng không nhớ nổi lần gần nhất mình ăn gì, hay lần cuối cùng mình chợp mắt là khi nào. Anh khao khát được ngủ một giấc thật dài, không bao giờ trở dậy nữa, song có vẻ số mệnh chưa tha thứ cho anh dễ dàng đến vậy. Cố gắng cách mấy cũng không thể khép mắt lại, anh cứ thế thức cả đêm, đăm đăm nhìn lên trần với đôi mắt cay xè đau nhức, cảm thấy tình trạng này chẳng khác nào sự trừng phạt, dai dẳng, bất tận, vì tất cả những gì anh đã làm và những người anh đã để vuột mất.

Kye-sook phớt lờ mọi tiếng gọi từ bên ngoài, không đến họp, không dự lễ đăng quang của tân vương, từ bỏ mọi trách nhiệm của quân sư, khoá trái cửa để không ai có thể làm phiền. Thực ra số người viếng thăm phòng anh không nhiều, họ sẽ rời đi sau vài lần không nghe hồi đáp. Kye-sook biết mình vốn đã không được lòng mọi người, họ luôn giữ khoảng cách với anh, và chắc chắn sẽ lập tức quên lãng anh ngay khi có cơ hội. Cũng tốt, lúc này anh muốn được ở một mình. Người duy nhất anh muốn gặp, người duy nhất có thể kéo anh khỏi bốn bức tường tối tăm này, mãi mãi không còn mỉm cười với anh qua cửa sổ, hay gõ cửa phòng anh với những câu hỏi thăm quen thuộc nữa.

“Bệ hạ, người vẫn còn ở đó chứ?” Vị quân sư thì thầm với bóng tối vây quanh mình. Anh không tin vào phép màu hay ân phước của thần, nhưng anh tin đức vua vẫn còn dõi theo, như ngài đã hứa vào khoảnh khắc ly biệt. Ra đi khi còn quá trẻ, tâm nguyện vẫn còn dang dở, chưa một lần được nhìn thấy đất nước thanh bình họ cùng nhau xây đắp, anh biết đức vua không bao giờ cam tâm. Nhưng rồi cái kết vẫn cứ đến, vẫn cứ cướp ngài khỏi anh, như đã từng cướp đi vô số điều quan trọng khác. Giá như anh có thể làm gì đó…

Giá như anh có thể đi theo ngài.

Phải rồi. Vào ngày trở thành tân vương của Kouka, Soo-won đã đưa anh lên ngọn đồi nơi họ có thể nhìn bao quát toàn bộ khung cảnh kinh đô bên dưới. Hôm đó, anh đã thề sẽ luôn hỗ trợ ngài, luôn bước cùng ngài trên một con đường ngay cả khi nó dẫn thẳng vào bóng tối. Sao bây giờ ngươi vẫn còn ở đây? Chỗ của ngươi là ở phía sau ngài ấy.

Anh lần tay xuống dưới lớp đệm mỏng, cho đến khi chạm được vào lưỡi dao sắc lạnh vẫn giấu ở đó bấy lâu nay. Sau nhiều ngày không ăn không ngủ, chìm đắm trong nỗi bi thương không nước mắt và những cơn ác mộng xuất hiện ngay cả khi tỉnh thức, anh không đủ sức gượng dậy để tiếp tục sống, nhưng vẫn còn đủ sức đặt dấu chấm hết cho hình phạt dài lê thê mà anh phải chịu.

Chỉ một lát nữa thôi, tất cả sẽ thực sự kết thúc.

Tuy nhiên, vị quân sư chưa kịp cảm nhận hơi lạnh của kim loại trên da thịt mình, cánh cửa phòng anh đã bật tung ra.

Bật tung theo đúng nghĩa đen. Cả hai cánh đều bung khỏi bản lề, đập mạnh xuống sàn.

Có vẻ bên ngoài đang là giữa đêm. Cơn gió mùa xuân đượm hương hoa lập tức ùa vào, xua đi bóng ma kí ức náu mình trong góc. Những cánh hoa trắng cuốn theo vạt áo choàng xanh sẫm – màu của đội quân Không tộc – khi người vừa phá cửa kia lao tới chỗ anh, chỉ trong nháy mắt đã tước con dao trong tay anh, ném thẳng ra ngoài cửa sổ.

