Chapter Text
Mùa xuân có lẽ là mùa bận rộn nhất của những người sống trong dinh vương tử.
Ngoài việc quét tước sắm sửa cho năm mới như mọi nơi khác trên Kouka, họ còn phải đón tiếp đủ mọi vị khách đến từ Ngũ Tộc, hầu hết đều là quan lại quý tộc. Theo thông lệ hàng năm, khách khứa sẽ nán lại từ ba ngày đến nửa tháng, để nhân cơ hội thưởng hoa, vì vùng này có những ngọn núi phủ đầy đào, anh đào, lê và mận. Sau đó, khi khách đã ra về, gia nhân lại phải chuẩn bị hành trang cho vương tử lên đường, bắt đầu những chuyến thăm đáp lễ.
Cứ thế, cả chủ nhân lẫn thuộc hạ hầu như không ngơi tay cho đến gần tiết Thanh minh, cũng là lúc xuân chớm tàn.
Năm nay, đối tượng ở trung tâm của vòng xoáy tất bật ấy là Kye-sook, người vừa trở thành tân khoa năm ngoái, hiện đang kiêm đủ mọi vai trò trong dinh thự, từ cố vấn, học giả, thư ký lẫn quản gia của vương tử. Không giống như trước đây, kể từ ngày anh đỗ ba vòng thi, mọi gia nhân đều thay đổi thái độ, xem anh là chỉ huy của họ và mệnh lệnh của anh cũng gần như mệnh lệnh từ vương tử. Chỉ có nhóm thuộc hạ phục vụ tướng quân Yu-hon lâu năm là vẫn xem Kye-sook như đứa nhóc yếu ớt vô dụng ngày nào, nhưng anh chẳng có thời gian bận tâm về họ.
Vương tử Soo-won vắng nhà suốt sau lễ đón năm mới. Nếu không phải tháp tùng các quý tộc đi ngắm cảnh thưởng hoa, thì cũng là đi thăm họ hàng, rồi chu du khắp Kouka nhằm đáp lễ những vị khách đã chiếu cố ghé qua dinh thự.
Để chuẩn bị cho kế hoạch lớn trong tương lai, họ cần mở rộng càng nhiều mối quan hệ càng tốt. Thành thử mỗi chuyến thăm, mỗi đợt tiếp đón đều không được phép mắc lỗi. Cả Soo-won và Kye-sook đều đang cố gắng hết sức. Kye-sook biết vương tử phải tin tưởng đến mức nào mới giao cho anh, một học giả mười chín tuổi, ở lại quản việc trong dinh thự. Có điều ngoài đem lại động lực, niềm tin đó cũng khiến một người vốn đã hay lo lắng thái quá như anh càng thêm áp lực.
Khó khăn nào rồi cũng đến lúc kết thúc. Đào phai, khách cũng vãn dần. Dinh thự trở lại yên tĩnh dễ chịu, không còn náo nhiệt đông đúc như trước.
Hôm nay, tiễn vị khách cuối cùng rời đi xong, Kye-sook đứng giữa sân, xem lại bảng thống kê chi phí và số lương thực còn trong kho mà gia nhân vừa đưa tới. Đang chăm chú tính toán thì ai đó gõ nhẹ lên vai anh.
Một lần, hai lần. Thấy Kye-sook không phản ứng, người đó bèn vòng lên phía trước, lù lù đứng trước mặt anh, chẳng khác nào một con gấu.
“Ngài Hyoo-ri?” Kye-sook rời mắt khỏi những dãy số chi chít, ngước lên nhìn người hộ vệ kiêm thầy dạy kiếm của vương tử. “Ngài về lúc nào? Lẽ ra phải lên tiếng chứ…” Anh càu nhàu. Sống trong dinh thự từng đó năm, đôi khi Hyoo-ri vẫn làm người khác khó chịu, khó xử, giật mình, bất an vì chẳng bao giờ hé môi nói nửa lời. Kye-sook cũng thuộc dạng âm thầm chỉ lên tiếng khi cần, nhưng anh vẫn chưa đến mức như Hyoo-ri.
Phớt lờ vẻ cáu kỉnh của anh, vị chiến binh chỉ tay ra cổng, nơi chiếc xe ngựa vừa dừng lại.
Kye-sook liền quên phắt bản thống kê trong tay.
Cuối cùng vương tử Soo-won đã về.
Chờ đợi vương tử suốt hai tháng là cảm giác tệ hại nhất trần đời, bởi Kye-sook e ngại những sự cố và rủi ro có thể phát sinh dọc đường. Để không phát điên vì lo lắng, anh ép mình vùi đầu vào công việc. Anh luôn muốn được tháp tùng Soo-won, nhưng thể trạng của anh không thích hợp cho những chuyến đi quá dài, lại di chuyển hết vùng này sang vùng kia trong thời tiết thất thường đầu năm. Cố chấp đòi đi theo chỉ tổ tự biến mình thành gánh nặng của vương tử.
Tấm mành trước xe vừa được cuộn lên, Soo-won đã nhảy tót xuống, chạy ào vào sân. Trên mái tóc vàng hơi rối vì gió hãy còn vương vài cánh đào hồng phớt.
Cậu nhóc đánh mắt một vòng, nhanh chóng phát hiện mục tiêu của mình. Chiếc áo choàng đi đường độn bông có lót lông thú giữ ấm – vì trời vẫn chưa hoàn toàn hết lạnh – khiến cậu trông như một khối lông bông xù lăn thẳng về phía Kye-sook.
“Kye-sook!” Soo-won lao tới, ôm chầm lấy anh thay lời chào, mạnh tới mức người kia suýt thì bật ngửa, nếu Hyoo-ri không lẳng lặng đỡ lấy vai anh. “Kye-sook đây rồi~ Nhớ quá đi~”
“Điện hạ, mừng ngài trở về. Nhưng chúng ta đang ở giữa sân đấy.” Kye-sook nghiêm mặt nhắc nhở, hơi ngại vì vài gia nhân đang chứng kiến cảnh tượng không lấy gì làm nghiêm chỉnh này. Anh không biết họ đều đang cố nén cười, nghĩ đến cảnh hai con mèo dụi nhau sau nhiều ngày không gặp.
“Kye-sook lúc nào cũng vậy hết. Sau hành trình lạnh lẽo dài dằng dặc, ta đã mong được chào đón nồng nhiệt hơn cơ-” Soo-won càng ôm chặt hơn. “Ngài không nhớ ta chút nào sao?”
Cảm thấy trả lời đường nào cũng không xong, người thanh niên chỉ im lặng, cúi xuống ôm đáp lại Soo-won, hơi gượng gạo. Anh vẫn chưa quen lắm với thủ tục chào đón mà vương tử tự đặt ra sau chuyến đi thuyền năm ngoái này.
“Điện hạ, trời đang chuyển gió, không nên nấn ná ngoài trời quá lâu. Thần đã dặn người hầu đốt lò và chuẩn bị bữa trưa cho ngài.” Anh thì thầm, trong khi đám lông xù bông trên áo choàng của Soo-won cọ vào mặt anh nhột không chịu được.
Soo-won gật đầu và buông anh ra. Kye-sook quay sang đám gia nhân, cắt đặt vài thứ, rồi đưa vương tử về tận phòng.
Hai người bước trên khoảng sân gạch phủ đầy xác hoa, tận hưởng giây phút yên bình đầu tiên sau hai tháng dài bận rộn, căng thẳng, xa nhà, và nhất là luôn phải gồng mình giữ lấy chiếc mặt nạ của vương tử và cố vấn ở đúng chỗ, thả lỏng một phút một giây cũng không được. Đối với Soo-won và Kye-sook, từ khoảnh khắc này trở đi mùa xuân mới thực sự bắt đầu. Sau khi cư dân khắp Kouka đều đã nghỉ ngơi vui chơi thoải mái, giờ mới đến lượt họ được nghỉ.
“A~ Được về nhà vẫn là tuyệt nhất.” Soo-won vươn vai, duỗi những thớ cơ tê mỏi sau bao ngày tù túng trong xe ngựa xóc nảy. “Chỗ này chẳng thay đổi gì hết.” Cậu nhóc đặt tay lên gốc liễu bên hiên, nói bằng giọng điệu của một ông lão xa quê mấy chục năm cuối cùng cũng được quay về.
“Ngài mới đi có hai tháng thôi mà, điện hạ.” Kye-sook nhắc.
“Nhưng cảm giác dài bằng hai mươi năm ấy. Cũng bõ công, ta đã thu được một số thông tin quan trọng, và mở rộng quan hệ được với nhiều quý tộc hơn. Đa phần họ đều bất mãn với triều đình hiện tại, nên cũng dễ nói chuyện.” Vương tử vừa săm soi những chậu mẫu đơn mới nở vừa nói, rồi ngước lên nhìn anh, một tia tinh quái nháng qua đôi mắt xanh biếc. “Cảnh không đổi, nhưng người có đổi. Kye-sook có khác một xíu xiu.”
“Thần khác?”
“Có uy hơn.” Soo-won cười toét đến mang tai. “Kye-sook cai quản gia nhân như quân sư quản một đội quân vậy. Mọi kế hoạch đều được ban bố rõ ràng và hiệu quả. Khi đi, ta yên tâm rằng tất cả sẽ suôn sẻ một khi có ngài ở đây. Quả nhiên Kye-sook đã làm rất tốt.”
Kye-sook ngoảnh đi, đưa tay vuốt vài lọn tóc ra phía trước, cố giấu hai vành tai đang dần đỏ lên của mình. Một nỗ lực vô vọng, bởi anh thừa biết chẳng biểu cảm nào qua nổi mắt Soo-won. Nhưng thà thế còn hơn là không làm gì. “Điện hạ quá lời rồi. Thần chỉ…”
Nhưng trước khi anh kịp nói mấy lời khách sáo, Soo-won đã chạy biến vào phòng.
Khẽ nhún vai, người thanh niên theo sau vương tử, không quên khép chặt cửa đề phòng gió lùa. Không khí trong phòng ấm hơn hẳn so với ngoài trời, nhờ có lò sưởi ở góc phòng và bếp than để đun nước pha trà. Năm nay đợt lạnh kéo dài hơn thường lệ. Đã qua giữa xuân nhưng vẫn có vài ngày trời chuyển rét và đổ tuyết nhẹ - những bông tuyết cuối cùng, chỉ như những hạt mưa phùn trắng xốp, tan biến khi còn chưa chạm đất.
“Kye-sook, nhìn này.” Soo-won lôi từ trong áo choàng ra một hộp gỗ buộc bằng dây đỏ, lớn bằng hai cuốn sách, trịnh trọng đặt lên sàn. Đôi mắt xanh biếc hấp háy nhìn lên anh, đầy mong chờ.
“Cái gì đây?” Người thanh niên nhướng mày.
“Quà cho ngài. Đúng hơn là quà cần được thưởng thức càng sớm càng tốt. Những món quà có thể xài dần khác ta đã nhờ chuyển đến phòng ngài rồi.” Soo-won mỉm cười, giật giật tay áo anh. “Nào, mở ra đi.”
“Điện hạ, ngài trở về bình an là được, việc gì phải mua quà cho thuộc hạ như thần.” Kye-sook chạm nhẹ vào nút thắt hình hoa tám cánh trên hộp, định từ chối nhưng không đành lòng. Thông thường, mỗi khi đi du hành, Soo-won thường đem về cho anh giấy bút hoặc những cuốn sách cổ quý hiếm. Nhưng chưa từng có món nào “cần được thưởng thức sớm” kiểu này.
Nhìn vẻ háo hức đứng ngồi không yên của cậu nhóc, vừa buồn cười vừa đáng yêu, tâm trạng lại đang tốt nên Kye-sook bèn nảy ra ý tưởng trêu cậu một chút.
“Để thần đoán thử.” Người thanh niên bỏ tay khỏi hộp. “Chắc là…”
“Khônggg đoán-“ Soo-won lắc đầu quầy quậy. “Ngài làm ơn mở ra đi, mở ra ngay đi, ta chịu hết nổi rồi.”
“Lần đầu tiên thần thấy có người tặng quà còn sốt ruột hồi hộp hơn cả người được tặng nữa.” Kye-sook thở dài, cẩn thận tháo dây buộc và nhấc nắp hộp ra.
Hộp chia làm sáu ngăn, mỗi ngăn đựng một loại bánh ngọt khác nhau, có kèm cả trái cây khô và thạch đậu ngọt, trang trí bằng hoa nhài, hoa cúc và lá anh đào. Hương thơm dìu dịu lan toả khắp phòng.