“Quân sư Kye-sook! Ngài mất trí rồi à?” Người đó hét lên, túm cổ áo anh mà lay, hơi quá mạnh tay. Anh nghĩ đây là lần thứ ba hay bốn gì đó mình nghe câu này phát ra từ tướng quân Không tộc, Han Joo-doh. Bình thường Kye-sook thậm ghét bị đụng chạm, đặc biệt là túm cổ áo. Nếu là vị quân sư nóng tính trước kia, anh sẽ lập tức phát cáu và đẩy đối phương ra ngay. Nhưng giờ anh đã quá mệt mỏi để lên tiếng hay phản ứng. Ngài ta muốn làm gì thì làm, anh không quan tâm.

“Xin lỗi. Lẽ ra ta không nên để ngài một mình lâu đến vậy.” Joo-doh thở dài, buông Kye-sook ra sau một hồi không thấy người kia đáp lại. “Ta cứ nghĩ ngài sẽ suy nghĩ thông suốt hơn khi được để yên một mình, nhưng ta đã lầm.”

“Phải, ngài đã lầm.” Kye-sook thì thầm, tựa người vào tường, cảm thấy nỗi chua chát quen thuộc dâng nghẹn lên cổ. Lúc nào cũng vậy, mọi người đều tin rằng – đúng hơn là yêu cầu anh phải tỉnh táo bất chấp tình cảnh, phải suy nghĩ thông suốt ngay cả khi đang lạc lối trong chính tâm trí mình, phải tiếp tục ngay cả khi không còn sức đứng dậy nữa. Trong mắt mọi người, anh chẳng khác gì con quỷ máu lạnh. Họ nghĩ một con quỷ thì không biết yêu thương, không biết đau buồn, không biết kiệt sức. “Tướng quân Joo-doh, đừng hi vọng ta sẽ bước ra ngoài đó, giả vờ như chưa từng có gì xảy ra và tiếp tục sống lay lắt trong khi chẳng ai cần đến mình nữa.” 

Anh không bao giờ quên ánh mắt của Joo-doh đêm đó, ngay khi anh dứt lời. Ngài ta nghiến răng, nhưng thay vì sự giận dữ thường thấy, trong đáy mắt kia chỉ ngập tràn một nỗi sầu muộn khôn cùng. “Tại sao vậy, quân sư Kye-sook? Vị quân sư mà ta biết không phải kiểu người có thể buông xuôi tất cả.”

“Vậy rõ là ngài chưa biết gì về ta cả. Ngài chỉ biết đến vỏ bọc quân sư mà ta thể hiện bấy lâu. Nhưng ta không trách ngài, vì vốn dĩ mối quan hệ giữa chúng ta chỉ dừng ở mức cùng phục vụ đức vua và vương quốc.” Kye-sook mím môi, khoá chặt ánh mắt người kia. Lời tự động tuôn ra, gay gắt, bén nhọn, vỡ nát. “Giờ ta không còn là quân sư nữa. Trách nhiệm cuối cùng đã hoàn thành, người duy nhất ta muốn phò tá cũng đã ra đi. Không có lí do nào để ta tiếp tục, không còn cái đích nào để hướng đến. Ta lẽ ra đã chết ở khu rừng đầy tuyết năm đó… hoặc xa hơn, ở chiến trường trước khi ngài Yu-hon tìm ra. Người như ngài làm sao mà hiểu được tâm trạng của kẻ chỉ có độc một ý nghĩa sống để bám víu vào, trong từng đó năm, và giờ nó đã biến mất?”

Joo-doh chợt vung tay lên. Kye-sook co người, nhắm chặt mắt, chờ cú đấm khủng khiếp từ đối phương – nhất là khi ngài ta đang đeo giáp tay và đang giận điên người. Nhưng anh không hối tiếc vì những gì đã nói. Tất cả đều là sự thật, dù vị tướng quân kia không thể thấu hiểu, không thể tha thứ, không thể chấp nhận đi chăng.