“Để ăn kèm với trà đấy, trà xanh hoặc trà hoa quế đều được. Món đặc biệt chỉ bán vào mùa xuân của tiệm bánh lâu đời nhất vùng, số lượng cũng có hạn. Khi ta đến chỉ còn có ba hộp kiểu này.” Soo-won giải thích. “Mùa xuân thưởng trà ngắm hoa tất phải có bánh ngọt đi cùng. Kye-sook lại hay căng thẳng, lâu lâu cũng nên ăn chút đồ ngọt để cải thiện tâm trạng.”
“Điện hạ, thế này là hơi quá rồi…” Kye-sook có thể ước chừng giá của thứ này, căn cứ vào sự tinh xảo của cả chiếc hộp được làm thủ công lẫn hương vị của từng chiếc bánh bên trong. Hơn nữa nơi đó lại là cửa hàng lâu đời chỉ bán ra số lượng có hạn.
“Kye-sook đừng nghĩ nhiều. Năm ngoái ta làm hỏng hết mọi kế hoạch mừng ngài thi đậu, đây là quà đền bù. Cũng để cảm ơn việc ngài tổ chức trung thu trên thuyền cho ta nữa.” Vương tử nhoẻn cười. “Tướng quân Joo-doh sẽ có quà cảm tạ riêng, ta sẽ trao tận tay ngài ấy sau.”
“Thần rất cảm kích… nhưng ngài biết thần không ăn được quá nhiều đồ ngọt mà.” Kye-sook lẩm bẩm. “Làm sao thần xử lí hết chừng này.”
“Thế để ta ăn phụ ngài một phần.” Soo-won, người vốn nghiện đồ ngọt, luôn sẵn sàng cho tình huống này. “Ăn trưa xong chúng ta xử luôn đi. Từ khi mua đến khi về tới dinh thự cũng gần hai ngày, ta e không ăn sớm thì hỏng mất.”
Đúng lúc đó, người hầu mang bữa trưa tới phòng. Họ gõ cửa và đánh tiếng xin phép vào.
“Điện hạ mau thay áo đi. Để thần giúp ngài cho nhanh.” Kye-sook hối. Tuy nói là không quá thích đồ ngọt, nhưng anh vẫn có chút lưu luyến không muốn đóng nắp hộp lại, vì đây là món quà đặc biệt của vương tử, nhắc anh nhớ lại những gì đã xảy ra vào mùa thu năm ngoái. Kí ức ngọt ngào và hiếm hoi như chính những chiếc bánh này vậy.
Giúp Soo-won xong, trong khi vương tử buộc lại tóc, Kye-sook trở ra nhắc ấm nước đang sôi khỏi bếp than, bắt đầu hãm trà. Người hầu cẩn trọng bày đồ ăn lên chiếc bàn thấp chính giữa phòng – những món còn mang dư âm của lễ đón năm mới như súp thịt bò cay, sủi cảo, gà nướng và kim chi, tất cả đều còn nóng sốt.
Từ ngày phu nhân Yong-hi mất còn Min-soo vào phục vụ trong cung điện, Kye-sook luôn dùng chung bữa trưa và bữa tối cùng Soo-won. Bữa sáng thì hiếm hơn, tuỳ vào lịch sinh hoạt của hai người, bởi Kye-sook luôn dậy sớm làm sớm hơn vương tử tận hai giờ. Gia đình từng quây quần bên chiếc bàn lớn trong sảnh ngày xưa giờ chỉ còn hai người họ. Bất chấp cách biệt địa vị, Kye-sook cảm thấy không thể để vương tử dùng bữa một mình, trong căn phòng rộng thênh thiếu hơi người.
Bên ngoài, từng mảng mây xám nặng trĩu kéo đến phủ đầy trời. Gió lạnh thổi mạnh dần, cuốn theo từng đợt cánh hoa đào. Cả thế giới nhoà đi sau màn mưa bụi. Mưa không lớn, nhưng nếu ngấm vào người cũng đủ rét run.
Giữa tiết trời ảm đạm này, không gì yên bình hơn cùng ngồi trong căn phòng quen thuộc bên lò lửa cháy bập bùng, nhấp từng ngụm trà nóng, hớp từng muỗng canh ấm thơm phức, nghe vị chua cay của kim chi lan trên đầu lưỡi, giữa lúc gió lạnh rít qua mái hiên và mưa xuân lặng lẽ đổ bên thềm.
“May quá, về trễ một chút là bị trúng mưa mất tiêu.” Soo-won nói, nhìn ra cửa. “Lúc ta đến Saika, nhiều nơi băng hãy còn đóng dày, phải dừng lại mấy lần vì trời bất ngờ đổ mưa tuyết. Lúc đó chỉ mong có một ấm trà nóng hoặc một bát súp cay thôi.”
“Điện hạ vất vả rồi.” Kye-sook nói, gắp thêm đồ ăn cho vương tử, rồi quạt bếp than cháy đỏ, xua đi cái lạnh len lỏi từ bên ngoài vào. “Cả một chặng đường dài. Ăn xong điện hạ nên nghỉ ngơi. Mọi chuyện cứ để thần lo.”
“Không, ta còn khoẻ lắm. Kye-sook mới là người cần đi ngủ ngay. Quầng thâm dưới mắt ngài nhìn như bôi mực vậy, Kye-sook thiếu ngủ bao lâu rồi?” Soo-won ái ngại nói, nhìn vẻ tiều tuỵ thấy rõ của người đối diện.
“Thần ổn. Thiếu ngủ một chút có là gì.”
“Tay ngài sao thế?” Soo-won đột nhiên hỏi, rướn người về phía trước. Theo phản xạ, Kye-sook rụt tay lại, nhưng cú chộp của cậu nhóc còn nhanh hơn, chẳng khác nào vuốt chim ưng. Cậu nhíu mày, kéo hẳn tay áo thụng của anh lên, nhìn xuống những vết thương đã lành một phần và những vết bầm đã ngả sang màu vàng đậm. “Kye-sook, đây là…”
“Không có gì đâu, điện hạ. Lỗi do thần bất cẩn.” Kye-sook vội nói trước khi Soo-won kịp sáng tác ra câu chuyện bi thảm nào đó. “Chỉ là sơ ý va đập vào đâu đó.”
Kye-sook có một thói quen không hay lắm, là khi chìm trong những mối lo lắng và áp lực, anh sẽ chẳng để ý gì sất đến xung quanh. Dù sấm nổ ngay bên tai hay trước mặt là vực thẳm cũng không biết. Bởi vậy, sau hai tháng hỗn loạn, không chỉ trên tay mà trên người anh đã có không ít vết cắt, vết xước và vết bầm, hầu hết đều đến từ những phút lơ đãng bất cẩn. Chính anh cũng không biết mình bị lúc nào, cho đến khi có ai đó nhắc nhở. Lẽ ra không nên để vương tử nhìn thấy, nhưng anh đã vô tình mất cảnh giác.
“Ngài chẳng…” Soo-won ngước lên.
“… lo gì cho cái thân mình hết.” Kye-sook cắt ngang. Anh đã nghe câu này dễ cả hàng trăm lần từ Soo-won, Joo-doh và cả các thái y. “Điện hạ, ngài để ý làm gì, mấy vết này lành nhanh thôi, đâu phải vết thương nặng.”
“Vấn đề không nằm ở chỗ nhẹ hay nặng.” Soo-won thấy hơi bất lực, lẫn với một chút cáu giận vì thái độ bất cần của người kia. “Ta giao cho ngài cai quản dinh thự, nhưng không bảo ngài tự hành hạ bản thân. Xước xát là một chuyện, lỡ đâu mất thăng bằng ngã cầu thang, rơi lầu hay va đập trúng chỗ hiểm thì thế nào?”
“Điện hạ, thần tạm thời chưa nghĩ đến mấy chuyện ghê rợn như thế. Thôi, lần sau thần sẽ cố gắng chú ý.” Kye-sook nói giọng không muốn tranh cãi thêm, dù trông Soo-won đúng là rất muốn tranh cãi thêm. Anh bắt đầu thấy lâng lâng buồn ngủ, do bầu không khí ấm áp trong phòng và do được thả lỏng sau hai tháng căng thẳng. Nhưng nếu bảo muốn chợp mắt ngay lúc này thì có khác nào thừa nhận bản thân thiếu ngủ, vương tử sẽ lại lo lắng nhắc nhở mãi.
“Phải rồi, hình như ta vẫn còn thuốc mỡ trị thương trong phòng.” Soo-won đột nhiên nhớ ra. “Kye-sook chờ chút. Bôi thuốc vào, vết thương sẽ lành nhanh hơn, cũng không để lại sẹo.”
“Không cần đâu, điện hạ…”
Nhưng Soo-won thoắt cái đã biến mất vào gian phòng ngủ kế bên. Kye-sook thở dài, chống tay lên bàn, nghe tiếng lục lọi ngăn kéo vang lên một hồi lâu. Có vẻ như vương tử không nhớ chính xác mình cất đâu. Hậu quả của thói quen luôn bày bừa đồ đạc khắp phòng.
Cơn buồn ngủ thường tấn công dữ dội hơn khi người ta ở một mình, trong không gian yên tĩnh chỉ có tiếng than cháy lách tách và tiếng mưa nhỏ giọt trầm trầm. Cố kìm một cái ngáp dài, Kye-sook bắt đầu nghĩ đến chuyện lẳng lặng rời đi. Anh không chắc mình còn tỉnh táo được quá lâu, mí mắt đã nặng trịch chực khép lại mấy lần. Nhưng anh không thể thất lễ với vương tử, đây lại còn là lần đầu tiên sau hai tháng trời họ dùng bữa chung…
Độ mười phút sau, Soo-won cuối cùng cũng tìm ra lọ thuốc mỡ để trên giá sách, vì bị mấy cuộn giấy che khuất nên cậu không nhìn thấy ngay từ đầu. Đúng là tốn bao nhiêu phút lục tìm khắp các ngăn tủ. Quyết định sẽ dọn dẹp bãi chiến trường trong phòng sau, cậu nhóc hớn hở đem lọ thuốc ra. “Kye-sook, để ngài chờ lâu, chỉ vì…”
Soo-won kịp thời ngưng lại, trước khi giọng cậu đánh thức người kia.
Cậu nhóc rón rén tiến tới, nhìn xuống người đang nằm trên thảm, mặt quay vào gầm bàn. Ngài ta đã thiếp đi luôn trong lúc chờ cậu, chắc là mệt mỏi lắm rồi. Quả là ngàn năm có một, vì trước giờ Kye-sook vẫn âm thầm giữ khoảng cách, chẳng bao giờ tự nguyện ngủ lại phòng cậu. Chỉ có cậu hay đến phòng ngài ta chơi rồi (cố tình) ngủ quên thôi.
Soo-won thấy hơi lo, bèn thử kiểm tra nhiệt độ. Cậu thở phào vì người kia không ốm sốt gì, hơi thở rất đều, cũng không tỏ ra khó chịu. Cậu biết năm nay là năm đầu tiên Kye-sook quản lí dinh thự một mình. Hai tháng qua hẳn ngài ta đã chịu đựng không ít áp lực, cũng chẳng kém lúc ôn thi là bao. Không lạ khi ngài ta kiệt sức ngay khi vừa cất được gánh nặng.
Cậu nhóc dọn dẹp bớt chén dĩa, khệ nệ bê cả bàn lẫn bếp than đi cách xa một quãng, đề phòng khi ngủ lỡ đụng trúng. Sau đó cậu ôm một đống chăn và gối ra, làm thành một cái ổ ấm áp giữa phòng, chỉ tiếc không thể trải cả nệm. Cậu cẩn thận đắp chăn cho người kia, cũng muốn kê gối dưới đầu ngài ta, nhưng lại sợ đánh động nên chỉ có thể để gối bên cạnh, chờ ngài ta trở mình.
Có điều trời phụ lòng người, lúc Soo-won đang vui vẻ tháo dây buộc tóc, chuẩn bị chui vào cuộn mình trong chăn bên cạnh Kye-sook, thì ngài ta bất ngờ thức giấc. Vậy là tan tành mất dự định.
“Điện hạ, ngài làm gì thế…?” Kye-sook mắt nhắm mắt mở nhìn xuống đống chăn gối bao quanh mình.
“Ta có làm gì đâu.” Soo-won quay lại, trưng ra khuôn mặt ngây thơ vô tội. “Ta sợ ngài ngủ ngoài này nhiễm lạnh nên xây một cái ổ.”
“Sau đó ngài sẽ lại chui vào ngủ cạnh thần chứ gì?”
“À thì…” Soo-won cười trừ. “Ta cũng thấy hơi buồn ngủ rồi cho nên...”
Lòng chắc mẩm kiểu gì Kye-sook cũng phản đối, cậu nhóc vội soạn sẵn vài câu thuyết phục trong đầu. Nhưng trái với dự đoán của cậu, ngài ta không hất chăn ra, cũng không nhất quyết bảo sẽ về phòng như lẽ ra phải thế.