Tuy nhiên, thay vì cú đấm trong dự đoán của vị quân sư, người kia lại cúi xuống, ôm ghì lấy anh.

Trong một nhịp tim đập, Kye-sook ngỡ ngàng đến mức quên hết nỗi thống khổ đang hành hạ anh.

“Tướng quân Joo-doh?” Anh sững sờ hỏi. Anh vừa bảo vị tướng quân chẳng biết gì về mình, nhưng chính anh cũng không biết gì về ngài ấy. Trước giờ anh cứ nghĩ chiến binh nóng nảy, nghiêm nghị và khắc nghiệt này sẽ chẳng bao giờ có những hành động dịu dàng như an ủi hay ôm lấy người khác. Chưa kể hai người họ không quá thân thiết và luôn luôn giữ khoảng cách nhất định.

“Khoan, chuyện gì vậy?” Anh tiếp tục, vì người kia im lặng quá lâu. Anh có thể ngửi thấy mùi men rất nồng ám lấy giáp và áo choàng của vị tướng quân, như thể trước khi đến đây ngài ta đã uống khá nhiều. Anh không muốn nghĩ tới chuyện Joo-doh mượn rượu để quên đi điều gì.

“Ta không giỏi diễn đạt, cũng không giỏi thuyết phục như ngài hay bệ hạ.” Joo-doh hạ giọng. “Nhưng quân sư Kye-sook, làm ơn đừng nói những điều như vậy. Ngài không biết có người sẽ cảm thấy thế nào đâu. Và bệ hạ sẽ nghĩ gì? Bệ hạ chưa bao giờ muốn bất cứ ai chết theo ngài.”

“Ta chỉ nói sự thật.” Kye-sook bắt đầu lấy lại chút bình tĩnh, đủ để không gào lên hay ném vào người kia những lời sắc nhọn. “Ta mệt mỏi rồi, tướng quân. Thực sự mệt mỏi. Sức chịu đựng của ta đã đến giới hạn, trận chiến ấy là ranh giới cuối cùng. Đừng ép ta phải tiếp tục, ta không còn sức để đưa ra mệnh lệnh, để bất chấp tất cả, để tàn nhẫn, hay để nén xuống những nỗi đau đã chất quá dày nữa. Cứ mặc ta.”

“Ta biết.” Người kia siết lấy lưng anh, chặt đến đau buốt.

“Vậy tại sao ngài còn đến đây?”

“Nhưng quân sư, thời thế đã thay đổi. Cuộc đời của chúng ta không còn phải gói gọn trong bốn bức tường cung điện, những âm mưu toan tính và những cuộc chiến liên miên nữa. Ta không có ý ép ngài trở lại làm quân sư hay bất kì điều gì khiến ngài cảm thấy tồi tệ. Chỉ là ta muốn ngài được sống, sống thực sự, và được thấy thành quả những cố gắng bấy lâu của chúng ta.”

“Ý ngài là gì?”

Joo-doh buông anh ra, nhìn thẳng vào mắt anh. “Đi với ta. Ta sẽ chỉ cho ngài thế giới ngoài kia, thế giới mà bệ hạ của chúng ta từng yêu mến. Thế giới nơi khói lửa chiến tranh không còn chạm đến.”

“Một vị tướng quân làm sao có thể tuỳ tiện bỏ trách nhiệm với triều đình mới và Không tộc được?”

“Từ ngày mai… ta sẽ không còn là tướng quân nữa.” Người kia nói nhẹ tênh. “Ta đã từ bỏ vị trí của mình, và được nữ vương Yona chấp thuận. Ta quyết định sẽ rời khỏi đây. Không phải do bốc đồng, ta vốn đã suy nghĩ về chuyện này từ trước trận chiến cuối cùng.”

Kye-sook mở to mắt, không tin vào tai mình. “Chỉ vì một vấn đề nhỏ nhặt thế này thôi sao?” Anh lầm bầm. Anh thực lòng cảm kích sự quan tâm của vị tướng quân, nhưng lòng thầm ước gì Joo-doh để yên cho mình biến mất. Anh không chịu nổi việc phải sống chỉ vì đó là tâm nguyện của người này, hi sinh của người kia. Nhưng chẳng ai chịu buông tha anh, rốt cuộc họ vẫn tiếp tục kéo anh đi cùng ngay cả khi anh đã xin được dừng lại.