Thay vào đó, Kye-sook sửa gối rồi nằm xuống trở lại. “Thôi vậy. Xem như hình phạt cho thần vì đã lỡ không kiểm soát được bản thân, ngủ quên mất ở phòng ngài.”
“Kye-sook thật tình-“ Cậu nhóc xụ mặt. “Sao lại gọi là hình phạt. Ngài miễn cưỡng như thế thì ta sao ngủ nổi. Ngài cứ ở đó đi, ta sẽ ra hiên phơi mình tới khi nào đóng băng thì thôi-”
“Rồi, rồi. Vậy xem như đây là ngoại lệ, vì hôm nay vương tử trở về sau hai tháng vắng nhà.” Người kia kéo chăn lên đến tận cổ, nói giọng bất lực. “Rút kinh nghiệm từ vô số lần trước, thần thừa biết mình không có đường từ chối.”
“Khoan đã. Ngài đưa tay đây, ta bôi thuốc cho.” Soo-won chợt nhớ ra.
“Ngài cứ để đó, lát thần tự bôi…”
Giằng co qua lại một hồi, rốt cuộc Kye-sook cũng phải ngồi dậy, cam chịu vén tay áo lên cho Soo-won bôi thuốc. Anh toan càu nhàu không biết vương tử thấy việc này có gì thú vị. Nhưng anh liền khựng lại, khi những ngón tay nhỏ bé rời khỏi vết bầm và vết xước, chầm chậm lần theo từng đường sẹo cũ chạy dài trên cánh tay anh.
“Điện hạ…”
“Ta không muốn Kye-sook bị thương nữa.” Vương tử lặng lẽ nói, nhẹ nhàng xoa lên những vết sẹo đã biến anh thành người tàn phế vĩnh viễn. Đột nhiên trông cậu thật buồn. “Ta không muốn cánh tay này có thêm bất cứ vết sẹo nào nữa.”
“Thần xin lỗi.” Đó là tất cả những gì Kye-sook có thể nói.
“Ngài có muốn thế đâu. Đừng xin lỗi.”
Không khí đột ngột chùng xuống. Chỉ còn tiếng gió rít ngoài hiên lạnh.
Soo-won im lặng chui vào chăn, nằm cuộn sát bên anh. Người thanh niên không xoay lưng lại. Dưới lớp chăn dày, anh nhẹ quàng tay qua vai cậu nhóc, thay cho những cảm xúc không thể thốt thành lời. Lúc trước Kye-sook không hiểu nổi vì sao vương tử hay muốn ngủ chung. Sau này nghe thái y nói anh mới biết khi ở một mình vương tử ngủ rất ít, có vẻ ngài thường xuyên gặp ác mộng. Vậy nên dù vẫn thấy ngượng ngập khó xử, nhưng anh bắt đầu chấp nhận việc ngủ chung mỗi khi Soo-won nổi hứng.
Chẳng ai biết được liệu họ còn có thể yên bình nằm cạnh nhau thế này bao lâu nữa.
“Ấm quá, Kye-sook.” Soo-won thì thào. “Được về nhà là tốt nhất.”
Trong khoảnh khắc, Kye-sook chợt có cảm giác rằng phải lâu, rất lâu nữa anh mới được tận hưởng lại hơi ấm của người bên cạnh. Tựa như một linh cảm mơ hồ, rằng anh sẽ phải xa vương tử, xa cả dinh thự thân quen này một thời gian dài.
Trong chăn ấm sực, song nỗi lo âu lại như dòng nước lạnh ngắt dội lên anh. Kye-sook tự nhủ tất cả là do mình đang mệt và do suy nghĩ quá nhiều. Anh đã thề với ngài Yu-hon rằng sẽ luôn ở bên vương tử, làm bờ vai để cậu có thể tựa vào bất cứ lúc nào. Anh sẽ không bao giờ bỏ Soo-won lại một mình, bất kể vì lí do gì. Trừ phi cái chết chia rẽ họ, hoặc vương tử không còn cần đến anh nữa.
“Chuyện gì vậy?” Soo-won khẽ hỏi. Cậu nhóc vốn rất nhạy bén. “Kye-sook thấy lạnh à? Ngài đang run kìa, để ta vào lấy thêm chăn.”
“Không, không có gì đâu.” Kye-sook cố gắng giữ giọng bình thường. “Ngài ngủ đi, đừng lo cho thần.”
“Nếu có vấn đề, Kye-sook nhất định phải nói ngay với ta.” Soo-won rì rầm, nhích tới sát hơn. “Bằng không ta sẽ thao thức không ngủ nổi, ta sẽ tưởng tượng ra đủ thứ đáng sợ.”
“Chỉ là vài suy nghĩ bất chợt thôi. Nhưng điện hạ, sau này dù chuyện gì xảy ra…” Kye-sook hạ giọng thật thấp. Thốt ra câu này cũng đủ làm tim anh siết lại. “Xin ngài đừng đuổi thần đi.”
“Gì chứ…? Đúng là ngài mệt mỏi quá rồi. Làm sao ta có thể đuổi Kye-sook đi được?” Cậu nhóc đáp ngay, đưa tay vỗ nhẹ vai anh, nhưng không cười. “Sau tất cả, ngài là người duy nhất còn đồng hành cùng ta. Ta từng bảo mình đã quen có Kye-sook bên cạnh. Ta sẽ không buông ngài ra đâu.”
“Thần chỉ mong vậy.” Người thanh niên lặng lẽ đáp, từ từ chìm vào giấc ngủ. “Cảm ơn ngài.”
Soo-won nhìn khuôn mặt nằm nghiêng của người kia một lúc, chạm vào những lọn tóc đen mượt xoã trên gối, biết chắc phải có vấn đề hoặc sự cố nghiêm trọng mới khiến Kye-sook nói những lời u ám kiểu đó. Nhưng nếu ngài ta đã quyết tâm muốn giấu, thì dù gặng hỏi cỡ nào cũng không được.
Vị vương tử nén một tiếng thở dài, khép mắt lại, nghe tiếng mưa gieo buồn bã, tiếng gió đông lay những cành đào trơ trọi trước sân, hoà cùng tiếng củi cháy lép bép trong lò sưởi.
Cậu thậm chí còn không muốn – đúng hơn là không dám nghĩ đến giả định nếu một ngày Kye-sook, người thân cuối cùng của cậu, không còn ở bên cậu nữa.
Mệt đuối người sau hai tháng gồng mình, cả hai cứ thế ngủ một mạch đến tối.
Kye-sook thức dậy trước. Vừa vén chăn ra, anh lập tức rùng mình. Nhiệt độ trong phòng đã hạ xuống thấp hơn lúc trưa. Than đã tàn, lò sưởi cũng tắt từ lâu. Cơn mưa phùn có vẻ đã chuyển thành mưa tuyết nhẹ. Bốn bề tối om vì không gia nhân nào dám vào phòng thắp đèn, sợ quấy rầy hai người nghỉ ngơi.
“Kye-sook… ngài đi đâu đấy?” Soo-won nói giọng ngái ngủ, vẫn giữ nguyên tư thế cuộn tròn như con mèo. “Lạnh quá. Ngủ thêm tí nữa đi.”
“Thần đi nhóm lại lò sưởi, không là chết cóng mất. Vả lại cũng tối rồi, thần không thể để ngài bỏ bữa như lần trước.” Kye-sook đáp, rồi nhìn thấy chiếc hộp gỗ đặt trên bàn. “Điện hạ dậy đi, hình như chúng ta quên xử lí hộp bánh sau bữa trưa.”
“À, phải nhỉ. Do lúc đó Kye-sook ngủ trước mất rồi. Kiểu này không thể không dậy được.” Soo-won duỗi mình vài lần, rốt cuộc cũng chịu chui khỏi chăn, tất cả vì sự nghiệp xử lí bánh ngọt.
Sau khi nhóm lại lò sưởi và thắp hết đèn nến trong phòng, hơi lạnh nhanh chóng bị đẩy lùi. Kye-sook nhờ người mang thêm than đến, lại tiếp tục nhiệm vụ quạt lò nấu nước pha trà. Họ dùng bữa tối cùng nhau, rồi chuyển sang thưởng thức món bánh ngọt danh tiếng kia. Mấy hộp trà hoa quế mua năm ngoái vốn không đáp ứng nổi ba cữ trà mỗi ngày của Kye-sook, đã hết từ cả tháng trước, chưa có cơ hội mua thêm, nên họ đành dùng trà xanh ướp hoa nhài. Vị đắng của trà, dẻo bùi của nhân đậu giã nhuyễn, ngọt thanh của mứt trái cây và thơm ngậy của vỏ bánh hoà quyện vào nhau rất dễ chịu.
Vừa ăn, Soo-won vừa kể cho người kia nghe những câu chuyện cậu thu thập được trong hành trình dài vừa qua, rồi sực nhớ ra một việc khá quan trọng.
“Kye-sook. Có chuyện này ta quên nói với ngài.”
“Chuyện gì vậy, điện hạ?”
“Cũng sắp đến tiết thanh minh rồi. Năm nay ngài đi tảo mộ cùng ta, được không?”
Kye-sook hơi ngần ngừ. Kể từ khi tướng quân rồi phu nhân lần lượt qua đời, chưa năm nào anh cùng vương tử đi tảo mộ. Đám thuộc hạ cũ của ngài Yu-hon vẫn xì xầm rằng anh bất kính và đủ thứ. Chỉ có Soo-won hiểu tường tận lí do, nên chưa bao giờ nhắc nhở anh hay cố gắng kéo anh đi cùng. Năm nay là lần đầu tiên vương tử chủ động yêu cầu.
“Ta biết Kye-sook vẫn còn bận lòng về biến cố năm đó. Nhưng tất cả không phải lỗi của ngài.” Soo-won nói, nhìn thẳng vào mắt anh. “Cha ta có lẽ sẽ rất vui nếu năm nay Kye-sook đến thăm mộ và báo cho người biết mình đã đỗ kì thi chọn học giả hoàng tộc, không phụ lòng người tin tưởng. Cha ta lúc nào cũng muốn thấy Kye-sook trở thành quân sư.”
“Thần hiểu.” Kye-sook cúi đầu. Anh không tin lắm chuyện linh hồn người đã khuất còn nán lại thế gian, và anh cũng không rõ những gì mình đạt được có làm ngài Yu-hon hài lòng chút nào không. Nhưng anh vốn có một quy tắc bất di bất dịch là không bao giờ từ chối yêu cầu của vương tử.
Ngay cả khi anh sẽ phải đối mặt với vô số hồi ức ám ảnh mà bản thân đã cố trốn tránh suốt những năm qua. Anh biết chỉ cần đứng trước mộ tướng quân, cảnh tượng đẫm máu cũng như cảm giác bất lực tột cùng năm ấy sẽ lại trỗi dậy.
“Ta xin lỗi. Ta hiểu Kye-sook thấy khó khăn đến mức nào. Nhưng cũng đến lúc bỏ một phần kí ức lại phía sau rồi, Kye-sook có nghĩ vậy không? Ngài giờ đã là học giả của Không tộc, không nên để quá khứ ngăn cản tương lai rộng mở phía trước.” Soo-won nhích tới, đặt cả hai bàn tay mình lên tay anh, siết nhẹ. “Nếu cảm thấy đối mặt với chúng quá khó khăn, thì hãy nhớ rằng ta vẫn còn ở đây, bên cạnh ngài.”
“Được rồi, điện hạ. Thần sẽ đi.” Kye-sook chỉ nói ngắn gọn. Nếu nói dài hơn, e rằng anh sẽ không kìm được mà bật khóc mất.
***
Sau vài ngày âm u với mưa giăng tuyết đổ, bầu trời tiết thanh minh trải ra quang đãng, xanh lơ không một gợn mây. Những cụm băng tuyết, sương giá còn sót lại nhanh chóng tan chảy dưới làn nắng mùa xuân rực rỡ. Tuy nhiên, nắng vẫn chưa kịp hong khô hoàn toàn con đường núi, nên đôi chỗ còn khá lầy lội khó đi.
Họ xuất phát lúc tờ mờ sáng. Đây không phải một chuyến đi cần vội vàng gấp gáp, thành thử cả Soo-won và Kye-sook đều tranh thủ tận hưởng bầu không khí mát dịu cuối xuân, cũng như quang cảnh đẹp đẽ hai bên đường, từ núi non hùng vĩ ẩn hiện trong sương, những rặng cây lấm tấm lộc non xanh biếc, những hàng hoa lê hoa mận đơm bông trắng xoá cho đến những cánh đồng phủ đầy hoa dại đủ màu.