“Quân sư Kye-sook, ngài không phải người duy nhất muốn được bỏ lại tất cả sau lưng…” Người đối diện siết tay thành nắm đấm, như thể vừa có một đợt sóng buồn đau nổi lên trong ngài. “Vả lại ta đã hứa.”

“Hứa gì? Và với ai?”

“Ta sẽ nói rõ với ngài sau. Giờ thì chuẩn bị đi. Ngày mai chúng ta sẽ rời cung điện Hiryuu, nếu ngài không quá mệt.” Vị tướng quân quay lưng lại với ngài, nói giọng rõ ràng không muốn tranh cãi thêm. “Nếu ngài từ chối, ta vẫn sẽ lôi ngài đi cùng ta. Thế còn hơn để ngài giam mình nghĩ quẩn ngày này qua tháng khác trong cái chốn ngột ngạt này.”

Tướng quân Không tộc đi vài bước về phía cửa, bỗng sực nhớ. “Xin lỗi vì đã phá cửa phòng ngài. Nhưng ta gõ suốt nửa giờ chẳng thấy động tĩnh gì nên không kiềm chế được.” Ngài ta nói, đoạn khiêng hai cánh cửa lên dựng lại vào khung, tuy không khép kín được nhưng cũng có thể xem là biện pháp tạm thời tránh gió lùa. “Nhớ đấy, sáng ngày mai ta chờ ngài ngoài sân.”

Joo-doh vừa đi khuất, Kye-sook lập tức đổ mình xuống giường, vùi mặt vào gối. Lồng ngực nặng trịch đến không thở nổi. Lại một lần nữa mọi người không cho phép anh được lặng lẽ ra đi. Có gì đó trong ánh mắt của Joo-doh khiến Kye-sook không thể bước ra nhặt con dao rơi ngoài thềm lên. Anh ghét tất cả những chuyện này, ghét trò trêu đùa của số phận, ghét sự bất lực của bản thân, ghét cách Joo-doh tự ý quyết định tất cả một cách chớp nhoáng, ghét cả chuyến đi vô định phía trước mà anh bị ép phải dấn thân vào.

Và cuối cùng, ghét cay ghét đắng thứ cảm xúc mềm yếu vừa dâng lên trong mình. Thứ anh những tưởng mình đã chôn chặt dưới lớp tuyết lạnh năm đó sau cái chết của ngài Yu-hon.

“Kye-sook, ngươi chưa bao giờ chịu ra thị trấn chơi với ta.” Giọng trách móc trong veo vẳng lại từ đâu đó trong miền kí ức, cũng có thể là ngài đang nói với anh ngay lúc này, từ màn tối bên cạnh giường. Quá khứ quyện cùng thực tại, rõ ràng đến mức anh có thể hình dung ra cả dáng điệu và biểu cảm của Soo-won. “Ngươi cứ vùi mình trong phòng đọc sách mãi sẽ mau già cho coi. Có nhiều nơi thú vị lắm, bữa nào chúng ta cùng nhau cưỡi ngựa ra ngoài thành đi, gọi cả ngài Joo-doh đi cùng nữa, dù thể nào ngài ấy cũng sẽ cáu điên suốt dọc đường. Ta sẽ chỉ cho ngươi vài thứ trong sách không có, và sau đó chúng ta…”

“Biết rồi, bệ hạ.” Kye-sook thở dài, đoan chắc lúc sinh thời Soo-won đã nói gì đó với Joo-doh về anh. Đó là lí do vị tướng quân cứ muốn lôi anh khỏi bóng tối bằng được. “Thần… đang lạc lối. Thần thực sự không biết mình là ai lúc này, không biết nên làm gì là tốt, cũng không rõ mình có thoát khỏi cảm giác trống rỗng chỉ bằng một chuyến đi hay không. Nhưng thần sẽ thử, một lần nữa…”