Năm nay Soo-won chỉ đưa theo một cận vệ là Hyoo-ri. Người thầy dạy kiếm cưỡi ngựa cách họ một quãng, im lặng náu mình trong bóng râm như thường lệ, từ chối mọi nỗ lực gợi chuyện.
“Hai năm qua ngài ấy chỉ luyện cho ta mỗi kiếm thuật căn bản, ta còn chưa được sử dụng kiếm thật nữa.” Soo-won nói với Kye-sook lúc cả hai dừng lại nghỉ dưới một gốc lê cổ thụ và giở cơm nắm ăn đường ra. “Năm nay ta quyết tâm thuyết phục ngài ấy dạy ta kiếm pháp bậc cao hơn. Nhân tiện học thêm một thứ vũ khí khác như cung hay giáo càng tốt. Đao của Thổ tộc trông ngầu đấy nhưng nặng quá.”
“Thần thấy vũ khí tầm xa hợp với ngài hơn. Ngài có thể thỉnh giáo tiễn thuật của tướng quân Thuỷ tộc.” Kye-sook gợi ý. “Mà nói đến kiếm, chẳng phải chúng ta có tướng quân Joo-doh đây sao? Ngài nên xin vài lời khuyên.”
“Tướng quân không chịu dạy ta đâu.” Soo-won lắc đầu, ngoạm một miếng hết nửa nắm cơm. “Ta từng ướm hỏi một lần nhưng ngài ấy từ chối quyết liệt. Ngài ấy nói sẽ suy nghĩ lại chừng nào ta lớn hơn. Ngài ấy không thích những đứa trẻ phải dùng vũ khí và ra chiến trường quá sớm, bởi quân Không tộc ngày xưa từng… Ta xin lỗi, Kye-sook, ta không nên nhắc tới chuyện đó. Tóm lại, chừng nào ta còn ‘bé như cái kẹo’ như lời tướng quân Joo-doh nói, thì chừng đó ngài ấy còn muốn ta tránh xa cung kiếm.”
“Thần cũng nghĩ ngài tập kiếm hơi sớm. Chắc ngài Hyoo-ri cũng chung tư tưởng, nên ngài ấy mới cho ngài luyện căn bản với kiếm gỗ mãi.” Kye-sook lặng lẽ nói, nhìn xuống hai cánh tay mình, nghĩ đến những vết sẹo dưới lớp vải áo. “Dù có kĩ thuật và phản xạ tốt đến đâu, thì trẻ con vẫn là trẻ con, thể lực không bao giờ so được với chiến binh trưởng thành. Mà mọi thứ vũ khí… đều được chế tác với tiêu chuẩn dành cho người trưởng thành.”
“Kye-sook.” Soo-won nhìn theo hướng mắt anh. Quên mất tay mình đang dính mấy hột cơm dẻo, cậu rướn tới chạm khẽ lên tay người kia. “Ta biết. Nhưng ta muốn thuần thục mọi thứ càng sớm càng tốt. Có thể sau này ta không có nhiều thời gian.”
“Điện hạ đừng nói vậy.” Kye-sook nghẹn giọng, nghĩ đến nguy cơ của căn bệnh truyền đời luôn treo lơ lửng trên con đường phía trước.
“Nên sẵn sàng cho những tình huống xấu nhất. Chẳng phải đó là một trong những quy tắc khi chỉ huy quân đội sao?” Soo-won mỉm cười nhẹ tênh, ngước lên tán hoa lê trên đầu, dõi theo lũ ong đang rù rì giữa những lớp cánh hoa mềm mại. “Dù sao đi nữa, ta vẫn muốn tận hưởng từng giây từng phút của cuộc sống này, và trải nghiệm mọi thứ trong khả năng. Kye-sook đừng quá bận lòng. Mùa hoa tươi đẹp đến đâu rồi cũng có lúc phai tàn.”
Kye-sook cảm thấy một nỗi sầu se sắt xen lẫn uất nghẹn như tàn phá trong mình. Nếu không phải họ đang ngồi bên đường cái và Hyoo-ri đang chăm chú quan sát, anh đã quay sang ôm lấy cậu nhóc. Trước đây Soo-won từng nói những lời gần giống vậy, và thiếu niên tàn tật mười lăm tuổi lúc đó chỉ có thể rơi những giọt lệ tuyệt vọng. Song trong hiện tại, vị tân khoa mười chín tuổi đã bắt đầu có những hướng đi khác thay vì khóc than.
Vương tử nói đúng, từng giây từng phút đều vô cùng quý giá.
Anh sẽ trân trọng quãng thời gian được ở bên Soo-won, sẽ đồng hành cùng cậu, cống hiến mọi thứ mình có cho đại nghiệp của cậu, đến khi nào số mệnh không cho phép nữa.
Sau quãng nghỉ ngắn, họ tiếp tục lên ngựa, thẳng tiến đến ngọn đồi cách đó chừng nửa dặm. Thung lũng lòng chảo dưới chân đồi và một phần sườn Tây là nghĩa trang của dân thường, nhưng khu rừng trên đỉnh đồi vốn thuộc quyền sở hữu của tướng quân Yu-hon, lúc sinh thời ngài thường đến đây dạo mát hoặc săn bắn. Thể theo di nguyện, họ chôn cất ngài, rồi sau đó là phu nhân của ngài bên bìa rừng, nơi được tán cổ thụ che chắn, từ đó có thể bao quát cả đồng bằng xanh ngút bên dưới lẫn rặng núi trải dài phía xa.
Vì là tiết thanh minh nên khá đông người đến tảo mộ trong nghĩa trang, giúp nơi này bớt đi vẻ hiu quạnh u ám thường nhật. Tiếng khấn vái lâm râm theo gió đưa lại. Giữa những hàng bia mộ cả cũ lẫn mới, đâu đâu cũng thấy có người đang lau rửa bia, nhổ cỏ dại, trồng hoa, quét tước, hoá vàng. Có nơi kéo cả gia đình, cũng có người chỉ đến một mình.
Ba người buộc ngựa ở một gốc cây bên rìa nghĩa trang. Hyoo-ri định đi theo, nhưng Soo-won bảo ngài ta nên ở lại trông ngựa. Đồi không cao lắm, người đứng dưới có thể dễ dàng quan sát mọi động tĩnh trên đỉnh, nếu có gì Hyoo-ri sẽ phát hiện ngay.
Cậu nhóc ôm hai bó hoa cúc lớn cắt từ hoa viên, vốn do cậu tự trồng, còn Kye-sook xách chiếc thùng gỗ nhỏ đựng bình nước, giẻ lau và hai bó hương. Họ thong thả men theo con đường lát đá quanh co chừng mười phút thì lên đến đỉnh đồi.
“Mệt không, Kye-sook?” Soo-won hỏi ngay.
“Thần vẫn ổn.” Người thanh niên đáp, thầm nguyền rủa cơ thể không được khoẻ mạnh lắm của mình, để lúc nào vương tử cũng phải lo lắng.
Cụm rừng trên đỉnh đồi giống như một thế giới tách biệt, hoàn toàn yên tĩnh, cô tịch, phảng phất chút u sầu thường thấy ở những khu rừng già cỗi. Nền đất phủ một lớp lá khô tích tụ qua không biết bao nhiêu mùa thu. Tán rừng quá dày nên cả sương giá lẫn ánh nắng đều không len qua được. Không gian nồng mùi lá mục, nhựa cây, cỏ ướt và hương trầm.
Soo-won và Kye-sook không phải những vị khách đầu tiên.
Khi đến chỗ hai ngôi mộ nơi bìa rừng, họ nhận thấy có người đã tới trước quét lá rụng, lau chùi bia mộ và làm cỏ sạch sẽ. Hẳn người đó mới rời đi không lâu, hương cắm trong bát hãy còn cháy dở. Khói hương vấn vít trong không gian như một dải lụa trắng thơm ngát.
Không có dấu vết nào giúp Soo-won đoán ra người đó là ai. Cha cậu lúc sinh thời quen biết rất rộng, không ít binh lính ngưỡng mộ người. Hoặc cũng có thể là họ hàng đằng ngoại. Nhưng dù là ai, người đó cũng như tất cả những người đến tảo mộ hôm nay, đã lưu lại không gian một nỗi tiếc nuối phảng phất như sương. Không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng vẫn có thể cảm nhận được bằng cả trái tim lẫn thân thể.
Soo-won và Kye-sook đặt hoa cạnh hai tấm bia rồi đốt hương, vái lạy theo đúng nghi thức. Lòng mỗi người đều chất chứa những ưu tư riêng, những nỗi sầu muộn khắc sâu như dao cứa, những kí ức mà nếu được họ chỉ muốn xoá sạch khỏi tâm trí.
Kye-sook bất giác liếc sang vương tử. Sau màn khói trầm nghi ngút, khuôn mặt của cậu nhóc trông nghiêm nghị khác hẳn thường ngày, một vẻ nghiêm nghị cứng ngắc, tăm tối, lạnh lẽo như đá tảng, rất khó dò ra cậu đang nghĩ gì.
Anh chợt nhớ rằng vào một đêm giông gió rất lâu về trước, ngay tại nơi này, vị vương tử mới chín tuổi đã ra lệnh quật mộ cha mình để khám nghiệm. Những thuộc hạ đi cùng kể lại rằng từ đầu chí cuối cậu không hề ngoảnh đi, còn tự mình kiểm tra thi thể biến dạng nát bươm kia mà không run tay lấy một lần. Họ tán dương sự táo bạo và dũng cảm của cậu…
Về phần mình, khi nghe kể, Kye-sook chỉ thấy đau đớn. Những kẻ tán dương ấy không hề hiểu cảm xúc thực sự của Soo-won. Cậu nhóc phải đưa vai gánh vác trách nhiệm cha mình để lại, có trĩu nặng oằn người cũng không được phép kêu than hay để lộ sự mệt mỏi sợ hãi. Nếu Soo-won không đứng ra nhận lấy vị trí trụ cột ấy, nếu cậu không tỏ ra kiên cường mạnh mẽ, chắc chắn cả dinh thự sẽ loạn lên và đám thuộc hạ cũ sẽ bỏ đi hết.
Kể từ ngày đó, cho đến tận lúc này, cậu nhóc bên cạnh anh vẫn đang tiếp tục chịu đựng gánh nặng không thể san sẻ cùng ai. Chẳng những không nhẹ bớt, nó còn mỗi ngày một tăng thêm, và sẽ chỉ chấm dứt khi người kia giã từ trần thế.
Nói cách khác, Soo-won sẽ dành cả đời mình để gánh vác thứ di sản cay đắng từ Yu-hon.
Cả đời.
Mà cuộc đời của những người mang trong mình dòng máu của vua Hiryuu, có bao dài.
Giá như năm đó anh có thể vung kiếm bảo vệ ngài Yu-hon. Giá như năm đó tướng quân chọn một chiến binh khác tháp tùng mình. Giá như ngài ấy còn sống, Soo-won sẽ có một cuộc đời khác. Giá như…
Tất cả, đều là giá như.
Nỗi đau quen thuộc nghẹn lên cổ, làm tắc nghẽn cả hơi thở.
“Kye-sook.” Bàn tay nhỏ bé vươn tới, xuyên qua màn mây đen kịt đang vây chặt anh, nắm lấy tay anh, đan những ngón tay vào nhau.
Tay vương tử lúc nào cũng ấm.
“Ta ở đây. Bình tĩnh.” Soo-won khẽ nói. “Không sao. Không sao đâu. Thở ra đi.”
Người thanh niên từ từ lấy lại nhịp thở bình thường. Tầm nhìn trước mắt từ từ rõ ràng trở lại, cơn đau thắt nơi cổ họng và lồng ngực cũng dịu đi. Kye-sook sực nhận ra nãy giờ mình vẫn đang cầm bó hương cháy rực, đã cháy đến gần nửa, khói bốc ngùn ngụt. Anh vội vàng dập lửa, cắm mạnh vào bát hương trước mặt. Da anh bỏng rát ở những chỗ gần lửa quá lâu.
“Ngài thấy sao rồi?” Soo-won lo lắng hỏi, không rời mắt khỏi nhất cử nhất động của anh.
“Thần ổn. Điện hạ đừng lo.” Kye-sook trấn an.
“Ta mới thay ngài báo tin thi đỗ cho cha mẹ ta. Hẳn là họ rất vui.” Vương tử cười nhẹ, siết lấy tay anh. “Đừng suy nghĩ nhiều quá.”
“Thần không nghĩ họ sẽ hài lòng. Thần vẫn chưa làm được gì nhiều.” Kye-sook lặng lẽ nói, cúi mặt xuống. “Nhưng cảm ơn điện hạ.”
Có lẽ là do khói hương, hoặc do gió, nên cả mắt lẫn sống mũi anh đều đang cay nhức lên. Những giọt lệ nóng bỏng đã ứa ra khoé mắt, chực rơi xuống bất cứ lúc nào, may mà có tóc mái che khuất.
Hai người ngồi lặng bên nhau, nghe gió thổi đìu hiu qua trảng rừng vắng hơi người, trong cái lặng thinh của vô vàn nỗi niềm đè nặng lên hai trái tim nhỏ bé. Soo-won vẫn chưa bỏ tay anh ra, làm Kye-sook có cảm tưởng chính cậu nhóc cũng cần một bàn tay nào đó, một sự đồng hành nào đó, để neo bản thân mình lại.
Họ chờ đến khi hương tàn hẳn mới đứng dậy thu dọn, rồi lặng lẽ rời khỏi đỉnh đồi, bỏ lại sau lưng những lời khấn nguyện và những dòng cảm xúc chẳng biết có đến được với người đã khuất hay không.
***
“Kye-sook, đi ngắm hoa đào đi.” Soo-won lên tiếng khi xuống đến chân đồi. Cậu chỉ tay về hướng Đông, nơi có một mảng hồng rực nổi lên giữa nền trời xanh ngắt. “Rừng đào bên kia chưa tàn hết. Phải đi ngắm hoa mới trọn vẹn mùa xuân.”
“Chẳng phải ngài đã dành cả tháng đưa đám quý tộc đi thưởng hoa từ núi này sang núi nọ đó sao?” Kye-sook ngạc nhiên hỏi.
“Không, đó không thể gọi là ngắm hoa đúng nghĩa. Gọi là tra tấn thì đúng hơn.” Soo-won lắc đầu quầy quậy. “Ngắm hoa cũng như uống trà, phải được thong dong tận hưởng, bên cạnh chỉ cần một người thân thiết là đủ.”
Kye-sook gật đầu, biết đây là tín hiệu cho biết anh không còn đường từ chối. Từ khi sống ở dinh thự, anh chưa từng đi ngắm hoa mùa xuân. Năm đầu tiên là do vết thương, hai năm tiếp theo vùi đầu vào học hành, và năm ngoái thì do vòng thi đầu tiên tổ chức ngay sau tiết thanh minh vài ngày.
Vậy là họ lên ngựa, thẳng hướng rừng đào. Dù còn cách xa một quãng, gió núi đã thổi xuống gieo lên vai họ những cánh hoa mong manh hồng phớt, còn tiếng suối róc rách vẳng đến chào đón. Kye-sook nghe người bên cạnh cao hứng ngân nga khe khẽ. Bầu không trong trẻo và tĩnh lặng, ngát hương núi rừng mùa xuân, khiến người ta bâng khuâng như say rượu, say thứ men ướp hương đất trời chỉ những tháng ngày tươi đẹp đầu năm mới có.
“Đến đây được rồi.” Soo-won lên tiếng, xuống ngựa ở một triền dốc thoải có những thân đào cổ thụ mọc xen với anh đào và mơ.
Trong khi đào trên núi đã tàn khoảng bốn phần, thì nơi này hoa vẫn đang ở độ mãn khai. Có lẽ do ở góc khuất nên hoa nở muộn hơn những nơi khác. Những mảng màu hồng thắm, hồng phớt và trắng ngần đan xen vào nhau, hệt như những đám mây lộng lẫy buổi hoàng hôn sà thấp trên đầu.
Họ thả cho ngựa gặm cỏ tự do, rồi cùng ngồi xuống dưới gốc đào lớn nhất. Thảm cỏ quanh gốc trải ra mát rượi, êm mượt như nhung, điểm vài cụm hoa dại tím nhạt. Gần đó có một dòng suối nhỏ nước trong vắt len lỏi giữa những thân cỏ dại, có lẽ là một nhánh của dòng suối mẹ đang reo vui trên sườn núi kia.
Hương hoa đào hoà cùng hương cỏ tươi ngai ngái bốc lên theo nắng trưa, chờn vờn quanh họ như một giấc mơ huyền ảo.
Gió thoảng qua, và một trận mưa cánh hoa gieo lả tả, lung linh trong nắng tựa hàng nghìn mảnh hồng ngọc và bạch ngọc.
Soo-won nằm hẳn xuống cỏ, đầu gối trên hai cánh tay, nhìn lên một trời hoa đào bung nở. Kye-sook lặng lẽ ngồi tựa lưng vào gốc đào, để những cánh đào mỏng tang vương đầy trên tóc và vạt áo mình.
Được bao bọc trong cái thanh tĩnh của thiên nhiên, nơi góc rừng hẻo lánh chỉ có tiếng lá và tiếng suối, mọi nỗi niềm ngoài thế giới thực tạm thời không thể theo họ vào không gian tách biệt này được.
Tưởng như họ có thể giữ nguyên tư thế ấy đến chiều, nếu Soo-won không đột nhiên cất tiếng. “Kye-sook, ở đây có rau dại ăn được này.”
Kye-sook sực tỉnh khỏi giấc mơ chớp nhoáng, lập tức quay sang cằn nhằn. “Điện hạ, ngài phá không khí vừa thôi.”
“Ta không cố ý.” Soo-won lăn người qua chìa cho người kia xem một túm hành dại toả mùi thơm hăng đặc trưng. “Chỉ là ta tình cờ nhớ ra cư dân một số vùng có phong tục lên núi hái rau dại mùa xuân, một kiểu lấy lộc rừng. Nghe nói rau dại mùa xuân có phong vị đặc biệt, nhưng ta chưa được nếm thử lần nào.”
“Thần thì chỉ thấy có nguy cơ ngộ độc.” Kye-sook nhăn nhó cắt ngang, với sự dữ dội của một con mèo xù lông. “Ở đây đâu có ai am hiểu tường tận về thảo dược và độc dược, không cẩn thận lỡ hái nhầm cây độc thì sao?”
“Ta từng đọc qua sách thuốc…” Cậu nhóc chống chế.
“Thần nói không là không. Ngài đọc qua nhưng đã thực hành dưới sự giám sát của thái y bao giờ đâu. Chưa kể thần thừa biết ngài thấy cây gì hay hay lạ lạ đều sẽ tiện tay bỏ vào luôn. Sảy một li đi một dặm, thần không cách nào yên tâm nổi.”
Soo-won tiu nghỉu vì chưa gì đã bị phủ đầu đầy quyết liệt. “Kye-sook tàn nhẫn quá đi, nhưng quả là chính ta cũng không chắc lắm về mảng này. Phải chi có thái y nào đó ở đây… phải chi Min-soo hoặc mẹ cậu ấy, cô Sui-mei vẫn còn ở dinh thự thì hay. Không biết giờ họ sống sao rồi.”
Không ngờ lời cậu nhóc linh ứng hơn họ tưởng.
Họ thấy Hyoo-ri đột ngột rời khỏi bụi cây ngài ta đang náu mình, tay đặt sẵn trên thân kiếm, nhưng rồi lại quay về.
Có người từng nói mùa xuân là mùa của những cuộc hội ngộ ngẫu nhiên, rất hợp với tình huống lúc bấy giờ.
Từ đằng xa, có hai người đang tiến đến, một người dắt ngựa và một người xách theo chiếc làn tre lớn, lưng đeo gùi. Có vẻ họ không đi cùng ngay từ đầu, mà tình cờ gặp nhau ở đâu đó quanh đây.
“Điện hạ Soo-won!” Cả hai đồng thanh ngay khi phát hiện ra cậu nhóc trên triền dốc trước mặt. “Ngài làm gì ở đây?”
“Tướng quân Joo-doh. Và cả cô Sui-mei nữa.” Soo-won thốt lên, trong khi Kye-sook lẳng lặng bước vào vùng bóng tối dưới gốc cây. “Ta vừa tảo mộ xong, thấy bên này đào vẫn còn nở rộ nên sang ngắm hoa một chút.”
“Điện hạ, ngài chẳng bao giờ bỏ được cái thói la cà dọc đường, còn toàn chui vào mấy chỗ hoang vu khuất nẻo. Giờ này ai cũng về nhà ăn trưa cả rồi.” Joo-doh gắt gỏng thay lời chào. “Lỡ đâu gặp phải rắn rết, thú dữ, trộm cướp gì thì sao?”
Sui-mei, mẹ của Min-soo, là thái y từng phục vụ phu nhân Yong-hi, chỉ mỉm cười và cúi thấp đầu. “Điện hạ, lâu không gặp ngài. Ngài lớn nhanh quá. Thần tình cờ gặp tướng quân Joo-doh đến tảo mộ, sau đó ngài ấy đề nghị hộ tống thần một quãng vì đường khá vắng, xung quanh lại toàn rừng núi.”
“Cô đi hái thảo dược sao?” Soo-won hỏi, hướng ánh mắt vào chiếc gùi và chiếc làn trên tay vị thái y.
“Không hẳn thưa vương tử. Thần định đi hái rau dại. Mùa xuân này có rất nhiều thứ rau dại có thể dùng để nấu ăn. Đây là phong tục ở quê thần, tựa như lấy lộc cầu may.” Sui-mei nói, và mắt Soo-won lập tức sáng lên lấp lánh. Quả là cầu được ước thấy.
Không màng đến chuyện rau cỏ, vị tướng quân chợt để ý cái bóng đang lặng lẽ đứng sau lưng Soo-won. “Kye-sook? Cả ngươi cũng đi? Như thế có ổn không?”
Cả Soo-won và Kye-sook, vốn đã quá hiểu vị tướng quân, đều biết ngài ta hỏi “có ổn không” cho cả việc leo đồi và việc đi tảo mộ sau một thời gian dài tránh né.
“Tôi không sao.” Kye-sook lẩm bẩm, trông như rất muốn tan vào bóng tối ngay tại đó.
“Gặp được ngươi ở đây cũng tốt. Ta đang định ghé dinh vương tử trên đường về kinh. Ta có việc cần bàn với ngươi. Khá quan trọng.” Joo-doh chậm rãi nói, nhìn thẳng vào Kye-sook. Có gì đó trong giọng ngài ta khiến anh thấy không yên tâm. Kye-sook đột nhiên ước gì mình có thể lên ngựa chạy đi ngay mà không cần phải nghe Joo-doh nói.
Vị tướng quân quay sang Soo-won. “Điện hạ, ta có thể mượn quân sư tương lai vài phút được không? Ta cần nói chuyện riêng.”
“Được, nhưng chỉ vài phút thôi.” Cậu nhóc nói, có chút hờn dỗi vì không được tham gia. Cậu đang tò mò chết được, rõ ràng phải có vấn đề gì rất hệ trọng thì Joo-doh mới rào đón kiểu này. Hơn nữa nhìn sắc mặt của Kye-sook không được tốt kể từ lúc tảo mộ. Cậu không muốn ngài ta phải nghe tin tức khó chịu nào đó. Vất vả lắm mới có một buổi đi chơi ngắm hoa thoải mái, bị phá hỏng giữa chừng thì thật không hay.
“Điện hạ dỗi cái gì, ta có đem cậu ta đi bán đâu.” Joo-doh nhăn mặt. “Kye-sook, qua đây. Nói nhanh về nhanh, kẻo vương tử của ngươi lại nghĩ linh tinh.”
Kye-sook không còn cách nào khác ngoài đi theo vị tướng quân ra gốc cây cách đó một quãng, ngoài tầm nghe của hai người còn lại.
“Điện hạ, nghe nói cậu Kye-sook vừa trở thành tân khoa năm ngoái phải không?” Sui-mei hỏi, khi hai người kia đã khuất sau mấy gốc đào.
Soo-won như chạm trúng chỗ, quên bẵng cả âm mưu bám theo nghe lén Joo-doh và Kye-sook. “Đúng rồi. Cô Sui-mei biết không, kì thi có tận ba vòng lận, mỗi vòng đều khó khăn đến mức…” Và cậu nhóc cứ thế dành cả nửa tiếng sau để thao thao bất tuyệt tường thuật lại quá trình thi cử gian khổ cực nhọc thế nào, người kia xuất sắc vượt qua ra sao. Tóm lại đây là cơ hội để cậu thể hiện sự tự hào dành cho “người nhà mình”, dĩ nhiên đã thêm mắm dặm muối vài chỗ, cũng như lược gần hết những màn căng thẳng phát điên của Kye-sook suốt kì thi.
Như mọi khi, Sui-mei yên lặng lắng nghe với một nụ cười hiền, thi thoảng đệm vào vài câu khen ngợi. Đối với bà, hai đứa trẻ trong dinh thự thuở ấy cũng chẳng khác nào con trai mình. Chưa kể bà còn chăm sóc Kye-sook suốt từ lúc tay chân ngài ta chưa cử động được.
Nhưng đến đoạn năm ngoái hai người thay phiên nhau đau ốm thì bà không nhịn được nữa. “Điện hạ, nếu có thời gian, lát nữa hai người có thể ghé nhà thần được không? Sau ngọn núi này có đường tắt về đó rất gần. Thần muốn kiểm tra vài thứ và nếu cần thì kê thuốc bổ cho cả hai. Không nên xem thường những trận ốm kéo dài cả tháng như vậy.”
“Được vậy thì tốt quá. Ta cũng đang định đi thăm cô.” Soo-won đáp ngay. May mà Sui-mei không biết họ vừa trải qua hai tháng ròng tất bật, chẳng có thời gian chăm sóc bản thân. Nếu biết, chắc vị thái y sẽ nhờ Joo-doh và Hyoo-ri nhốt họ trong dinh thự mất.
Không muốn xoáy sâu vào chuyện bệnh tật, cậu nhóc bèn đổi chủ đề. “Nãy ta mới nói với Kye-sook rằng không biết mùi vị rau dại mùa xuân thế nào. Ngài ta phản đối dữ dội vì sợ ăn nhầm cây độc. Vừa hay giờ có thái y kì cựu ở đây, ta yên tâm rồi.”
“Cậu Kye-sook phản đối là đúng, điện hạ.” Sui-mei nghiêm mặt. “Nhiều người không am tường về thảo dược đã bị ngộ độc rồi. Năm nào mùa xuân thần cũng phải chữa vài ca. Nhẹ thì tê liệt tạm thời, nặng thì di chứng suốt đời. Nên cẩn thận với những thứ mình không rành.”
“Đáng sợ quá. Ta sẽ nhớ.” Soo-won ngoan ngoãn đáp. “Ta cũng muốn học hỏi thêm. Lát cô cho ta đi hái rau cùng được không?”
“Cũng được, vì thần chỉ tìm quanh mấy triền dốc này cũng đủ đầy gùi, không cần phải lên đỉnh núi.” Sui-mei mỉm cười. Câu chuyện của họ dần chuyển sang chủ đề về lễ mừng năm mới và cuộc sống thường nhật, cũng như tình hình của Min-soo, người đang phục vụ trong cung điện.
Trong khi ở phía bên kia, câu chuyện giữa Joo-doh và Kye-sook lại không được yên bình lắm.
Vị tướng quân đã giữ đúng lời hứa. Chỉ độ mười phút sau, Soo-won thấy hai người họ quay lại. Cậu cố dò biểu cảm của Kye-sook, nhưng ngài ta vẫn giữ vẻ dửng dưng lãnh đạm thường nhật. Có lẽ không phải là chuyện gì quá căng thẳng. Tuy nhiên, có gì đó – mà chính cậu nhóc cũng không biết phải miêu tả thế nào – khá kì lạ. Giống như bầu không khí quanh Kye-sook đã thay đổi một chút… Nó làm cậu có cảm giác giống như một màn sương xám mỏng kéo đến giữa ban ngày vậy.
“Chuyện gì thế?” Soo-won buột miệng hỏi ngay.
“Không có gì đâu, điện hạ. Vài chuyện cá nhân.” Kye-sook đáp, không nhìn cậu.
Mọi người nghĩ Kye-sook u ám khó nắm bắt, nhưng thực ra nếu tiếp xúc lâu ngày sẽ thấy ngài ta rất dễ hiểu. Chẳng hạn như mỗi lần ngài ta nói “không sao”, “không có gì”, “ổn cả” nhưng lại tránh ánh mắt, thì chắc chắn phải hiểu là “có sao”, “có đầy vấn đề” và “cực kì bất ổn”.
Tuy nhiên, Soo-won biết đây không phải lúc truy vấn người kia. Nếu chuyện thực sự nghiêm trọng, kiểu gì ngài ta cũng sẽ tự nói ra khi chỉ có hai người họ.
Vậy là cậu nhóc mỉm cười, giữ nguyên vẻ vui tươi hào hứng mọi khi. “Kye-sook, nghe này, cô Sui-mei cho phép ta đi hái rau dại cùng và mời chúng ta về nhà chơi một hôm. Cô ấy còn hứa sẽ chế biến đủ món từ rau dại nữa cơ~”
“Liệu có làm phiền cô không?” Kye-sook nhìn sang Sui-mei. Ngài ta luôn ngoan hiền nhã nhặn bất thường trước mặt vị thái y này, đến mức người trong dinh thự chưa bao giờ hết ngạc nhiên. Có lẽ vì Sui-mei đã chăm sóc ngài ta suốt một thời gian dài. Kye-sook vốn có một sự tôn trọng đặc biệt xen lẫn biết ơn với các thái y. Nếu không có họ, ngài ta đã chẳng sống được đến giờ.
“Phiền gì chứ, nhà chỉ có một mình ta, khi không có bệnh nhân thì hiu quạnh lắm.” Sui-mei nói. “Cậu Kye-sook giờ đã là học giả hoàng tộc rồi nhỉ. Chúc mừng cậu.”
“Cháu còn phải học hỏi nhiều.” Kye-sook cúi đầu.
“Nhưng học hành làm việc gì cũng vậy, phải để ý đến sức khoẻ bản thân chứ, cả hai người. Khí sắc cậu không tốt lắm, cũng gầy đi nữa. Dạo này mấy vết thương cũ có còn hành không?”
“Thi thoảng trở trời hơi nhức thôi ạ. Cháu vẫn bôi loại thuốc mà hồi đó cô kê cho, nên cũng đỡ.”
“Để lát về nhà ta khám lại, nếu cần thì đổi thuốc.” Sui-mei nói, và Kye-sook gật đầu không phản đối gì. Không thể xem thường những vết thương đã thành tật ấy được. Khi thời tiết thay đổi, chúng có thể gây phiền toái khủng khiếp nếu không được để mắt thường xuyên.
“Thôi, vậy ta về trước đây. Đã có Hyoo-ri hộ tống mọi người. Ta có việc ở cung điện, không nán lại được.” Joo-doh cất tiếng, cắt ngang cuộc đối thoại. Một tay ngài ta đã đặt sẵn trên dây cương. Vị tướng quân nhìn sang Kye-sook. “Chuyện đó nhớ suy nghĩ kĩ rồi hồi âm cho ta sớm.”
“Tôi nhớ rồi.” Người thanh niên lẳng lặng nói. Soo-won bắt đầu nảy ra đủ thứ giả thuyết. Nghe như Joo-doh yêu cầu Kye-sook làm gì đó cho ngài ta… một việc hệ trọng, hoặc nguy hiểm tới mức phải có thời gian suy nghĩ cẩn thận trước khi quyết định.
Joo-doh cúi mình chào vương tử, rồi lên ngựa phi thẳng, chẳng mấy chốc đã khuất biệt. Soo-won thấy hơi tiếc, cứ ngỡ ngài ta sẽ ở lại. Từ lúc Joo-doh trở thành tướng quân bận trăm công ngàn việc ở Kuuto, họ chẳng mấy khi có dịp gặp gỡ. Cậu đã nghe ngài ta gầm thét la mắng từ hồi lên sáu, đến nỗi sắp thành nghiện, lâu không nghe lại thấy hơi nhớ.
“Chúng ta bắt đầu thôi điện hạ, kẻo đến tối mới về tới nhà mất.” Sui-mei nói, xốc lại chiếc gùi trên lưng và giao cái làn tre cho cậu nhóc.
Soo-won nhìn lên Kye-sook. “Ngài đi không? Nếu mệt thì có thể ở lại với Hyoo-ri. Bọn ta chỉ đi quanh đây thôi.”
“Thần đi.” Người kia đồng ý hơi quá nhanh khiến cậu nhóc chưng hửng, cảm thấy không đúng phong cách Kye-sook tẹo nào. Đến cả Sui-mei cũng lộ vẻ ngạc nhiên.
“Ban nãy ngài mới phản đối quyết liệt cơ mà.”
“Thần chỉ không yên tâm với điện hạ thôi. Có cô Sui-mei thì thần không lo.” Kye-sook đáp, gỡ lấy cái làn từ tay vương tử. “Thần cũng muốn học thêm về mấy thứ cây cỏ ăn được. Lỡ đâu sau này cần dùng đến. Ngài hái đi, thần xách làn cho.”
“Ngài nói ‘sau này cần dùng đến’ là trường hợp kiểu gì cơ?”
“Thì bị lạc trong rừng, bị lưu đày, gặp nạn đói, rồi thiên tai dịch bệnh, cũng có thể là đội quân mình chỉ huy bị bao vây trong núi và quân lương cạn kiệt.” Kye-sook nhướng mày.
Soo-won mở tròn mắt. Cái con người này chỉ trong một thời gian ngắn mà đã từ chuyện rau dại nghĩ đến đủ mọi viễn cảnh đáng sợ khác rồi.
Cậu không phủ nhận rằng quả là có khả năng xảy ra những chuyện đó nếu tình hình Kouka tiếp tục như hiện tại, với người cai trị nhu nhược, đám tham quan vơ vét của cải và quân thù lăm le xâm phạm đường biên giới. Mục tiêu của Kye-sook rất thiết thực… nhưng một phần trong cậu vẫn thấy không ổn. Cậu muốn tận hưởng trọn vẹn phong tục hái rau mùa xuân như một thú vui trong kì nghỉ này, thay vì chăm chăm nghĩ đến chuyện một ngày nào đó mình sẽ gần chết đói trong rừng.
“Nào, ta hiểu ý định của ngài, nhưng ngày xuân đừng nói chuyện ảm đạm thế.” Cậu nhóc vỗ nhẹ lên tay người kia. “Vả lại sau này ta nhất định không để xảy ra nạn đói, dịch bệnh, hay binh sĩ bị vây hãm lâu ngày đến vậy. Và ta sẽ không cho Kye-sook chỉ huy bất cứ toán quân nào trên tiền tuyến hết.”
“Ngài nói sao…?” Kye-sook tái mặt.
“Nếu có chiến tranh, ta sẽ luôn giữ Kye-sook ở sát mình, tại bộ chỉ huy. Ta đã nói rồi, ta muốn có ngài làm quân sư bên cạnh. Ta sẽ không buông ngài ra đâu.” Soo-won quả quyết.
Người thanh niên hắng giọng, nhìn đi nơi khác. Lòng anh đang nặng trĩu vì chuyện Joo-doh đề nghị, nhưng câu vừa rồi của vương tử khiến anh nhẹ nhõm hơn một chút, cũng le lói một niềm mãn nguyện ngọt ngào. Anh nhất định phải trở thành người xứng đáng với sự tin tưởng ấy.
***
Dưới sự hướng dẫn (và giám sát chặt chẽ) của Sui-mei, sau khoảng hai giờ truy tìm trong phạm vi rừng đào, đến tầm xế trưa thì chiếc làn tre trong tay Kye-sook đã gần đầy. Vương tử vốn nhạy bén và tinh tường, cậu nhanh chóng tìm ra những bụi hành dại, ngò dại, diếp cá cùng những mầm dương xỉ mới mọc, ngay cả khi chúng bị cỏ um tùm che khuất. Kye-sook vừa đưa làn cho vương tử thả rau vào, vừa âm thầm ghi nhớ lời Sui-mei giảng, nhất là những thứ vừa ăn được vừa có công dụng làm thuốc.
“Hai người mệt chưa?” Sui-mei lo lắng hỏi khi họ dừng lại nghỉ dưới gốc đào. Soo-won ngồi xuống thảm cánh hoa, nới rộng cổ áo, bẻ một chiếc lá lớn gần đó quạt cho cả mình lẫn Kye-sook. Trời mùa xuân không nóng, tán đào đã chắn gần hết ánh mặt trời, song vận động quá nhiều trong một thời gian ngắn cũng đủ để mồ hôi túa ra ướt đẫm lưng áo.
“Không sao, chỉ hơi nóng thôi cô Sui-mei.” Soo-won đáp, sau khi đã uống gần nửa bình nước. Cậu nhìn chiếc làn tre đầy ắp đủ thứ, hít vào mùi thơm trong trẻo của chồi lá non mướt. “Hôm nay quả là bội thu ~”
“Cũng đủ làm một bữa. Chỉ còn thiếu một thứ, loại rau đặc biệt nhất chỉ mùa xuân mới xuất hiện.” Sui-mei nói. “Có điều để lấy được nó hơi khó khăn, và phải lên tận dốc núi cao trên kia mới có. Hai người cứ nghỉ ở đây, thần đi hái nốt thứ rau đó rồi chúng ta về.”
“Nghe hấp dẫn ghê.” Soo-won háo hức bật dậy. “Ta cũng muốn đi.”
“Không được. Điện hạ phải bảo trọng thân thể. Cây này còn có phần nguy hiểm nữa.” Vị thái y chuyển sang tông giọng mà bà chỉ dùng với những bệnh nhân bất trị cứng đầu nhất. “Thần quen đường nên sẽ nhanh thôi.”
“Cô Sui-mei nói đúng. Điện hạ đừng quá sức, lại đổ bệnh bây giờ.” Kye-sook bên cạnh cậu lên tiếng, giọng hơi mệt mỏi. Có gì đó trong tông giọng ấy khiến Soo-won không yên lòng. Cậu không dám để Kye-sook lại một mình, vì đây là dấu hiệu ngài ta đang có khuynh hướng nghĩ quẩn, mà cậu đã bắt gặp khá nhiều lần lúc ngài ta còn ôn thi.
“Được rồi, ta ở lại.” Cậu nhóc nói, hơi nuối tiếc. Cậu nhìn theo vị thái y đến khi bà khuất hẳn sau những rặng cây, tự hỏi thứ bí ẩn và nguy hiểm ấy là rau gì.
Soo-won không cần phải thắc mắc quá lâu. Khoảng nửa giờ sau, lúc cậu tưởng mình sắp ngủ đến nơi thì Sui-mei quay lại. Trong gùi có thêm một mớ búp cây kì lạ, lớn bằng hai bàn tay, phần bao ngoài khá dày, màu nâu đỏ nhạt chẳng khác nào bao da. Bên trong là những chiếc lá xẻ chân chim còn non, xanh mướt, cuộn chặt vào nhau.
“Phần ngọn non của cây bạch chỉ, nhưng ở quê thần họ gọi là ‘rau đầu cây’. Búp này chỉ có thể lấy được trong mùa xuân, để nó phát triển thành lá thì sẽ rất đắng và đầy gai. Thân cây còn nhiều gai hơn nữa, phải lấy móc khoèo xuống mới hái được ngọn, nên thần mới bảo là nguy hiểm.” Sui-mei giảng giải. “Rau đầu cây rất bổ dưỡng và có vị ngọt đặc trưng, nấu canh, trộn gỏi hay xào đều hợp.”
“Lần đầu tiên ta nghe đến.” Cậu nhóc săm soi một búp cây, đầu đã nghĩ đến bữa tiệc rau sắp tới. “Hoá ra có loại rau đặc biệt như vậy.”
Hai người nghe Sui-mei giảng thêm vài điều về công dụng của cây bạch chỉ nữa, rồi bắt đầu hành trình đến nhà vị thái y lúc trời đã gần ngả về chiều.
Họ dẫn ngựa xuôi theo con đường hẹp quanh co, vòng qua núi tới một ngôi làng nhỏ nằm dưới thung lũng, bao quanh bởi những mảnh ruộng xanh um. Hoàng hôn dần buông đỏ ối sau lưng. Nhiều nhà đã bắt đầu lên khói, mùi khói đốt rơm hoà cùng mùi cơm gạo thơm theo gió phả lại. Soo-won đã hiểu vì sao Sui-mei chọn sống ở đây. Một nơi thích hợp để ẩn cư sau tất cả những bi kịch bà chứng kiến. Vị thái y đã xin nghỉ và rời khỏi dinh thự ngay sau khi phu nhân qua đời.
Họ không cần đi quá xa, vì căn nhà của Sui-mei nằm ngay đầu làng, do một người họ hàng để lại. Nhìn không khác mấy những nhà khác trong làng, với mái lợp rơm, tường bao đá, khoảng sân đất nện, mảnh vườn nhỏ trồng đủ thứ rau hoa cùng thảo dược và hàng cây ăn quả toả bóng sau nhà. Cạnh cánh cổng gỗ cũ kĩ có một cây lê và một cây đào, cành chìa cả ra ngoài đường, hoa trên cây đã tàn một nửa.
“Nhà cửa nghèo nàn đơn sơ, mong điện hạ đừng chê.” Vị thái y nói, đẩy cổng mời hai người bước vào trước.
“Ta thích những ngôi nhà kiểu này. Chưa vào đã thấy ấm cúng.” Soo-won nói, nhìn quanh một vòng với vẻ ngưỡng mộ, bởi mọi thứ đều ngăn nắp sạch sẽ đâu vào đấy, điều cậu không bao giờ làm được. Nơi này tuy có sự thanh tĩnh của một thiền am, nhưng không hiu quạnh mà đầy sinh khí và ấm áp như một lữ quán nhỏ mà mọi khách đường xa đều ao ước.
Họ buộc ngựa vào cọc trong sân, gần hàng rào, nơi có sẵn máng nước và máng cỏ khô, vốn dành cho ngựa của những vị khách đến khám bệnh hoặc mua thuốc. Xong đâu đó, cả hai theo Sui-mei bước lên hiên, vào trong căn phòng rộng nhất, vừa là phòng khách vừa là phòng khám bệnh và bốc thuốc. Một dãy tủ thuốc sừng sững ngay đầu bên kia phòng, trên chiếc bàn dài gần tủ xếp đầy những giấy tờ, bàn tính, cân, thẻ tre, thìa gỗ, bình hũ chai lọ đủ kiểu. Nơi góc phòng là dư âm của lễ đón năm mới - một cây hồng mai nhỏ trồng trong chậu gốm tráng men, hãy còn sót lại ba, bốn bông đỏ rực, cành treo mấy chiếc lồng đèn giấy nhỏ xíu. Không gian ám nồng mùi thuốc, hoà trộn từ đủ loại thảo dược khác nhau.
“Hai người cứ ngồi nghỉ một chút. Thần sẽ đun nước tắm và chuẩn bị bữa tối ngay, nhanh thôi. Hai người đi đường cả ngày vất vả rồi.” Sui-mei nói, bưng ra một khay trà thơm và một dĩa bánh nếp nhân đậu ăn kèm, bột bánh thoang thoảng hương lá ngải cứu.
“Để ta giúp cô…” Soo-won toan chạy theo Sui-mei xuống bếp. Kye-sook cũng đứng dậy.
“Điện hạ làm ơn ngồi yên là giúp thần rồi. Làm sao thần có thể để hai người xuống bếp được.” Sui-mei lắc đầu quyết liệt. “Hay thần phải khoá cửa nhốt cả hai?”
Sui-mei tuy dịu dàng điềm đạm, nhưng vẫn có cái uy nhất định của thầy thuốc, nếu cần bà sẽ nói là làm. Hiểu rằng nếu dây dưa lâu hơn sẽ có nguy cơ bị nhốt thật, nên Soo-won và Kye-sook đành ngồi xuống lại.
Chẳng bao lâu sau, họ đã thấy làn khói rơm vấn vít toả lên. Từ gian bếp nhỏ lần lượt vọng tới tiếng chẻ củi, thổi bếp, múc nước, rồi đến tiếng dao băm đều đều trên thớt.
Soo-won để ý từ lúc rời khỏi rừng đào, Kye-sook vẫn chưa nói lời nào. Tình hình quả là bất ổn. Không thể để người kia dùng bữa trong tâm trạng dồn nén nặng nề thế này. Cậu nhóc đã tính đến đủ mọi kiểu mở lời, đủ mọi câu bóng gió để ngài ta không thấy khó chịu, nhưng cân nhắc một hồi lại thấy cứ nên đi thẳng vào trọng tâm thì hơn.
“Tướng quân Joo-doh bắt Kye-sook làm gì vậy?”
Người kia đang uống trà, nghe vậy giật bắn mình, suýt nữa thì sặc luôn. Khẽ ho vài tiếng, đặt ly trà lại vào khay, Kye-sook nhăn nhó ngẩng lên nhìn cậu. “Điện hạ không còn cách hỏi nào đỡ gây bất ngờ hơn sao?”
“Không. Bởi ta không nhịn được chuyện bị xem như người ngoài cuộc. Tướng quân thì úp úp mở mở, Kye-sook thì cứ bảo mình ổn xong giữ nguyên vẻ mặt như đưa đám suốt buổi chiều. Ta làm sao yên tâm nổi.” Soo-won tuôn một lèo.
“Điện hạ, người đang dỗi đấy à?”
“Ta không có.”
Người thanh niên nhìn cậu nhóc đang khoanh tay phồng má trước mặt. Cử chỉ này không gọi là dỗi thì còn gọi là gì nữa đây.
“Tướng quân không bắt thần làm gì hết. Ngài ấy chỉ đề xuất một việc.” Kye-sook biết có giấu nữa cũng chẳng được. Lòng dạ anh đang rối bời. “Bởi thần không ra làm quan sau khi thi đậu, nên ngài ấy nghĩ thần cần rèn luyện thêm, nếu muốn trở thành quân sư.”
“Rèn luyện kiểu gì?” Soo-won quan ngại hỏi.
“Chuyện là hôm thần dự lễ trung thu ở cung điện, có một quý tộc đã hỏi thăm tướng quân về thần, rồi nhờ ngài ấy truyền lời. Tên ông ta là Ji-hyeon(*), từng làm tham mưu cho quân đội Không tộc dưới thời vua Joo-nam, cũng có quen biết ngài Yu-hon, nay đã già nên ông ta về quê an dưỡng. Nghe nói ông ta từng đề ra một số sách lược hiệu quả, kinh nghiệm thực chiến cũng rất nhiều. Trong lúc ẩn cư ông ta quyết định biên soạn một bộ binh thư, và cần một phụ tá. Sau khi đọc bài thi của các tân khoa, ông ta muốn thần phụ giúp việc biên soạn, còn hứa với tướng quân Joo-doh sẽ dạy thêm cho thần.”
Soo-won thấy rất lạ. Lẽ ra nghe chuyện này cậu phải tự hào về “người nhà mình” như mọi khi và mừng cho Kye-sook. Nhưng tất cả những gì manh nha trong đầu cậu lúc đó là khao khát khó hiểu muốn được ném hoặc đập vỡ ly trà trước mặt, tại đây và ngay lúc này.
“Hôm trung thu đó ngài có gài cây trâm ta tặng không?” Soo-won buột miệng.
“Điện hạ, chuyện này thì liên quan gì?” Kye-sook chưng hửng.
“Liên quan đấy. Ngài có gài không?”
“Thần không nhớ là trâm gỗ hay trâm vàng. Lúc đấy thần đang mải lo cho bệnh của ngài, không để ý đến gì khác. Giờ thần chẳng còn bao nhiêu kí ức về bữa tiệc. Có khi vị này từng mời rượu thần cũng nên.”
Vương tử ôm đầu thở dài. Rõ ràng đã tính toán từ trước, vậy mà chẳng hiểu sao mọi thứ vẫn không theo ý cậu. Chỉ tại trận ốm đó mà hỏng bao nhiêu chuyện, đến giờ không ngờ vẫn còn hậu quả. Lẽ ra cậu phải ở cạnh Kye-sook trong bữa tiệc. Đã dùng trâm đánh dấu là người của dinh vương tử, vậy mà vẫn còn có quý tộc muốn chiêu mộ, lại còn chỉ đích danh, trong tình huống rất khó từ chối.
Có điều Soo-won chưa từng đặt nặng cảm xúc cá nhân. Cậu phải xem xét vấn đề một cách khách quan, suy nghĩ về những lợi ích mà lời đề nghị này sẽ mang lại. Sẽ rất tốt nếu Kye-sook được một tham mưu kì cựu chỉ dạy. Kế hoạch lớn của họ, và đội quân Không tộc sau này cần một quân sư giỏi. Trước giờ Kye-sook hầu như chỉ đọc sách, chưa từng biết đến những vấn đề nảy sinh khi thực chiến. Vì không phải người trong hoàng tộc nên ngài ta không thể theo học trực tiếp các tướng quân Ngũ tộc như cậu được.
Ngẫm lại thì đây kiểu gì cũng là chuyện tốt.
Nhưng…
“Vị Ji-hyeon đó có sống gần kinh thành không?” Soo-won hỏi.
Kye-sook lắc đầu. “Không, điện hạ. Phủ của ông ta nằm gần dãy núi giữa Thuỷ tộc và Thổ tộc. Từ đây đến đó sẽ mất ít nhất năm ngày.”
Chuyện cậu nhóc lo sợ rốt cuộc cũng trở thành hiện thực. Soo-won hít vào một hơi, cố gắng hỏi nốt. “Ông ta có nói sẽ biên soạn bộ binh thư đó trong bao lâu không?”
“Thần không rõ. Thần sẽ hỏi lại tướng quân Joo-doh.” Kye-sook lặng lẽ nói. “Ngài ấy nói thần có một tuần để suy nghĩ.”
“Ta biết tính Kye-sook, ngài sẽ không cần nhiều thời gian đến thế để suy nghĩ. Hẳn là ngài đã có câu trả lời của mình rồi.” Soo-won quyết định hỏi thẳng. “Ngài có muốn đi không?”
Người kia ngước lên lần nữa. Đôi mắt đen khuất dưới màn tóc mái tối sầm.
“Thần không biết, điện hạ.” Giọng Kye-sook hơi cao lên, như sắp vỡ vụn. “Thần không biết. Giờ thần không thể tự quyết định được. Chuyện này rồi sẽ ảnh hưởng đến đủ thứ. Biên soạn binh thư không dễ gì xong trong vòng vài tháng. Tối thiểu cũng phải hơn một năm, nhiều thì vài năm. Thần biết mình sẽ học được nhiều thứ từ người đó, sau này thần cũng sẽ có ích hơn cho điện hạ, nhưng điện hạ đã luôn bảo...”
Kye-sook bỏ lửng câu nói. Một khoảng lặng ngột ngạt treo giữa hai người, văng vẳng dư âm của câu Ta sẽ không buông ngài ra đâu mà Soo-won từng nhắc đi nhắc lại biết bao lần. Nếu giờ cả Kye-sook cũng rời đi, cậu nhóc sẽ chỉ còn lại một mình trong dinh thự rộng thênh đầy những bóng ma và những kí ức buồn.
Kye-sook đăm đăm nhìn vương tử, hi vọng ngài sẽ đưa ra một mệnh lệnh. Bất kể mệnh lệnh đó là gì, anh cũng sẽ tuân theo.
Nhưng dường như chính Soo-won cũng đang phải cân nhắc đắn đo không kém.
Sau một hồi im lặng nhìn nhau, cậu nhóc xốc lại tinh thần trước. Cậu nhoài người qua, mỉm cười vỗ vai anh. “Thôi, Kye-sook đừng nghĩ nhiều, cũng đừng dày vò bản thân. Còn đến cả tuần kia mà. Chúng ta sẽ từ từ cùng nhau suy nghĩ và đưa ra giải pháp tối ưu nhất, được không? Trước tiên cứ hỏi lại xem ông ta định biên soạn trong bao lâu, rồi tuỳ cơ ứng biến.”
“Điện hạ…”
Kye-sook còn muốn nói thêm, nhưng Sui-mei đã lên thông báo nước tắm nóng rồi, bữa tối cũng sắp xong. Mùi xào nấu thơm phức lan toả khắp các phòng, khiến người lười ăn nhất cũng phải thấy đói cồn cào.
“Bồn gỗ rộng lắm~ Kye-sook có muốn tắm chung cho tiết kiệm thời gian không?” Soo-won nhóng đầu nhìn vào phòng tắm đầy hơi nước, rồi quay lại cười tươi rói.
“Cho thần xin.” Người thanh niên xua tay, tạm quên chủ đề ảm đạm mà họ đang bàn. “Điện hạ vào trước đi, nhanh kẻo cô Sui-mei đợi.”
Bồn tắm ở đây là loại bồn gỗ kiểu cổ, có chỗ bỏ than bên dưới để giữ cho nước luôn ấm nóng. Sui-mei lại thả thêm vài thứ thảo dược trong nước nên ngâm mình xong cảm thấy rất dễ chịu, những thớ cơ tê mỏi vì đi đường suốt ngày giãn ra, tâm trạng cả hai cũng thư thái hơn vài phần.
Lau tóc xong, họ xuống phòng ăn nhỏ cạnh nhà bếp, nơi Sui-mei đã dọn sẵn bữa tối trên ba chiếc bàn gỗ tròn thấp, đầy đủ các món chiên, xào, hấp, canh, tất cả đều có nguyên liệu là rau dại tươi non họ vừa hái lúc trưa, tuy đơn giản và thanh đạm nhưng mùi vị không đâu sánh bằng. Mỗi miếng như tan trên đầu lưỡi, thơm lự hương cây cỏ và ngọt lịm vị mùa xuân ướp vào từng chồi lá. Đặc biệt là món canh sườn hầm với rau đầu cây, vị ngọt đặc biệt của rau quyện với vị ngọt của sườn làm Soo-won phải xin thêm tận ba chén.
Không biết do bữa ăn quá ngon hay do không dám để lộ chứng chán ăn trước mặt thái y, nên Kye-sook lặng lẽ ăn hết phần mình, không để vương tử phải nhắc nhở hay ép buộc như mọi khi.
“Ta bắt đầu nghĩ phải thường xuyên đến đây ăn ké thôi. Ngon chết mất ~” Soo-won cảm thán, hơi luyến tiếc vì không thể nạp thêm nữa, dù cậu có tiếng là ăn nhiều như ma đói, theo lời tướng quân Joo-doh.
“Điện hạ nói gì vậy, đây chỉ là bữa cơm đạm bạc của thường dân, làm sao sánh được với sơn hào hải vị trong hoàng tộc.” Sui-mei khẽ cười. “Nhưng thần mừng vì ngài thấy ngon miệng. Ngài đang tuổi lớn, ăn được ngủ được là tốt.”
Sau bữa ăn, cả hai cùng giúp Sui-mei dọn dẹp và pha một ấm trà khác. Họ trò chuyện một lúc, rồi vị thái y bắt đầu kiểm tra sức khoẻ từng người, hệt như bà thường làm hồi còn phục vụ trong dinh thự. Bắt mạch xong, bà viết đơn rồi bốc vài thang thuốc bổ, dặn rằng phải đem về đưa thái y trong dinh thự sắc ngay, còn đơn thuốc là để sau này cần thì có thể mua thêm. Dĩ nhiên kèm theo mớ thuốc là rất nhiều lời nhắc nhở về việc tự chăm sóc bản thân, cả về thể xác lẫn tinh thần.
Bên ngoài, trăng đã gần lên đến đỉnh trời. Họ cứ ngỡ mọi thứ đã xong xuôi và giờ có thể đi ngủ, thì Sui-mei đột nhiên nhìn qua Kye-sook.
“Cậu Kye-sook, cởi áo ra đi.”
“Dạ?” Người thanh niên mở to mắt.
“Cởi áo ra, ta còn phải kiểm tra mấy vết thương cũ của cậu. Ta đã nói rồi.”
“Nhưng…”
“Cả ta lẫn vương tử đều đã chăm sóc cậu suốt từ hồi vết thương còn chưa liền, cậu còn ngại ngần gì nữa. Cởi ra.”
Lần chần một hồi, Kye-sook cũng đành tuân lệnh. Rốt cuộc trong mắt vị thái y vốn đã biết họ từ nhỏ, giờ dù lớn đến đâu, ở địa vị nào thì vẫn là đứa trẻ. Cũng may nơi này vắng vẻ, lại không có người quen. Nếu ai đó tình cờ nghe được cuộc đối thoại trên chắc Kye-sook không dám ra khỏi nhà suốt cả năm mất.
Dù Soo-won đã nhìn khá nhiều lần, nhưng cậu chưa bao giờ quen với những vết sẹo trên tay, lưng và vai người kia. Mỗi lúc thấy, lòng cậu đều chùng xuống như ngày đầu tiên Kye-sook được cha cậu đưa về dinh thự. Hầu như chẳng còn phân da thịt nào còn nguyên vẹn. Chúng giống như được chắp vá lại, rồi được khâu vụng về bằng những đường chỉ đỏ hồng, chằng chịt như rễ cây. Cậu biết những lúc trở trời, nhất là từ thu sang đông, chúng vẫn thường xuyên tấy lên, đau nhức đến mức phát sốt, nhưng người kia chưa bao giờ hé răng than phiền nửa lời. Ngài ta luôn tìm cách giấu kín, trừ khi quá đau không cử động được.
Sui-mei kiểm tra nhanh, hỏi Kye-sook vài câu về lần tái phát gần đây nhất, rồi đưa cho ngài ta một hũ thuốc mỡ khá lớn cùng một đơn thuốc dành cho trường hợp vết thương sưng tấy quá tệ. Sau đó bà hối cả hai đi ngủ sớm mai còn lên đường về dinh thự.
Phòng ngủ dành cho khách nằm kế bên phòng thuốc, có cửa sổ nhìn ra sân, hơi hẹp nhưng ấm áp, đượm mùi thảo dược và trầm hương. Hai tấm nệm dày đã được trải sẵn, mền gối đều thoảng mùi nắng rất dễ chịu.
Soo-won lập tức kéo chăn lên đến tận cổ, hít vào mùi nắng thơm lự ướp trong thớ vải. Kye-sook thổi tắt ngọn nến mỡ cạnh cửa. Trong phòng chỉ còn ánh sáng duy nhất là những vệt ánh trăng bàng bạc xiên qua ô cửa sổ dán giấy, đổ xuống sàn gỗ như sương.
Không ngờ vừa nằm được chừng năm phút, chưa kịp trằn trọc với những suy nghĩ rối bời, người thanh niên đã lại cảm thấy tấm chăn được vén lên. Cánh tay nhỏ nhắn quen thuộc vòng qua ôm lấy anh, từ phía sau.
“Điện hạ, mỗi người một giường cơ mà, ngài còn chui vào đây làm gì.”
Cậu nhóc không đáp, chỉ ôm chặt hơn.
“Bởi vậy thần mới không muốn để lộ mấy vết sẹo đó.” Kye-sook thở hắt ra. “Lần nào nhìn thấy chúng, ngài cũng đều thế này. Chỉ là sẹo thôi, thi thoảng đau một chút, không thành vấn đề.”
Soo-won vẫn im lặng, và Kye-sook biết vẫn còn vấn đề khác nữa.
Trời khuya yên ắng đến độ người ta có thể nghe tiếng gió bứt những cánh hoa lê, hoa đào nở muộn ngoài hiên.
Giọng Soo-won cất lên cũng khẽ khàng gần như tiếng gió đêm.
“Kye-sook, ngài đi đi.”
“Điện hạ nói sao…?” Kye-sook sững người.
“Ngài hãy nhận lời vị quý tộc kia. Đi theo học hỏi ông ấy. Bao lâu cũng được. Đây là cơ hội hiếm có, không biết có còn lần thứ hai hay không. Ta biết trong thâm tâm, Kye-sook rất muốn đi.” Soo-won áp mặt vào lưng áo anh. “Ta không muốn làm vướng bận Kye-sook. Ta đã quyết định rồi. Ngài cứ đi đi.”
“Nhưng điện hạ…”
“Đừng lo cho ta. Ta có thể tự xoay sở việc ở dinh thự. Ta sẽ cố gắng học hỏi nhiều thật nhiều trong thời gian ngài đi vắng.” Cậu nhóc vừa nói vừa cười. “Kye-sook yên tâm. Ta chịu được. Chỉ cần…”
Cậu ngừng một nhịp, rồi nói nốt. “Chỉ cần khi nào biên soạn xong, Kye-sook nhớ quay về dinh thự là được. Ta sẽ chờ ngài, quân sư tương lai của ta. Bao lâu cũng chờ.”
Kye-sook vùi mặt vào gối, cố ngăn những dòng nước mắt vừa vô thức trào ra. Đứa trẻ này đã âm thầm chịu đựng bao nhiêu mất mát, bao nhiêu chia ly. Bỏ cậu đơn độc là điều cuối cùng anh muốn trên đời. Nhưng đúng như cậu nói, anh còn thiếu hụt quá nhiều kiến thức mà một quân sư cần có, và đây là cơ hội chỉ đến một lần.
“Cứ xem như đây là một chuyến du hành hơi dài.” Soo-won thì thầm. “Ta đoán cùng lắm ngài chỉ xa dinh thự một, hai năm thôi. Thời gian trôi nhanh lắm, chúng ta sẽ gặp lại sớm hơn ngài tưởng.”
“Vấn đề chính không nằm ở thần…” Kye-sook vất vả lên tiếng, giọng nghẹn lại. Nước mắt đã loang ướt một khoảng gối. Cả người anh rung lên vì cố kìm nén tiếng thổn thức. “Chính điện hạ đã bảo mình rất sợ phải cô đơn. Chính ngài đã bảo sẽ không đuổi thần đi… rằng ngài muốn có thần ở bên.”
“Không phải đuổi. Ta chỉ cho vị đó ‘mượn’ người của ta một thời gian thôi.” Soo-won bật cười, nhưng nghe chẳng có chút vui vẻ nào. “Ta nói rồi. Ta chịu được. Kye-sook cứ đi đi, đừng bận tâm về ta. Đây là mệnh lệnh.”
Dứt lời, cánh tay đang ôm chặt anh từ từ lỏng ra.
Khi Kye-sook đã lấy lại bình tĩnh, quay sang định ôm lấy cậu nhóc, thì cậu ta đã lặng lẽ trở về giường của mình tự bao giờ, và đang nằm xoay lưng lại với anh.
Nhìn từ đây, trong ánh trăng mờ tỏ, tấm lưng nhỏ bé ấy thật lẻ loi và buồn bã.
Gần sáng, trời bất chợt đổ mưa rất lớn. Hoa đào mới hôm qua còn khoe sắc rực rỡ, rạng đông hôm nay đã rơi rụng gần hết.
